Chủ đề: Góc bình loạn - Perochan
Threaded View
-
24-05-2009 04:57 PM #10
Re: Góc bình loạn - Perochan
Hầu hết các nhà đầu tư đều phải lãnh hậu quả do đặt niềm tin sai lầm vào con đường dẫn đến những thương vụ thành công.
Có 7 sai lầm thường gặp nhất và chúng được gọi là
“sai lầm chết người” trong lĩnh vực đầu tư. Trên con đường thành công
của các nhà đầu tư bậc thầy như Warren Buffett và George Soros không
bao giờ xuất hiện những sai lầm này. Nếu muốn loại bỏ nó, trước tiên
chúng ta cần xét xem chúng sai ở điểm nào.
Sai lầm thứ nhất[/b]: Tin rằng việc dự đoán động thái kế tiếp của thị trường chắc chắn sẽ mang về những khoản lợi nhuận khổng lồ.
Thực tế là các nhà đầu tư, kể cả những người thành công nhất, cũng không hề giỏi hơn bạn trong việc dự đoán thị trường.
Chắc hẳn bạn còn nhớ thời điểm một tháng trước vụ sụp
đổ thị trường chứng khoán New York vào tháng 10 năm 1987, ảnh của
George Soros đã xuất hiện trên bìa tạp chí Fortune[/i]
với thông điệp sau: “Việc các loại cổ phiếu của Mỹ liên tục tăng giá và
vượt ra khỏi những ước tính cơ bản về giá trị không có nghĩa là sau đó
chúng phải tụt dốc nhanh chóng. Thị trường được định giá quá cao không
có nghĩa là không bền vững. Nếu muốn biết cổ phiếu của Mỹ có thể được
định giá cao đến mức nào, bạn hãy nhìn vào nước Nhật”.
Trong khi vẫn đang nói về tình hình tăng giá các loại
chứng khoán của Mỹ, ông lại linh cảm về một sự sụp đổ sắp xảy ra… ở
Nhật. Sau đó, vào ngày 14/10/1987, ông còn nhắc lại quan điểm này trên
tờ Financial Times[/i].
Chỉ một tuần sau thôi, Quỹ Quantum của Soros bị thiệt
hại hơn 350 triệu đôla khi thị trường chứng khoán của Mỹ (chứ không
phải của Nhật) sụp đổ. Lợi nhuận cả năm đã lặng lẽ ra đi chỉ trong vài
ngày. Qua sự việc này, Soros đã thừa nhận: “Thành công về tài chính của
tôi đối lập hoàn toàn với khả năng của tôi trong việc dự đoán tình
hình”.
Còn Buffett thì sao? Ông hoàn toàn không quan tâm đến
việc thị trường sẽ đi về đâu và cũng chẳng có chút hứng thú nào với các
dự báo. Đối với ông thì việc “dự báo trước có thể tiết lộ nhiều điều về
người dự báo, chứ không cho biết gì về tương lai sắp tới”.
Các nhà đầu tư thành công không bao giờ quyết định bỏ
vốn nếu chỉ dựa vào những thông tin dự báo về các động thái kế tiếp của
thị trường. Trên thực tế, Buffett và Soros là những người đầu tiên
khẳng định rằng nếu họ phụ thuộc vào các dự báo về thị trường, thì chắc
chắn là họ đã phá sản từ lâu rồi.
Không ít người cho rằng việc dự báo chẳng qua chỉ là
trò kiếm cơm của mấy tờ báo về đầu tư nhằm tiếp thị cho các quỹ tương
hỗ, và chúng không thể mang đến thành công cho các vụ đầu tư.
Sai lầm thứ 2[/b]:
Đặt trọn niềm tin vào các “chuyên gia tư vấn” do tuân theo suy nghĩ:
“Nếu tôi không thể dự đoán được thị trường thì sẽ có người làm được
điều đó, và tôi chỉ cần tìm cho ra người này”.
Thực tế là nếu thật sự bạn có thể dự đoán tương lai,
liệu bạn có leo lên nóc nhà và hét toáng lên cho mọi người biết về khả
năng kỳ diệu đó không? Hay bạn sẽ giữ kín thông tin đó để rồi mở một
dịch vụ môi giới nhằm kiếm được một số tiền kếch xù từ những gì mình
biết được?
