Xuân Anh Phái chính thức ra mắt trong cộng đồng!
  • Thông báo


    + Trả lời Chủ đề
    Trang 4 của 4 Đầu tiênĐầu tiên ... 2 3 4
    Kết quả 61 đến 67 của 67
    1. #61
      Ngày tham gia
      Jun 2007
      Bài viết
      658
      Được cám ơn 8 lần trong 4 bài gởi

      Mặc định Re: xap

      lũ điên

      Chỉ có kinh nghiệm và may mắn mới giúp ta tồn tại và chiến thắng trên TTCK.

    2. #62
      Ngày tham gia
      Apr 2007
      Bài viết
      165
      Được cám ơn 1 lần trong 1 bài gởi

      Mặc định Re: xap














      function openWindow()**
      var location = window.location.toString() ;
      var position = location.indexOf("/istock") ;
      var prefix = location.substr(0, position) ;
      var URL = prefix+"/istock/moduleShare.rv?module=Share&action=compose&id=4380 ";
      var win = window.open(URL, "popup_window", "width=450,height=350,resizable=1,scrollbars=1 ");
      if(window.focus)
      **
      // put the focus on the popup if the browser supports the focus() method
      win.focus();
      }
      return win;
      }



      [table] Ai thèm đọc báo cáo tài chính làm gì? (P.1)(14:01 13/02/2008)



      |





      Có nhiều lý do để giới kinh doanh nước ta không thèm coi trọng kỹ năng
      đọc và phân tích báo cáo tài chính. Ai cũng biết sổ sách ghi vậy mà
      không phải vậy là chuyện phổ biến trong giới doanh nghiệp kể cả tư nhân
      và quốc doanh. |





      Bản in
      Gửi đi

      |


      Hơn
      nữa, hiện vẫn còn nhiều yếu tố quyết định thành bại của công ty hơn là
      sức mạnh tài chính của nó. Những người không thuộc giới kinh doanh lại
      càng muốn tránh xa những bản báo cáo tài chính vì quan trọng nhất là
      công ty có chịu công bố báo cáo tài chính đâu mà đọc. Với những công ty
      niêm yết trên thị trường chứng khoán, báo cáo chỉ một đường trong khi
      giá cổ phiếu diễn biến theo đường khác, không biết đâu mà lần.
      Nói
      vậy, cũng phải thừa nhận một xu hướng lành mạnh đang ngày càng trở nên
      thắng thế trong kinh doanh ở nước ta. Doanh nghiệp tư nhân muốn tiếp
      cận vốn vay ngân hàng, nhất là vốn vay ưu đãi của các tổ chức tín dụng
      quốc tế đều phải minh bạch hóa sổ sách, chuẩn bị bản báo cáo một cách
      bài bản. Muốn liên doanh hay làm đại lý cho công ty nước ngoài cũng
      phải trình bản báo cáo tài chính. Công ty quốc doanh cũng phải lập báo
      cáo tài chính theo quy định của Nhà nước.
      Riêng
      với người đọc không chuyên như chúng ta, những hiểu biết cơ bản về báo
      cáo tài chính cũng đôi lúc có lợi bất ngờ. Chẳng hạn, chúng ta hùn hạp
      vốn và giao chuyện kinh doanh cho bạn bè, cuối năm, ắt cũng phải đòi
      xem vài báo cáo tình hình kinh doanh chứ. Hoặc có người rủ hùn vốn, mở
      rộng một công ty đang hoạt động theo “quảng cáo” là rất có triển vọng,
      chúng ta cũng cần tỉnh táo xem qua các số liệu để đánh giá triển vọng
      này có thật không. Đơn giản nhất, khi đi xin việc làm, để biết chỗ làm
      chúng ta đang ngắm nghé có bền không, tốt nhất là đọc báo cáo tài chính
      của công ty ấy.
      Chuẩn
      bị bản báo cáo tài chính, thường bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo
      kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, là chuyện của kế toán.
      Tuy nhiên để phân tích được chúng, cũng cần phải biết qua một số nguyên
      tắc nhất định.
      Bảng cân đối kế toán
      Bảng
      cân đối kế toán, chụp lại tình trạng một công ty vào một thời điểm nào
      đó, thường là ngày cuối cùng trong năm, gồm hai cột: bên trái là Tài
      sản; bên phải là Nợ và Vốn. Nguyên tắc đầu tiên là cột tài sản luôn
      luôn phải bằng cột nợ cộng với vốn.
      Tài sản = Nợ + Vốn
      Giả
      thử một người bỏ ra 100 triệu thành lập công ty để kinh doanh đĩa CD,
      ngay lúc đó bảng cân đối kế toán của công ty này sẽ có hình thức như
      sau:
      Tài sản Nợ và Vốn
      Tiền mặt100 triệu Vốn 100 triệu
      ________ ________
      Tổng 100 triệuTổng 100 triệu
      Thấy
      100 triệu không đủ vào đâu, anh ta bèn vay ngân hàng 50 triệu để mua
      dàn máy nghe nhạc cho khách thử đĩa giá 30 triệu, bảng cân đối kế toán
      của anh ta sẽ là:
      Tài sản Nợ và vốn
      Tiền mặt120 triệuNợ ngân hàng 50 triệu
      Máy nghe nhạc30 triệu Vốn 100 triệu
      _______ _______
      Tổng150 triệu Tổng150 triệu

