Nguy cơ tiềm ẩn của nền kinh tế VN
Việt Nam với bài toán thâm hụt ngân sách




[table]




|







|


[/table]



******- Trong những năm vừa qua tình trạng thâm hụt ngân sách của Việt
Nam đang diễn biến một cách đáng lo ngại. Thâm hụt ngân sách của Việt
Nam liên tục tăng trong những năm gần đây và có khả năng sẽ lên đến
đỉnh điểm trong năm 2009 với mức thâm hụt được dự báo sẽ lên khoảng 8%.




















Với
mức thâm hụt được dự báo như trên Việt Nam đang bước vào một tình trạng
nguy hiểm bởi lẽ thâm hụt ngân sách cao sẽ đem lại nhiêu hệ lụy rất
nghiêm trọng.





Để
phân tích rõ hơn vấn đề này, cần một cái nhìn sâu hơn về nguyên nhân
gây ra thâm hụt ngân sách ở Việt Nam. Thông thường thâm hụt ngân sách
đến từ việc thu ngân sách không đủ bù đắp các khoản chi ngân sách. Chi
ngân sách bao gồm chi thường xuyên, chi đầu tư bao gồm đầu tư trong ngân sách và đầu tư ngoài ngân sách, chủ yếu qua SOEs (rất lớn).





Trong
các năm trở lại đây nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế, Chính phủ Việt
Nam đã đẩy mạnh đầu tư công lên mức rất cao chiếm một phần lớn đầu tư
toàn xã hội. Điều này góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng song
cũng tạo nên nguy cơ tiềm tàng và gánh nặng nợ nần cho các năm tiếp
theo nếu các khoản đầu tư không hiệu quả. Có một số chuyên gia kinh tế
ủng hộ quan điểm để ngân sách không cân bằng chủ yếu dựa trên lập luận
cần nắm bắt cơ hội đầu tư do nền kinh tế tăng trưởng cao, lợi nhuận đủ cao để bù đắp chi phí tài chính. Nếu Chính phủ càng trì hoãn đầu tư thì đầu tư càng trở nên tốn kém do đó có lẽ nên chấp nhận không cân bằng ngân sách để tận dụng cơ hội đầu tư với tỷ lệ thu hồi vốn cao.
Ngoài ra khi nền kinh tế tăng trưởng thì các khoản thu từ thuế của
Chính phủ sẽ tăng lên và do đó ngân sách sẽ cân bằng trở lại.





Tuy
nhiên các nhà kinh tế đáng kính trên có lẽ đã quá phóng đại khả năng
đem lại lợi nhuận của các khoản đầu tư công và xem nhẹ các rủi ro tiềm
ẩn. Không thể phủ định hiệu quả đầu tư tại Việt Nam là cực thấp với
lượng vốn đầu tư toàn xã hội đã lên đến trên 40% GDP nhưng tăng trưởng
GDP đang chững lại. Hơn nữa kì vọng tăng thu ngân sách trong tương lai
của Việt Nam là rất khó thành hiện thực khi đặc biệt là khi các nguồn thu ngân sách của Việt Nam này từ hàng hóa thô (nhu cầu và giá biến động bất thường). Bên cạnh đó Chính phủ bảo lãnh cho các khoản vay tư nhân, thường liên quan đến các khoản chi ngoài ngân sách dành cho khu vực công, thủ phạm hàng đầu là SOEs điều này làm tăng nghĩa vụ nợ của Chính phủ và khi SOEs không trả được nợ đúng hạn và đầy đủ Chính phủ sẽ phải bù từ ngân sách dẫn rủi ro ngân sách rất lớn.






thể thấy Việt Nam đã và đang trong một bài toán khó tìm lời giải khi
tăng đầu tư thuần túy nhằm phát triển kinh tế là một con đường cụt.
Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn phải tiếp tục duy trì tốc độ
tăng trưởng cao trong những năm tới trong khi khoản thâm hụt ngày một
phình to.





Tài trợ thâm hụt ngân sách và những hệ lụy





Để tài trợ cho thâm hụt ngân sách Chính phủ đứng trước một vài lựa chọn cơ bản song đều là những lựa chọn khó khăn





Vay bằng đồng nội tệ:
Với lựa chọn này Chính phủ sẽ phát hành các loại trái phiếu chính phủ
trong nước nhằm thu được một khoản tiền để bù đắp các khoản chi. Tuy
nhiên trong bối cảnh của Việt Nam hiện nay điều này khó khả thi do mặt
bằng lãi suất đã giảm mạnh khiến cho trái phiếu chính phủ không còn hấp
dẫn. Nếu tăng lãi suất huy động thì lại mâu thuẫn với chính sách nới
lỏng tiền tệ đang được thực thi. Ngoài ra việc vay nợ quá nhiều sẽ
khiến cho gánh nặng trả nợ trong các năm sau nếu
thu ngân sách không tăng được. Lúc đó Chính phủ buộc phải in tiền để
trả nợ và điều này sẽ gây ra nguy cơ lạm phát rất cao.





Vay bằng nước ngoài bằng ngoại tệ:
các khoản vay nợ nước ngoài sẽ tránh cho nền kinh tế nguy cơ lạm phát
song lại gây ra rủi ro tỉ giá. Khi gánh nặng nợ nước ngoài tăng lên sẽ
gây ra áp lực cực lớn lên đồng nội tệ khiến nó có khả năng mất giá
mạnh. Đồng nội tệ mất giá sẽ lại tiếp tục làm gia tăng giá trị các
khoản nợ nước ngoài và tạo ra nguy cơ mất khả năng thanh toán. Khi đó
dòng vốn đầu tư sẽ chảy khỏi quốc gia do sợ rủi ro về tỉ giá và làm cán
cân thanh toán mất cân bằng hơn. Khi cán cân thanh toán trở nên mất cân
bằng nghiêm trọng thị đồng nội tệ lại chịu áp lực giảm giá.





Sử
dụng ngoại tệ dự trữ: Đây là một trong những giải pháp tương đối chu
toàn vừa đảm bảo ổn định tỷ giá vừa đảm bảo không gây ra lạm phát. Tuy
nhiên đối với Việt Nam điều này không khả thi cho lắm do dự trữ ngoại
tệ quốc gia đang ở mức thấp và tình trạng mất kiểm soát đối với thị
trường ngoại tệ chợ đen còn nghiêm trọng. Thông tin nhà nước giảm dự
trữ ngoại tệ sẽ khiến cho tình trạng đầu cơ găm giữ ngoại tệ trở nên
phổ biến và điều này sẽ khiến cho những cố gắng ổn đỉnh tỷ giá hối đoái
thêm khó khăn.





Vay
ngân hàng nhà nước (in tiền): Đây có lẽ là biện pháp đơn giản nhất
nhưng cũng nguy hiểm nhất bởi lẽ nguy cơ gây lạm phát của nó. Có lẽ
không cần phải nhắc lại thời điểm kinh tế Việt Nam gặp vô vàn khó khăn
do tác động lạm phát cao năm 2008.