Khi đưa ra dự đoán về “một vụ sụp đổ sắp xảy ra trên
thị trường chứng khoán”, Elaine Garzarelli cũng chỉ là một trong số
hàng ngàn chuyên gia xử lý số liệu ở New York . Điều đáng nói là dự báo
này được đưa ra vào ngày 12 tháng 10 năm 1987, chỉ một tuần trước “Ngày
thứ hai đen tối” - ngày mà chỉ số của Sàn Giao dịch Chứng khoán New
York giảm hơn 22%.
Thế là chỉ trong phút chốc, Elaine Garzarelli trở
thành một nhân vật nổi tiếng và được nhắc đến liên tục trên các phương
tiện truyền thông đại chúng. Chỉ trong vài năm, bà đã có được một gia
tài lớn nhờ tiếng tăm của mình.
Phải chăng Elaine Garzarelli đã làm giàu bằng cách
thực hiện các thương vụ đầu tư theo đúng như những gì bà đã khuyên
người khác? Không phải đâu. Sau sự kiện kể trên, bà trở thành một trong
những chuyên gia tư vấn có mức lương cao nhất nước Mỹ (ước đoán khoảng
1.5 đến 2 triệu đôla một năm). Tiền cứ thế đổ về Quỹ tương hỗ mà bà là
một trong những người tham gia đồng sáng lập và chưa đầy một năm, tổng
số tiền đã lên đến con số 700 triệu đôla. Mức quản lý phí 3%, tức 21
triệu đôla mỗi năm, sau khi chia lại cho anh em nhà Shearson Lehman –
những người đồng sáng lập và các cộng sự, cũng giúp bà thu về một khoản
tiền không nhỏ. Ngoài ra, năm 1996, bà còn phát hành một bản tin đầu tư
và ngay lập tức có hơn 82.000 người đăng ký đặt mua dài hạn.
Vậy là những lợi ích kinh doanh từ địa vị của một
chuyên gia tư vấn đã giúp chính Elaine Garzarelli cũng như anh em nhà
Shearson làm giàu, chứ không hề giúp gì nhiều cho những người làm theo
lời khuyên của bà.
Đến năm 1994, các cổ đông đã bỏ phiếu đồng ý giải thể
Quỹ tương hỗ của bà với lý do hiệu quả hoạt động của quỹ thấp đến mức
không thể chấp nhận được. Doanh thu trung bình trong suốt thời gian quỹ
hoạt động chỉ đạt 4,7% mỗi năm, so với con số 5,8% của S&P 500.
17 năm sau khi lọt vào tâm điểm chú ý của giới đầu
tư, Elaine Garzarelli vẫn duy trì được sự nổi tiếng của mình, thậm chí
ngay cả khi quỹ tương hỗ của bà đã ngừng hoạt động, bản tin của bà
không còn ăn khách nữa và những dự đoán của bà đã không còn giá trị.
Chẳng hạn vào ngày 21/7/1996, khi chỉ số Dow Jones
đang ở mức 5.452, bà lại tiên đoán nó có thể nhanh chóng tăng lên đến
6400. Vậy mà chỉ hai ngày sau, bà lại tuyên bố những lời hoàn toàn trái
ngược: “Thị trường chứng khoán có thể rớt giá xuống từ 15% đến 25%”.
Đó chỉ là 2 trong số 14 lời dự đoán công khai của bà
từ năm 1987 đến năm 1996 được các tờ Wall Street Journal, Business Week
và The New York Times ghi chép lại. Trong số 14 dự đoán đó, chỉ có 5 dự
đoán là chính xác mà thôi.
5/14 - tỷ lệ thành công của Elaine Garzarelli là 36%.
Nếu thế thì bạn cũng có thể làm tốt hơn và kiếm được nhiều tiền hơn chỉ
bằng cách tung một đồng xu. Ít ra thì trong trường hợp đó, tỷ lệ thành
công của bạn sẽ là 50%. Và Elaine Garzarelli chỉ là một trong số hàng
loạt những chuyên gia phân tích thị trường tại Wall Street - đến rồi
lại đi. Bạn còn nhớ Joe Granville không? Vào đầu thập niên 1980, ông
từng là người rất được báo giới yêu mến. Chỉ sau khi chỉ số Dow Jones ở
vào khoảng 800 điểm năm 1982, và ông khuyên mọi người nên bán bớt cổ
phiếu đi, thiện cảm đó mới thay đổi.