      đây, chúng ta có thể rút ra một số điểm đáng nhớ. Thứ nhất, thấy một
      công ty thiếu tiền mặt, lâm vào cảnh khó khăn, đừng bao giờ lấy bảng
      cân đối kế toán của nó ra và tuyên bố: sao không lấy ít tiền vốn ra để
      trang trải! Nói vậy, dân tài chính sẽ biết ngay chúng ta là người không
      chuyên. Vốn ghi trên bảng cân đối kế toán nằm đó nhưng đâu có tồn tại,
      nó thể hiện bằng những mục trong cột tài sản ấy.
      Thứ
      hai, nếu thấy trong bảng cân đối kế toán có mục “Lãi chưa phân phối”
      nằm trong mục vốn, đừng nghĩ công ty có thể thò tay lấy tiền từ mục này
      ra chi trả cho cổ đông. Cổ tức là lấy từ tiền mặt bên cột tài sản, lãi
      chưa phân phối ở cột nợ và vốn chỉ là con số kế toán. Dĩ nhiên khi dùng
      tiền mặt chi trả cổ tức, mục lãi chưa phân phối cũng giảm tương ứng để
      tổng hai cột phải luôn bằng nhau.
      Bước
      tiếp theo trên con đường kinh doanh băng đĩa nhạc của anh chàng chúng
      ta đưa ra làm ví dụ là mua đĩa theo giá sỉ về bán lẻ. Giả thử sau khi
      anh ta mua 100 triệu tiền đĩa, bảng cân đối kế toán sẽ như thế này:
      Tài sản Nợ và vốn
      Tiền mặt 20 triệuNợ ngân hàng 50 triệu
      Hàng trong kho 100 triệu
      Máy nghe nhạc 30 triệuVốn 100 triệu
      _______ _______
      Tổng150 triệu Tổng 150 triệu
      Hôm sau, anh ta bán hết 10 triệu tiền đĩa, giá 12 triệu, lãi được 2 triệu. Bảng cân đối kế toán nếu lập lúc này sẽ như sau:
      Tài sản Nợ và vốn
      Tiền mặt 32 triệuNợ ngân hàng 50 triệu
      Hàng trong kho90 triệuVốn 100 triệu
      Máy nghe nhạc 30 triệuLãi để lại 2 triệu
      _______ _______
      Tổng152 triệu Tổng 152 triệu
      Thấy
      làm ăn có lãi, anh ta quyết định mua thêm 50 triệu tiền băng đĩa nhưng
      vì mua sỉ nên anh được gối đầu, 2 tháng nữa mới trả, vậy là có thêm một
      mục mới trong bảng cân đối kế toán của anh ta:
      Tài sản Nợ
      Tiền mặt 32 triệuNợ ngân hàng50 triệu
      Hàng trong kho 140 triệu Các khoản phải trả 50
      Máy nghe nhạc 30 triệu Vốn 100 triệu
      Lãi để lại 2 triệu
      Tổng 202 triệu Tổng 202 triệu
      Giả
      thử hôm sau anh ta bán được 50 triệu tiền băng đĩa nhưng chưa lấy được
      tiền ngay vì ... bán chịu, bảng cân đối kế toán có thêm mục “Các khoản
      phải thu”.
      Tài sản Nợ
      Tiền mặt 32 triệu Nợ ngân hàng50 triệu
      Hàng trong kho 90 triệu Các khoản phải trả 50
      Các khoản phải thu 50 Vốn100 triệu
      Máy nghe nhạc 30 triệuLãi để lại2 triệu
      ________ _______
      Tổng 202 triệu Tổng 202 triệu


      Nguồn TBKTSG Online

      [/table]


    3. #63
      Ngày tham gia
      Apr 2007
      Bài viết
      165
      Được cám ơn 1 lần trong 1 bài gởi

      Mặc định Re: xap

      [table] Ai thèm đọc báo cáo tài chính làm gì? (P.2)(10:45 19/02/2008)



      |





      Để khỏi lập lại bảng cân đối kế toán ngày càng dài của chúng ta, xin
      lấy ngẫu nhiên một bảng cân đối kế toán của một công ty Việt Nam đang
      niêm yết trên thị trường chứng khoán, làm đơn giản lại để chúng ta cùng
      nghiên cứu. |





      Bản in
      Gửi đi

      |


      Bảng cân đối kế toán – Công ty XYZ
      Quý IV-2005


      [table]




      TÀI SẢN
      |

      SỐ ĐẦU NĂM
      |

      SỐ CUỐI KỲ
      |





      A - TÀI SẢN LƯU ĐỘNG VÀ ĐẦU TƯ NGẮN HẠN
      |

      59 691 650 059
      |

      61 646 084 095
      |





      I – Tiền
      |

      4 633 376 528
      |

      12 861 374 139
      |





      II – Các khoản phải thu
      |

      14 541 879 603
      |

      [b][img]chrome://skype_ff_toolbar_win/content/cb_transparent_l.gif" style="height: 11px; width: 7px;" class="skype_tb_img_adge" height="11">15 149 145 834903 213 53858 633 66114 161 316 965310 058 514

    4. #64
      Ngày tham gia
      Apr 2007
      Bài viết
      165
      Được cám ơn 1 lần trong 1 bài gởi

      Mặc định Re: xap














      function openWindow()**
      var location = window.location.toString() ;
      var position = location.indexOf("/istock") ;
      var prefix = location.substr(0, position) ;
      var URL = prefix+"/istock/moduleShare.rv?module=Share&action=compose&id=4283 ";
      var win = window.open(URL, "popup_window", "width=450,height=350,resizable=1,scrollbars=1 ");
      if(window.focus)
      **
      // put the focus on the popup if the browser supports the focus() method
      win.focus();
      }
      return win;
      }



      [table] Lòng tham và nỗi sợ(07:58 05/02/2008)



      |





      Với thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam, dù trải qua rất nhiều thăng
      trầm, có những thứ không hề thay đổi, đó chính là lòng tham và sự sợ
      hãi, “kẻ thù” số một của nhà đầu tư (NĐT). Trong năm 2008 này, liệu NĐT
      có khống chế được kẻ thù này để tận dụng cơ hội đầu tư chứng khoán một
      cách tốt nhất. |





      Bản in
      Gửi đi

      |


      Lòng tham và sự sợ hãi trong từng giai đoạn của TTCK
      Với
      những NĐT đến với TTCK trong những ngày đầu vẫn còn nhớ thời điểm
      VN-Index lên đến “đỉnh” vào ngày 25-6-2001 (571,04 điểm). Trong quá
      trình lên giá đó thị trường đã chứng kiến sự mua vào ồ ạt không có chọn
      lọc của NĐT, thậm chí mua vào chính những chứng khoán (CK) mà họ đã bán
      ngày hôm trước. Bởi vì NĐT có niềm tin rất mãnh liệt là cứ mua sẽ có
      lời mà không biết là có một “kẻ thù” đang khống chế NĐT đó là “lòng
      tham”. Sau đó hai năm, khi chỉ số VN-Index chạm “sàn” ở mức 130,9 điểm
      thì đến phiên một “kẻ thù” khác lại thay thế “lòng tham” để khống chế
      NĐT đó là “sự sợ hãi”. Chính kẻ thù này gây ra tâm lý trái ngược là mất
      niềm tin và kết quả là bán ra hỗn loạn.

      Năm
      2007, chỉ số VN-Index chạm “đỉnh” vào ngày 12-3-2007 là 1.171 điểm và
      đến ngày 24-1-2008 VN-Index chỉ còn 764 điểm (mất khoảng 35% giá trị).
      Tuy nhiên vẫn chưa có dấu hiệu gì nhận biết VN-Index đã xuống đến
      “đáy”. Trước ngày 12-3-2007 mọi người sẽ thấy “lòng tham” tràn ngập
      trên TTCK, CK len lỏi vào mọi tầng lớp dân cư. Người người, nhà nhà đổ
      xô đi mua CK, từ những người dân bình thường như anh xích lô, bà nội
      trợ cho đến các bác sỹ, kỹ sư... đều tranh nhau mua CK, đẩy VN-Index
      tăng đến gần 200% kể từ ngày 2-8-2006 (khi đó VN-Index đang ở “đáy” 399
      điểm). Tuy nhiên sau ngày này, “sự sợ hãi” dần dần chiếm ưu thế. Nó như
      một thứ bệnh dịch lây lan khắp thị trường và đến nay vẫn chưa có thuốc
      đặc trị.

      Thật
      ra các NĐT dù chỉ mới tham gia thị trường vẫn ít nhiều hiểu được điều
      giản dị này. Nhưng họ vẫn mắc phải và gây ảnh hưởng đến tâm lý của
      chính họ, dẫn đến thua lỗ trong đầu tư chứng khoán. Để rồi sau khi bình
      tâm lại, họ nhận thấy nếu mình bình tĩnh hơn thì đã tránh được thua lỗ
      hay ít ra cũng giảm thiểu được rủi ro.

      Làm sao để khống chế được lòng tham và sự sợ hãi?
      Đây
      là một câu hỏi khó. Bài viết này chỉ nhằm nhắc nhở NĐT biết mình đang
      chống lại “kẻ thù” nào để có những quyết định sáng suốt.

      Đầu
      tiên, NĐT phải tránh quan niệm sai lầm rằng đầu tư chứng khoán là trò
      cờ bạc. Ý nghĩa của TTCK không phải như vậy, bởi vì cờ bạc không tạo ra
      giá trị mà chỉ đơn thuần là đem tiền của người này đưa cho người khác.
      Còn đầu tư chứng khoán có những thời điểm nhiều người cùng thắng và nếu
      TTCK đi lên thì những chứng khoán trong danh mục đầu tư sẽ được gia
      tăng về giá trị chứ không phải lấy tiền của người khác bỏ vào tài khoản
      của NĐT. Thậm chí khi TTCK đi xuống với những phương pháp đầu tư hiệu
      quả NĐT không những không mất tiền mà vẫn thu được lợi nhuận như khi
      giá lên. Thực tế trong bất cứ trường hợp nào của thị trường nếu NĐT có
      một chiến lược đầu tư tốt và tâm lý ổn định NĐT vẫn có thể có một danh
      mục đầu tư mang lại lợi nhuận.

      Một
      khi loại bỏ được sự ăn thua, NĐT sẽ có cơ hội làm chủ được mình, không
      cho hai “kẻ thù” đáng sợ kia có cơ hội phát triển. NĐT sẽ mua bán có
      chiến lược chứ không để lòng tham ảnh hưởng cứ mong giá lên tới “đỉnh”
      để bán vì khó có thể xác định được đâu là “đỉnh” và bán ra hỗn loạn do
      tâm lý ăn thua muốn bán bằng mọi cách để giảm lỗ, mong “chạy” trước
      người khác.

      Ngoài
      ra, NĐT cũng cần xác định là NĐT phải làm chủ được đồng tiền chứ không
      phải để đồng tiền làm chủ mình. NĐT cần phải bắt đồng tiền làm việc cho
      mình và sinh lợi chứ không phải chạy theo nó. Như vậy khi giá lên NĐT
      sẽ tránh được việc mua ồ ạt làm thị trường tăng quá nóng để rồi khi thị
      trường giảm NĐT lại tranh nhau bán làm cho thị trường bất ổn và những
      kẻ cơ hội sẽ nhân dịp này thao túng thị trường gây thiệt hại cho đa số
      NĐT.

      TTCK năm 2008, lòng tham hay sự sợ hãi?
      Hãy
      nghe NĐT lừng danh thế giới Warren Buffett nói: “Phải biết tham lam khi
      người khác lo sợ và lo sợ khi người khác tham lam”. Trong đầu tư có
      những người thành công và cũng không ít người phải “ôm hận” (kể cả đầu
      tư bất động sản, vàng...). Điểm khác biệt cơ bản của hai dạng NĐT này
      là người đầu tư thành công không để tâm lý đám đông ảnh hưởng đến quyết
      định đầu tư của họ bởi vì “trong đầu tư, số đông không phải luôn luôn
      đúng”. Giá vàng đang ở thời kỳ cao nhất từ trước đến nay, giá bất động
      sản đã bị đẩy lên ngoài tầm với của đại bộ phận người dân, những người
      mua bất động sản đa số là mua đi bán lại còn những người có nhu cầu sử
      dụng thật sự lại đa phần không thể mua được. Ngoài ra đồng đô la Mỹ
      đang trong xu hướng giảm giá, CK lại đang trong mùa “đại hạ giá” giá
      trị của hàng hóa trên TTCK đã trở nên tốt hơn rất nhiều... Vậy kế sách
      đầu tư ở đây là gì? Kênh đầu tư nào sẽ là hiệu quả nhất?