Năm 1982 là năm đánh dấu sự khởi sắc và tăng giá đều
đặn của thị trường chứng khoán kéo dài suốt nhiều năm ở thập niên 1980.
Tuy nhiên, Granville vẫn tiếp tục khuyến cáo mọi người hãy nhanh chóng
bán bớt cổ phiếu. Đến khi chỉ số tăng lên đến 1.200, Granville phải rút
lui để nhường chỗ cho Robert Prechter – người đã tiên đoán chính xác đà
đi lên của thị trường trong thời kỳ này.
Thế nhưng sau vụ sụp đổ năm 1987, thị trường đã chững
lại và các chuyên gia lại dự đoán rằng chỉ số Dow Jones sẽ ở vào khoảng
400 điểm vào đầu thập niên 1990.
Sự bùng nổ của lĩnh vực thương mại điện tử vào thập
niên 1990 đã làm xuất hiện hàng loạt “nhà tiên tri” trên các phương
tiện truyền thông đại chúng. Tuy nhiên, hầu hết trong số họ đã không
còn được nhắc đến sau khi NASDAQ – sàn giao dịch chứng khoán của các
công ty thương mại điện tử – bắt đầu tụt dốc vào tháng 3/2000.
Nếu thật sự ai đó có thể dự đoán chính xác và nhất
quán về thị trường, thì có lẽ anh ta (hoặc cô ta) đã thoát khỏi sự săn
đuổi gắt gao của giới truyền thông trên thế giới. Một nhà hiền triết đã
rất đúng khi nói: “Rất khó dự đoán, đặc biệt là khi điều dự đoán đó
liên quan đến tương lai”.
Những chuyên gia tư vấn trên các phương tiện truyền
thông kiếm tiền thông qua các buổi nói chuyện về những vụ đầu tư, bán
lời khuyên của họ, hay nhờ vào phí dịch vụ quản lý tiền bạc cho khách
hàng. Nhưng như John Train đã đặt vấn đề trong cuốn sách The Midas
Touch (Cái chạm tay hóa vàng) thì “người khám phá ra cách biến chì
thành vàng chưa chắc có thể nói cho bạn bí quyết để làm ra được 100
đôla mỗi năm”.
Đó chính là lý do tại sao Buffett, Soros và những nhà
đầu tư bậc thầy khác biết biến các vụ đầu tư thành tiền bạc, nhưng hiếm
khi họ nói về những việc mình đang làm hoặc về những điều họ đang suy
nghĩ về thị trường. Thậm chí, họ còn rất hiếm khi nói cho các nhà đầu
tư của mình biết về những dự định và hành động của họ đối với số tiền
của các nhà đầu tư đó.
Sai lầm thứ 3:[/b] Tin rằng “thông tin nội gián” sẽ đem lại nhiều cơ hội thành công nhất.
Thực tế là: Cho đến nay, Warren Buffett được xem là
nhà đầu tư giàu nhất thế giới. Các bí quyết đầu tư của ông thường được
công bố trong các bản báo cáo hàng năm của công ty. Bất cứ nhà đầu tư
nào cũng có thể tiếp cận và tìm hiểu những bản báo cáo đó để tự giải
đáp thắc mắc về thành công của ông.
George Soros từng được mệnh danh là “Người phá sập
ngân hàng Anh” khi ông giành được chiến thắng trong vụ đầu tư trị giá
10 tỷ đôla vào đồng bảng Anh.
Thật ra không phải chỉ có mình ông biết điều đó, và
ông cũng không phải là người duy nhất thu lãi lớn trong vụ đầu tư này.
Bất cứ nhà đầu tư nào biết xem xét và phân tích vấn đề đều sẽ nhận ra
những dấu hiệu chứng tỏ đồng bảng Anh sắp mất giá. Hàng trăm, nếu không
muốn nói là hàng ngàn doanh nhân khác cũng có thể kiếm được món tiền
lớn như thế khi đồng bảng Anh thật sự mất giá so với đồng đôla. Thế
nhưng chỉ có Soros biết nắm bắt cơ hội này và biến cơ hội đó thành 2 tỷ
đôla lợi nhuận.