      Hiện
      tại, nếu đầu tư vàng để “ôm” là không thích hợp (vì giá ở thời kỳ cao
      kỷ lục, có thể đổ dốc bất cứ lúc nào); còn đầu tư vào bất động sản rất
      dễ bị mua hớ bởi giá đã quá cao vượt giá trị thật, thanh khoản lại kém
      nhất trong các loại tài sản tài chính. Đồng thời chủ trương của Nhà
      nước đang “siết” lại thị trường bất động sản, vì thế khả năng sinh lời
      sẽ rất kém mà rủi ro lại cao. Như thế “lòng tham” đã lan tỏa trên hai
      thị trường này. Vậy còn TTCK, thị trường hiện đang rất ế ẩm, “sự sợ
      hãi” tràn ngập thị trường, giá CK đã rớt quá sâu và theo các chuyên gia
      kinh tế là giá CK đã xuống hơn giá trị thực. Trong khi đó Nhà nước đang
      có chính sách kích cầu, tạo thuận lợi cho TTCK, bởi vậy thượng sách đầu
      tư trong năm 2008 nhiều khả năng sẽ là đầu tư chứng khoán.




      [table]




      Nhà
      đầu tư cần phải bắt đồng tiền làm việc cho mình và sinh lợi chứ không
      phải chạy theo nó. Như vậy khi giá lên nhà đầu tư sẽ tránh được việc
      mua ồ ạt làm thị trường tăng quá nóng để rồi khi thị trường giảm nhà
      đầu tư lại tranh nhau bán làm cho thị trường bất ổn.
      |



      [/table]

      Nguồn TBKTSG


      [/table]

    5. #65
      Ngày tham gia
      Apr 2007
      Bài viết
      165
      Được cám ơn 1 lần trong 1 bài gởi

      Mặc định Re: xap

      [table] Getting Out Just In Time - Thoát đúng lúc(14:55 07/12/2007)



      |





      Sức chịu đựng của bạn bền bỉ như thế nào? Hãy hình dung ra trường hợp
      sau đây: 10% số tiền trong tài khoản của bạn đang được đưa vào đầu tư
      chứng khoán. Trong hai ngày qua, thị trường chuyển biến theo hướng bạn
      đã dự đoán nhưng hôm nay, tin tức cho biết nguyên liệu của sản phẩm bán
      chạy nhất của công ty bạn quan tâm hiện đang thiếu hụt. Phương tiện
      truyền thông đại chúng đang đưa tin về sự việc này và giá cổ phiếu bắt
      đầu giảm xuống. |





      Bản in
      Gửi đi

      |


      Mọi lợi nhuận bạn thu được đã mất sạch trong vòng một tiếng đồng hồ. Bạn sẽ làm gì đây?Bạn
      sẽ bán số cổ phiếu còn lại để bù lỗ? Hay bạn sẽ đợi xem giá cổ phiếu có
      sẽ tăng lên lại hay không? Vào những lúc thế này, điều cần thiết là bạn
      phải có một kế hoạch kinh doanh rõ rệt với một chiến lược thoát (exit)
      cụ thể.

      Công
      việc giao dịch vốn đã không chắc chắn vì bạn không baogiờ biết chính
      xác điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Đó chính là điều khiến một số nhà kinh
      doanh nhận thấy công việc này hoàn toàn hứng thú trong khi số khác lại
      cho rằng đây là một công việc rất căng thẳng. Cách xử trí trước những
      tình huống bất lợi cho cổ phiếu hoàn toàn phụ thuộc vào tính cách của
      bạn. Cách tốt nhất để bảo vệ vốn của bạn là sử dụng điểm dừng bảo vệ
      (protective stops). Khi thiết lập kế hoạch kinh doanh, bạn cần quyết
      định mức độ chịu đựng của mình. Bạn sẽ chấp nhận chịu mất bao nhiêu
      tiền trước khi thoát (exit) ra khỏi một thương vụ? Bạn có thể cài đặt
      điểm thoát (exit point)này như một lệnh bán cắt lỗ (stop loss) tự động.
      Bạn cũng có thể dùng những cài đặt tự động cho điểm dừng trên sàn giao
      dịch của mình hay tự quyết định điểm dừng.


      Tuy
      nhiên, vấn đề của quy trình bán cắt lỗ (stop loss) tự động là cho dù đó
      là một lệnh cài đặt chính thức hay tự động trên sàn giao dịch của bạn,
      thì việc thay đổi giá cả nhất thời có thể ngăn chặn bạn thoát khỏi giao
      dịch nếu điểm cắt lỗ (stop loss) của bạn không tính đến sự biến động
      tương xứng. Thật khó biết được mức độ mà một cổ phiếu sẽ tăng và sự
      giảm giá tạm thời có thể huỷ hoại cả kế hoạch giao dịch của bạn nếu
      điểm dừng bảo vệ (protective stops) không được cài đặt thích hợp. Trong
      khi đó, điểm dừng tâm lý lại có thể hữu ích hơn. Bạn có thể tự quyết
      định mức độ rớt giá của cổ phiếu trước khi bán. Khi giá cổ phiếu đến
      điểm thoát (exit point),bạn có thể quyết định liệu giá cổ phiếu giảm
      chỉ mang tính tạm thời hay cho thấy sự thay đổi xu hướng. Lúc đó, bạn
      có thể thoát (exit) khỏi thương vụ.

      Tất
      cả những điều này nghe thật dễ dàng về mặt lý thuyết, nhưng tùy theo cá
      tính của bản thân, có lẽ bạn sẽ không thể thực hiện chiến lược này.
      Chẳng hạn như nếu bạn luôn gặp khó khăn trong việc kiềm chế cảm xúc
      nhưng bạn lại đang dùng chiến thuật tự quyết định điểm dừng, bạn có thể
      sẽ gặp rắc rối trong việc đóng giao dịch khi đến điểm thoát (exit
      point). Một số người sợ hãi và vì vậy, đã không thoát khỏi giao dịch
      khi tự quyết định điềm dừng. Vì vậy, những người này sẽ phải cần đến
      chút kỷ luật trong khi thực hiện giao dịch như điểm dừng tự động hay
      lệnh bán tự động.