Dựa vào danh tiếng và uy tín sẵn có mà hiện nay cả
Buffet và Soros đều dễ dàng tiếp cận với những người có địa vị cao
trong giới tài chính, kinh doanh và cả các nhân vật quan trọng trong xã
hội. Tuy vậy, khi mới bước chân vào lĩnh vực đầu tư, họ chỉ là những
người bình thường và không nhận được sự bất kỳ sự đón tiếp đặc biệt
nào. Mặt khác, tiền lãi đầu tư của cả Buffett và Soros vào thời điểm
khi họ còn chưa được nhiều người biết đến lại cao hơn hiện nay. Vì thế,
việc trông chờ vào nguồn thông tin nội gián dưới bất cứ hình thức nào
đều không giúp ích gì nhiều cho các nhà đầu tư.
Buffett cũng nói: “Với một triệu đôla và đầy đủ những
thông tin nội gián cần thiết, bạn có thể trở nên khánh kiệt chỉ trong
vòng một năm”.
Sai lầm thứ tư:[/b] Đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Thực tế là: Có thể nói rằng khối tài sản khổng lồ mà
Warren Buffett đang sở hữu hiện nay bắt nguồn từ việc xác định một vài
công ty có tiềm năng, rồi chỉ tập trung đầu tư vào những công ty ấy mà
thôi.
Theo George Soros, điều quan trọng không phải là việc
bạn hiểu đúng hay sai về thị trường, mà chính là số tiền bạn có được
khi thực hiện suôn sẻ một thương vụ, và số tiền bạn mất đi khi tính
toán sai. Nguồn gốc thành công của Soros cũng giống như Buffett, nghĩa
là lợi nhuận thu được từ những vụ đầu tư sinh lời sẽ bù đắp số tiền bị
thất thoát trong các vụ đầu tư khác.
Trong khi đó, sự đa dạng hóa lại là một hành động
trái ngược hoàn toàn, bởi vì việc có nhiều cổ phần nhỏ, cho dù tỷ lệ
lãi suất lớn, thì tổng số vốn của bạn cũng chỉ có thể thay đổi rất ít.
Tất cả những nhà đầu tư thành công lớn đều sẽ bảo với
bạn rằng đa dạng hóa danh mục đầu tư là trò chơi dành cho những kẻ tầm
thường và nhút nhát. Nhưng chắc chắn đây lại không phải là thông điệp
mà bạn có thể nghe được từ các chuyên gia tư vấn tài chính của bạn.
Sai lầm thứ năm:[/b] Tin rằng phải chấp nhận rủi ro lớn mới thu được nhiều lợi nhuận.
Thực tế là: Giống như các doanh nhân vừa khởi nghiệp,
những nhà đầu tư thành công thường có tâm lý e ngại rủi ro, vì thế họ
luôn cố gắng làm đủ mọi cách để hạn chế rủi ro và giảm thiểu thất thoát.
Tại một hội thảo về vấn đề quản lý được tổ chức cách
đây vài năm, các học giả luân phiên nhau lên trình bày công trình
nghiên cứu của mình về “cá tính của những người đang khởi nghiệp”.
Những bài phát biểu chứa đựng khá nhiều quan điểm bất đồng với nhau,
chỉ ngoại trừ một điều: những người đang khởi nghiệp thường chấp nhận
rủi ro, và trên thực tế, đa số họ đều ưa thích mạo hiểm.
Cuối buổi hội thảo, một doanh nhân ở hàng ghế khán
giả đứng dậy và nói rằng anh ta vô cùng ngạc nhiên trước những gì mình
vừa nghe được. Anh nói, là một người mới khởi nghiệp, anh luôn tìm cách
tránh xa mọi rủi ro. Anh cũng có quen biết nhiều doanh nhân thành công
khác và bảo rằng thật là khó mà tìm được những người thận trọng hơn họ.
Những doanh nhân khởi nghiệp thành công là những
người chống lại các quyết định mang tính rủi ro, và các nhà đầu tư
thành công cũng vậy. Biết phòng tránh rủi ro là điều kiện cần thiết để
tích lũy và nhân thêm của cải. Lĩnh vực đầu tư không có chỗ cho ý tưởng
hoang đường này của các học giả. Thực tế đã chứng minh rằng nếu bạn
chấp nhận rủi ro lớn, thì nhiều khả năng bạn cũng đang tạo ra nguy cơ
nhận lãnh những tổn thất khổng lồ.
Cũng giống như các doanh nhân lúc khởi nghiệp, những
nhà đầu tư thành công hiểu rất rõ rằng mất tiền bao giờ cũng dễ hơn
việc kiếm được tiền. Đó là lý do tại sao họ lại chú trọng việc phòng
tránh rủi ro hơn là săn đuổi lợi nhuận.
Sai lầm thứ 6:[/b]
Đặt trọn niềm tin vào “Hệ thống đánh giá”, nghĩa là cho rằng phải dựa
vào một số phương pháp để phân tích chi tiết hay sơ bộ các dữ liệu để
đảm bảo lợi nhuận đầu tư.
Thực tế đây là một hệ quả tất yếu của việc tin vào
“các chuyên gia tư vấn”. Nếu nhà đầu tư có thể thực hành theo hệ thống
phân tích của chuyên gia tư vấn, thì chắc hẳn anh ta sẽ thu được nhiều
tiền như chuyên gia này đã nói.
Căn nguyên của việc đặt niềm tin vào “chuyên gia tư
vấn” và “hệ thống phân tích” đều giống nhau ở chỗ nhà đầu tư luôn mong
muốn có một điều gì đó chắc chắn.
Warren Buffett từng trả lời câu hỏi liên quan đến một
trong những cuốn sách viết về ông như sau: “Các nhà đầu tư luôn tin
tưởng vào hệ thống phân tích bởi vì họ đang đi tìm một công thức để
thành công”. Họ hy vọng khi tìm ra công thức đúng, khi đó tất cả những
gì họ cần làm chỉ là cài đặt nó vào máy tính và theo dõi số tiền sinh
sôi nảy nở từ các vụ đầu tư.
Sai lầm thứ 7: [/b]Tin rằng bạn hoàn toàn biết rõ tương lai sẽ ra sao, và chắc chắn rằng thị trường sẽ phải tiến triển đúng như bạn dự đoán.
Thực tế đây là một đặc điểm thường gặp ở những người
ham mê đầu tư. Năm 1929, hầu như mọi người đều đồng ý với tuyên bố của
Irving Fisher rằng “các cổ phiếu đã đạt đến trạng thái bình ổn cao một
cách lâu dài”, vậy mà chỉ một vài tuần sau họ đã phải chứng kiến cảnh
hỗn loạn khi thị trường chứng khoán sụp đổ. Khi giá vàng tăng vọt vào
thập niên 1970, người ta đã dễ dàng tin rằng tình trạng lạm phát phi mã
là điều không thể tránh khỏi. Còn khi giá trị của Yahoo, Amazon.com,
eBay, và hàng trăm website khác tăng lên gần như mỗi ngày, thì thật khó
để tranh cãi với câu thần chú mà Wall Street đưa ra vào thập niên 1990:
“Lợi nhuận (trong việc đầu tư vào các công ty thương mại điện tử) không
còn là vấn đề chính yếu nữa”.
Đây là một biến thể từ “sai lầm chết người” thứ nhất
trong hoạt động đầu tư, vốn cho rằng bạn phải có khả năng dự đoán tương
lai, song những ảnh hưởng của nó còn mạnh mẽ và đôi lúc bi thảm hơn
nhiều.
Một khi nhà đầu tư tin rằng muốn có lợi nhuận thì
phải có khả năng dự đoán tương lai, anh ta sẽ cố tìm kiếm các phương
pháp để có thể dự đoán “đúng”. Nhà đầu tư nào bị rơi vào “sai lầm chết
người” thứ bảy trong đầu tư sẽ nghĩ rằng anh ta gần như nắm chắc được
tương lai và đã biết trước tương lai sẽ mang lại cho anh ta những gì.
Vì vậy, cuối cùng khi nỗi đam mê (hay niềm tin thiếu căn cứ?) không còn
nữa, anh ta sẽ phải chứng kiến phần lớn vốn liếng của mình tan thành
mây khói, và thậm chí anh ta còn có thể mất luôn cả nhà cửa lẫn tài sản
của mình.
Trong bảy “sai lầm chết người” này, thì việc thâm
nhập thị trường với một niềm tin võ đoán là điều nguy hiểm nhất đối với
số vốn của bạn.t
tặng các cụ thích đeo chart vào cổ đi đầu tư cho sành điệu !
không có gì là mãi mãi !!!!!



Thông tin của chủ đề
Users Browsing this Thread
Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)



Trích dẫn
Bookmarks