      Giảm
      thiểu thua lỗ là một dấu hiệu của việc giao dịch thành công. Tuy nhiên,
      không phải mọi nhà kinh doanh đều xử trí giống nhau khi phải thực hiện
      giao dịch trong tâm trạng căng thẳng. Nếu bạn muốn giao dịch sinh lợi,
      điều cần thiết là điều chỉnh cá tính của bản thân. Nếu bạn thuộc nhóm
      người bình tĩnh và kỷ luật, ngay cả trong trường hợp căng thẳng, bạn có
      thể tự quyết định điểm dừng để bảo vệ vốn. Nhưng nếu bạn là người dễ bị
      những ảnh hưởng của thị trường tác động, bạn sẽ muốn dùng điểm dừng tự
      động để bảo vệ chính mình. Tóm lại, dù bạn thực hiện theo cách nào
      chăng nữa, hãy cố giảm thiểu số tiền thua lỗ càng nhiều càng tốt bởi đó
      là cách duy nhất để bạn thực hiện giao dịch sinh lợi về lâu dài.


      Nguồn [url="http://www.phantichcophieu.vn/">

    6. #66
      Ngày tham gia
      Apr 2007
      Bài viết
      165
      Được cám ơn 1 lần trong 1 bài gởi

      Mặc định Re: xap



      [table] Một số chỉ số đánh giá tiêu chí và cơ hội đầu tư (Phần đầu) (17:26 08/12/2007)



      |





      Hiện nay, các chuyên viên tài chính Việt Nam nhận định P/E tại thị
      trường Việt Nam từ 8 - 15 lần, điều đó có nghĩa lĩnh vực tài chính ngân
      hàng hoặc các công ty có uy tín thì P/E tại thị trường Việt Nam từ 10 -
      15 lần và những lĩnh vực khác có thể dưới 10. |





      Bản in
      Gửi đi

      |


      Chỉ số P/E


      Đây
      là chỉ số phản ánh mối quan hệ giữa thị giá (giá thị trường cổ phiếu
      hiện hành) cổ phiếu với lợi nhuận sau thuế trong một năm của công ty.


      Lấy
      ví dụ từ báo cáo tài chính của Ngân hàngÁ Châu (ACB). Lợi nhuận sau
      thuế năm 1999 của ACB là 51.564 triệu đồng, chia cho tổng số cổ phiếu
      được: 151,025 đồng. Giá thỏa thuận mua bán cổ phiếu ACB (trên thị
      trường không chính thức) mới đây là 1,7 triệu đồng, vậy P/E của ACB
      bằng 1.700.000 : 151,025 = 11,25 lần.


      Chỉ
      số này được dùng khá phổ biến như một công cụ để nhà đầu tư xem xét
      mình qua chứng khoán rẻ hay đắt. P/E càng cao nghĩa là chứng khoán mua
      càng cao và ngược lại. Mặt khác, nhà đầu tư có thể mua P/E giá cao để
      hy vọng trong tương lai lợi nhuận công ty cao thì P/E lúc đó lại thấp
      như ví dụ dưới đây: lợi nhuận năm 1999 của một công ty bánh kẹo là 12,7
      tỷ, P/E là 3,4; lợi nhuận 2000 là 14,5 tỉ, P/E là 2,9.


      Nhà
      đầu tư mua cổ phiếu với P/E là 3,4 lần so với lợi nhuận là 12,7 tỉ của
      năm 1999. Nếu năm 2000 lợi nhuận là 14,5 tỉ thì nhà đầu tư mua với P/E
      chỉ còn 2,9 lần do lợi nhuận của công ty đã tăng lên và nếu năm 2001
      lợi nhuận tăng nữa thì lúc này P/E sẽ giảm nữa, khi đó nhà đầu tư này
      muốn bán ra cho nhà đầu tư khác và khi nhìn vào thì thấy tại sao nhà
      đầu tư trước mua P/E 3,4 lần thì mình cũng mua 3,4 lần được chứ. Thế là
      hoàn tất thương vụ! Nhà đầu tư trước bán được P/E là 3,4 lần (hoặc cao
      hơn nếu người mua mới chấp nhận) so lợi nhuận năm 2000 thì có nghĩa là
      họ bán cao hơn so với giá mà họ mua vào năm 1999 .


      Vấn đề là P/E bao nhiêu lần thì hình thành cuộc chơi này, ở đây có hai trường hợp xảy ra:


      - Nếu nhà đầu tư chấp nhận P/E cao thì rủi ro có thể cao do mua giá cao so với lợi nhuận công ty đạt được.


      -
      Mặt khác mua P/E cao cũng có thể rủi ro thấp, vì lúc đó công ty mua vào
      có thể là công ty có giá như công ty Coca Cola hay Hàng không Việt Nam
      chẳng hạn, các công ty này phát triển rất ổn định.


      Từ
      đó mới hình thành một biên độ chỉ số P/E cho từng loại công ty, từng
      lĩnh vực công nghiệp và từng môi trường của thị trường. Theo xu hướng
      trên thị trường chứng khoán các nước trên Thế giới thì lĩnh vực sau đây
      thường chấp nhận các chỉ số P/E cao (không kể các tập đoàn hùng mạnh):
      ngân hàng, tài chính chứng khoán, công nghệ tin học, viễn thông, công
      nghệ sinh học, các ngành sản xuất công nghiệp kỹ thuật cao.


      Hiện
      nay, các chuyên viên tài chính Việt Nam nhận định P/E tại thị trường
      Việt Nam từ 8 - 15 lần, điều đó có nghĩa lĩnh vực tài chính ngân hàng
      hoặc các công ty có uy tín thì P/E tại thị trường Việt Nam từ 10 - 15
      lần và những lĩnh vực khác có thể dưới 10.


      Tuy
      nhiên, bạn hãy cứ nghĩ xem, nếu công ty không có lợi nhuận điều đó có
      nghĩa là lợi nhuận âm, thì thị giá cổ phiếu chia cho lợi nhuận trong
      một năm là con số âm thì làm sao mà có chỉ số P/E được .


      Do
      đó, P/E chỉ là một số tương đối, nhà đầu tư cũng cần phải đánh giá thêm
      các chỉ số tài chính khác có liên quan mang tính kỹ thuật nhiều hơn.


      Phân tích EPS


      EPS
      có thể hiểu đơn giản là một chỉ số nhằm đánh giá bản thân công ty tạo
      khả năng sinh lời từ đồng vốn của cổ đông đáng góp. Đây là chỉ số đánh
      giá trực tiếp phản ánh hoàn toàn nội tại của công ty về khả năng tạo ra
      lợi nhuận ròng (lợi nhuận có thể dùng chi trả cho cổ đông) trên một cổ
      phần mà cổ đông đóng góp vốn chứ không từ việc lên hay xuống giá cổ
      phiếu công ty trên thị trường chứng khoán. Chỉ số EPS càng cao thì công
      ty tạo ra lợi nhuận cổ đông càng lớn và ngược lại. Ví dụ, nếu đạt 5.000
      đồng trên một cổ phần thì điều đó có nghĩa là công ty tạo ra lợi nhuận
      là 5% trên vốn góp cổ đông (giả sử mệnh giá một cổ phần là 100.000
      đồng).


      Như
      vậy, nếu một công ty chỉ đạt EPS khoảng 8 - 9% một năm thì chỉ bằng lãi
      suất tiền gửi ngân hàng thì bạn có nên mua không, đó là điều bạn phải
      cân nhắc trước khi quyết định đầu tư. Nếu bạn mua thì có hai trường hợp
      xảy ra:


      -
      Một là bạn biết và hy vọng là công ty trong thời gian tới có thể tăng
      lợi nhuận do nhiều lý do như công ty đang mở rộng thị trường, đưa vào
      thị trường sản phẩm mới, nâng cấp bộ máy quản lý đạt hiệu quả hơn...
      Đây là một quyết định phản ánh thực tế công ty.


      -
      Hai là bạn thấy rằng trên thị trường chứng khoán, tâm lý các nhà đầu tư
      khác quan tâm nhiều đến việc mua cổ phiếu công ty này có thể có lý do
      là công ty được ưa chuộng, có ngành nghề kinh doanh "hợp thời" ví như
      cơn sốt của công ty Dot Com (công ty Internet) trên thế giới vậy.


      Nói
      tóm lại, nếu công ty đạt được mức EPS từ 15% - 35% là tỉ lệ tương đối
      phổ biến tại Việt Nam, nó phản ánh tính ổn định trong hoạt động kinh
      doanh và giá vốn chấp nhận được của thị trường vốn. Ví dụ các công ty
      cổ phần dưới đây:









      [table]




      Công Ty (Năm 1999)
      |

      EPS (đồng)
      |

      EPS (%)
      |




      Ngân hàng ABC |

      151.000
      |

      15,1
      |




      Cty CP Văn hóa Phương Nam |

      24.500
      |

      24,5
      |




      Cty Bánh kẹo BIBICA |

      50.800
      |

      50,8
      |




      Cty CP SACOM |

      21.000
      |

      21,0
      |




      Cty CP REE |

      5.300
      |

      5,3
      |



      [/table]

      Đánh giá tỷ lệ ROE


      Làm
      thế nào nhà đầu tư đánh giá được khả năng sinh lợi của đồng vốn sở hữu
      cổ đông để có thể thấy được một đồng vốn tạo khả năng bao nhiêu đồng
      lời và tỷ lệ sinh lời của nó để quyết định đầu tư công ty X này mà
      không đầu tư vào công ty Y khác có cùng ngành nghề?.


      Chúng
      ta đã tìm hiểu chỉ số EPS, có liên quan mật thiết đến việc xác định khả
      năng sinh lời của công ty trên một cổ phần mà nhà đầu tư mua vào. Chỉ
      số này chưa phản ánh một cách chính xác khả năng sinh lời từ toàn bộ
      vốn sở hữu cổ đông mà vốn này ngoài vốn góp cổ đông dưới dạng cổ phần
      còn bao gồm có thể là lợi nhuận để lại các quỹ phát triển kinh doanh,
      chênh lệch phát hành... Phản ánh khá chính xác các khả năng đó chính là
      ROE (return on equity) trị giá biểu thị bằng tỷ lệ phần trăm (%).


      Trị
      giá ROE được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng (net income) theo niên
      độ kế toán (từ 1 tháng 1 đến 31 tháng 12) sau khi đã trả cổ tức cho cổ
      phần ưu đãi nhận cổ tức nhưng trước khi chi trả cổ tức cho cổ phần
      thường chia cho toàn bộ vốn sở hữu chủ, tức tài sản ròng vào lúc đầu
      niên độ kế toán.


      Chỉ
      số này là thước đo chính xác nhất để bạn đánh giá một đồng vốn của cổ
      đông bỏ ra và tích luỹ được (có thể lợi nhuận để lại) tạo ra bao nhiêu
      đồng lời. Từ đó nhà đầu tư có cơ sở tham khảo khi quyết định mua công
      ty X hay công ty Y có cùng ngành nghề với nhau.


      Tỷ
      lệ ROE càng cao chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông,
      điều này có nghĩa công ty cân đối một cách hài hoà giữa đồng vốn cổ
      đông với đồng vốn vay (vì nếu vay nhiều thì phải trả lãi vay làm giảm
      lợi nhuận) để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trên thị trường để
      tăng doanh thu, tăng lợi nhuận.


      Tỷ lệ này giúp cho nhà đầu tư đánh giá công ty ở góc độ như sau:


      *
      Khi công ty chỉ đạt tỷ lệ ROE tương đương với lãi vay ngân hàng (khoảng
      10%/năm) thì ở mức độ đánh giá tương đối, bạn hãy xem lại khả năng sinh
      lời của công ty này vì nếu công ty nào cũng chỉ sinh lời ở mức này thì
      sẽ không có công ty nào đi vay ngân hàng vì lợi nhuận từ vốn vay chỉ đủ
      để trả lãi vay ngân hàng. Tất nhiên ở đây chỉ đặt trường hợp công ty
      chưa vay ngân hàng.


      *
      Khi công ty đạt tỷ lệ ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì bạn nên tìm
      hiểu xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh
      trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty có tiềm năng tăng tỷ lệ
      này hay không trong tương lai. Nếu còn mở rộng được thị phần thì cần
      thêm vốn, vốn này có thể vay và công ty vẫn có thể có lời sau khi trả
      lãi cho khoảng vốn vay này.


      Tuy
      nhiên, vay vốn ngoài việc trả lãi còn phải trả gốc cho nên ảnh hưởng
      rất nhiều đến yếu tố thanh khoản công ty, vì vậy cân đối vốn vay và vốn
      cổ đông cũng là bài toán quản lý của công ty.


      *
      Ngoài ra, tỷ lệ này cũng giúp cho nhà đầu tư đánh giá các công ty trong
      cùng một ngành nghề để ra quyết định lựa chọn đầu tư một trong số các
      công ty có cùng ngành nghề đó, phương thức lựa chọn tất nhiên vẫn là tỷ
      lệ ROE cao, vì như đã nói ở trên thì ROE của công ty càng cao thì có
      khả năng tăng lợi thế cạnh tranh càng mạnh, khi đó lợi thế cạnh tranh
      của các công ty khác sẽ bị giảm xuống.


      Dưới đây là bản đánh giá ROE của một số công ty:









      [table]




      Tên CTY
      |

      Ngành nghề
      |

      ROE 1999 (%)
      |




      Sacombank |

      Ngân hàng
      |

      11,53%
      |




      Ngân hàng TMCP á Châu |

      Ngân hàng
      |

      13,95%
      |




      Procter & Gamble (Mỹ) |

      Hàng tiêu dùng
      |

      32%
      |




      Unilever Plc (Anh) |

      Hàng tiêu dùng
      |

      55%
      |



      [/table]










      Nguồn BSC
      [/table]

    7. #67
      Ngày tham gia
      Apr 2007
      Bài viết
      165
      Được cám ơn 1 lần trong 1 bài gởi

      Mặc định Re: xap














      function openWindow()**
      var location = window.location.toString() ;
      var position = location.indexOf("/istock") ;
      var prefix = location.substr(0, position) ;
      var URL = prefix+"/istock/moduleShare.rv?module=Share&action=compose&id=2638 ";
      var win = window.open(URL, "popup_window", "width=450,height=350,resizable=1,scrollbars=1 ");
      if(window.focus)
      **
      // put the focus on the popup if the browser supports the focus() method
      win.focus();
      }
      return win;
      }



      [table] Một số chỉ số đánh giá tiêu chí và cơ hội đầu tư (Phần cuối) (09:28 09/12/2007)



      |





      Hiện nay, các chuyên viên tài chính Việt Nam nhận định P/E tại thị
      trường Việt Nam từ 8 - 15 lần, điều đó có nghĩa lĩnh vực tài chính ngân
      hàng hoặc các công ty có uy tín thì P/E tại thị trường Việt Nam từ 10 -
      15 lần và những lĩnh vực khác có thể dưới 10. |





      Bản in
      Gửi đi

      |


      Phân tích chỉ số Yield để đầu tư chứng khoán


      Chỉ
      số Current Yield (Tỷ suất thu nhập trên thời giá cổ phần) là một công
      cụ giúp nhà đầu tư tự quyết định cho mình nên chọn đầu tư vào doanh
      nghiệp nào?...


      Chỉ
      số Current Yield (Hay người ta thường gọi là Yield) là gì? Đây là chỉ
      số dùng để phản ánh mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ
      công ty với giá cổ phiếu mà nhà đầu tư mua vào nó là tỷ lệ cổ tức mà cổ
      đông nhận được trên giá chứng khoán mà cổ đông đó mua vào.


      -
      Phân tích mối quan hệ giữa cổ tức nhà đầu tư nhận được từ công ty và
      giá nhà đầu tư mua cổ phiếu, chúng ta thấy có hai trường hợp sau đây:


      + Trường hợp 1:
      Nếu nhà đầu tư mua chứng khoán xong rồi chờ chứng khoán lên giá để
      hưởng chênh lệch gọi là lãi vốn (capital gain) thì nhà đầu tư sẽ không
      quan tâm gì nhiều đến Yield. Lúc này Yield không có ý nghĩa gì thực sự
      quan trọng với họ so với các chỉ số P/E, EPS như đã đề cập trong bài
      trước.


      Trong
      trường hợp này, các nhà đầu tư đã phân tích mối quan hệ giữa Yield và
      EPS. Nếu Yield thấp, ép cao thì họ hy vọng công ty sử dụng phần lợi
      nhuận để tái đầu tư tăng lợi nhuận cho các năm tiếp theo giúp P/E giảm.
      Lúc này họ dễ dàng bán lại cổ phiếu với P/E cao để có lãi vốn.


      + Trường hợp 2:
      Nếu nhà đầu tư mua chứng khoán để đầu tư lâu dài (như để mua làm của)
      thì tất nhiên họ sẽ quan tâm tới việc thu lợi nhuận hàng năm, hàng quý.
      Lúc này chỉ có cổ tức họ thu được. Khi đó Yield là mục tiêu chính để họ
      quan tâm.


      Khi
      công ty chia cổ tức cao có nghĩa là không cần sử dụng lợi nhuận để lại
      có thể do: công ty sử dụng vốn vay công ty chưa có kế hoạch mở rộng sản
      xuất hoặc thị phần công ty đã bão hoà. Khi đó lợi nhuận không được dự
      đoán tăng nhiều trong năm tới đồng nghĩa P/E không giảm nhiều dẫn đến
      việc các nhà đầu tư không hy vọng sẽ tăng giá cổ phiếu của mình trong
      tương lai.


      Thông
      thường lợi nhuận thu được từ cổ tức công ty trả thấp hơn nhiều so với
      lợi nhuận thu được từ việc bán cổ phiếu. Ví dụ như công ty Cơ điện lạnh
      (REE) từ ngày cổ phần hoá đến nay cổ tức nhà đầu tư nhận được chỉ là
      283% trên mệnh giá cổ phần (một trăm ngàn đồng) trong khí đó tăng giá
      cổ phiếu là 1350% có nghĩa tăng 4,7 lần. Do vậy đối với các nhà đầu tư
      chứng khoán trên thị trường thì điều quan tâm duy nhất của họ chỉ là
      lãi vốn có nghĩa trong Đại hội cổ đông hàng năm để quyết định chia cổ
      tức thì họ thường bỏ phiếu không chia cổ tức nhiều.


      Nói
      tóm lại khi đầu tư bạn nên tìm hiểu và đánh giá hết các loại chỉ số
      phân tích để có một cái nhìn tổng thể hơn mối quan hệ của các chỉ số
      này đẻ ra quyết định đầu tư cho chính xác. Kỳ sau chúng tôi sẽ giúp bạn
      đi sâu phân tích thêm các mối quan hệ giữa tài sản công ty và tài sản
      cổ đông để bạn không nhầm lẫn giữa cái bề thế bên ngoài và cái bản chất
      tài sản thật bên trong của công ty.


      Chỉ số NAV (Net Asset value) là gì? Cách tính NAV và đánh giá chỉ số một cách khách quan


      Chỉ
      số NAV có liên quan mật thiết đến việc xác định giá trị tài sản công ty
      và tài sản cổ đông. Từ đó nhà đầu tư sẽ không bị nhầm lẫn giữa cái bề
      thế bên ngoài và cái bản chất tài sản thật bên trong của công ty.


      Thông
      thường nguồn vốn công ty cấu thành chính bởi nguồn vốn sở hữu của cổ
      đông và nguồn vốn vay. Các nguồn vốn nay tạo cho công ty các tài sản
      như: máy móc thiết bị, nhà xưởng... và các tài sản lưu động khác phục
      vụ cho hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty. Do đó có lúc công ty
      có vốn cổ đông (hay gọi là vốn điều lệ) thấp như tài sản thể hiện bên
      ngoài lớn thì chưa chắc đó là tài sản hình thành từ vốn cổ đông đóng
      góp mà có thể một phần từ vốn vay. Nguồn vốn sở hữu của cổ đông được
      gọi là Giá trị tài sản thuần của công ty, giá trị này chính là chính là
      chỉ số NAV (Net Asset Value).


      Giá
      trị tài sản thuần NAV bao gồm: Vốn cổ đông (vốn điều lệ) vốn hình thành
      từ lợi nhuận để lại. Vốn chênh lệch do phát hành cổ phiếu ra công chúng
      cao hơn mệnh giá (Share Premlum) lỗ trong hoạt động kinh doanh và các
      quỹ dự trữ phát triển dự phòng.


      Người
      ta thường sử dụng chỉ số NAV/Share (giá trị thuần của mỗi cổ phiếu phát
      hành) để đánh giá trị cổ phiếu trên sổ sách và giá cổ phiếu mua vào chỉ
      số này được tính bằng cách lấy tổng giá trị vốn sở hữu (tổng tài sản
      trừ cho bất cứ tài sản vô hình nào trừ tất cả nợ và chứng khoán trái
      phiếu có quyền đòi ưu tiên) chia cho tổng số cổ phần phát hành.


      Chỉ số này giúp cho nhà đầu tư đánh giá công ty khi đầu tư ở một số khía cạnh như sau:


      -
      Giả sử công ty có phần mệnh giá là 100.000 đồng mà NAV là 120.000 chẳng
      hạn thì có nghĩa là công ty đã tích luỹ vốn để sản xuất có thể từ nguồn
      lợi nhuận để lại phát hành chênh lệch... Như vậy nhà đầu tư mua cổ phần
      với giá 120.000 đồng thì họ vẫn mua đúng với giá trị thật trên sổ sách
      của nó.


      -
      Nếu NAV là 120.000 đồng nhưng lợi nhuận công ty đạt được cao thì nhà
      đầu tư cũng có thể mua cổ phiếu với giá cao hơn NAV để mong lợi nhuận
      gia tăng khi đó sẽ có chia cổ tức có tích luỹ và NAV sẽ tiếp tục tăng
      nữa trong thời gian tới.


      -
      Nếu NAV là 120.000 đồng nhưng công ty vẫn đang lỗ có nghĩa sẽ tiếp tục
      giảm NAV thì bạn có quyết mua với 120.000 đồng hay cao hơn không. Đây
      là quyết định khó khăn và rủi ro nhất nó phụ thuộc nhiều vào việc đánh
      giá phân tích của nhà đầu tư về công ty ở nhiều khía cạnh thông tin
      chính xác về công ty tương lai để quyết định.Ởđây chỉ có một nguyên
      tắc đơn giản mà nhà đầu tư chấp nhận đầu tư đó là "lợi nhuận cao thì
      rủi ro cao".


      Nói
      tóm lại NAV là thước đo bảo thủ nhất để nhà đầu tư quyết định mua cổ
      phiếu của công ty theo giá trị thực của công ty. Trong thực tế điều chú
      trọng nhất vẫn là vấn đề "lợi nhuận" luôn được đặt lên hàng đầu vì đó
      là cơ sở chính để đánh giá khả năng sinh lời của việc sử dụng đồng vốn
      của công ty.





      Nguồn BSC
      [/table]

    Thông tin của chủ đề

    Users Browsing this Thread

    Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)

       

    Similar Threads

    1. Trả lời: 0
      Bài viết cuối: 03-10-2006, 01:16 AM
    2. Trả lời: 0
      Bài viết cuối: 30-05-2006, 10:15 AM
    3. Trả lời: 0
      Bài viết cuối: 05-04-2006, 02:19 PM
    4. Đấu giá công ty thức ăn chăn nuôi Bạc Liêu
      By thangqn in forum Thị trường OTC
      Trả lời: 0
      Bài viết cuối: 23-02-2006, 09:32 AM
    5. Trả lời: 0
      Bài viết cuối: 01-01-1970, 07:00 AM

    Bookmarks

    Quyền viết bài

    • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
    • Bạn Không thể Gửi trả lời
    • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
    • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình