Tình hình hiện nay? Đến 31/05/11
  • Thông báo


    Đóng Chủ đề
    Trang 1036 của 1178 Đầu tiênĐầu tiên ... 36 536 936 986 1026 1034 1035 1036 1037 1038 1046 1086 1136 ... CuốiCuối
    Kết quả 20,701 đến 20,720 của 23541
    1. #20701
      Ngày tham gia
      Jan 2011
      Bài viết
      463
      Được cám ơn 103 lần trong 59 bài gởi

      Mặc định

      Trích dẫn Gửi bởi VNINDEX500 Xem bài viết
      Trời hỡi? Đất nước Việt Nam chứ không phải là những câu chuyện nhỏ nhặt đó.

      Hãy nghĩ lại đi cụ.

      Tôi vẫn nhìn thấy những khía cạnh chưa tốt, nhưng xã hội mà cụ.

      Nhưng tôi yêu quê hương tôi - đất nước Việt Nam.
      Em bắt đầu thấy quý bác rồi đấy

    2. #20702
      Ngày tham gia
      Apr 2007
      Bài viết
      812
      Được cám ơn 81 lần trong 51 bài gởi

      Mặc định

      Xuất khẩu nông sản tiếp tục được giá nâng đỡ.
      Bản tin cập nhật dự báo thị trường một số nông sản tháng 4/2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục có những nhận định lạc quan về triển vọng tăng trưởng kim ngạch trong năm nay, do diễn biến cung cầu và giá cả trên thị trường thế giới có nhiều thuận lợi cho xuất khẩu nông sản Việt Nam.

      So với các mức dự báo đưa ra hồi tháng trước, cơ quan này giữ nguyên kim ngạch xuất khẩu gạo nhưng điều chỉnh tăng dự báo xuất khẩu thủy sản, cà phê, cao su và hạt tiêu.

      Xuất khẩu gạo có thể đạt 7,4 triệu tấn

      Với mặt hàng lúa gạo, Bản tin dẫn nguồn Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) cho rằng, sản lượng lúa gạo toàn cầu niên vụ 2010/11 ở mức 450,7 triệu tấn, so với dự báo đưa ra hồi tháng trước giảm 0,8 triệu tấn, trong khi dự báo tiêu thụ toàn cầu niên vụ 2010/11 được điều chỉnh tăng gần 400.000 tấn.

      Nhưng tình hình tại Việt Nam có sự khác biệt so với xu hướng chung. Philippines, đối tác nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam vào năm ngoái thì nay kim ngạch đã sụt giảm nhanh chóng, kim ngạch 4 tháng năm 2011 chỉ bằng 6% cùng kỳ.

      Tuy nhiên, việc ký được nhiều hợp đồng xuất khẩu với Indonesia đã “cứu thua” cho gạo Việt Nam. Xuất khẩu gạo của Việt Nam sang quốc gia ASEAN này trong quý 1/2011 tăng đột biến, đạt khoảng 685 nghìn tấn với giá trị đạt 343 triệu USD, chiếm tới 35,3 % tỷ trọng xuất khẩu gạo của Việt Nam.

      Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam trong tháng 4, do đó, tương đối ổn định so với tháng 3. Theo hiệp hội Lương thực Việt Nam, khối lượng gạo xuất khẩu lũy kế từ ngày 1/1 đến ngày 21/4/2011 vẫn đạt 2,2 triệu tấn, trị giá 1,049 tỷ USD.

      “Với những yếu tố thuận lợi về thị trường và chủ trương tăng cường sản xuất lúa vụ ba, khối lượng xuất khẩu gạo trong năm 2011 có thể đạt mức 7,1-7,4 triệu tấn tương đương với dự báo của tháng trước”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho hay.

      Với kết quả dự báo này, so với năm 2010 lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng khoảng 200-500 nghìn tấn.

      Xuất khẩu thủy sản lần đầu tiên dự báo vượt 6 tỷ USD

      Với thủy sản, các thị trường xuất, nhập khẩu lớn trên thế giới có nhiều thay đổi kể từ đầu năm đến nay. Nhật Bản, quốc gia có kim ngạch nhập khẩu thủy sản lớn từ Việt Nam, nguồn cung tôm có xu hướng giảm nhiều so với cùng kỳ năm ngoái; giá tôm tăng so với tháng trước. Xuất khẩu tôm Thái Lan cũng trong xu hướng giảm, ngược lại Hoa Kỳ vẫn là một thị trường nhập khẩu tôm lớn của thế giới.

      Ở trong nước, thời tiết tháng 4 khá thuận lợi cho việc khởi đầu vụ cá ở phía nam, diện tích nuôi cá tra có phần phục hồi nhẹ do cá nguyên liệu tăng giá… Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản 4 tháng đầu năm ước đạt 1,6 tỷ USD, tăng gần 30% so với cùng kỳ năm ngoái.

      Trước điều kiện thuận lợi về giá cả, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự báo giá trị xuất khẩu thủy sản cả năm 2011 ước đạt gần 6,1 tỷ USD, tăng lên so với con số dự báo của tháng trước 5,76 tỷ USD. Ở kịch bản này, xuất khẩu thủy sản năm 2011 sẽ tăng kim ngạch khoảng 1 tỷ USD so với năm ngoái.

      Cà phê có thể cán mốc kim ngạch 3 tỷ USD

      Đối với mặt hàng cà phê, Tổ chức Cà phê quốc tế (ICO) dự báo sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ 2010/11 sẽ đạt mức 133 triệu bao, điều chỉnh giảm so với mức dự báo 133,7 triệu bao đưa ra tháng trước.

      Cũng cơ quan này cho biết, dự trữ cà phê toàn cầu tiếp tục giảm, dự báo chỉ đạt mức 13 triệu bao trong niên vụ 2010/11. Với diễn biến này, chỉ số giá cà phê tổng hợp của ICO trong tháng 3 tiếp tục tăng trưởng 3,8% so với tháng 2, đạt bình quân 224,33 US cents/lb.

      “Đây là mức cao nhất trong vòng 34 năm, chủ yếu do sự tăng giá cà phê Robusta”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn lưu ý thêm.

      Điều kiện này tạo thuận lợi cho giá cà phê trong nước. Ngày 14/4, giá cà phê nhân xô được thu mua ở mức 49,1 triệu đồng/tấn tại Đăk Nông, giá tại Đăk Lăk và Gia Lai cũng đạt 49 triệu đồng, tăng tới 1,2 triệu đồng/tấn so với ngày trước đó, cũng là mức giá cao nhất từ đầu năm tới nay.

      Xuất khẩu cà phê 4 tháng đầu năm của Việt Nam ước đạt 674 nghìn tấn với giá trị 1,4 tỷ USD, tăng gần 1,5 lần về lượng và 2 lần về giá trị.

      Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự báo khối lượng cà phê xuất khẩu năm 2011 có thể đạt gần 1,3 triệu tấn với trị giá xuất khẩu khoảng 3 tỷ USD, tăng gần 400 nghìn USD so với con số dự báo của tháng trước.

      So với khối lượng cà phê xuất khẩu năm 2010 ở mức khoảng 1,2 triệu tấn và xấp xỉ 1,9 tỷ USD kim ngạch, năm nay mặt hàng này đứng trước cơ hội tăng ấn tượng, cả về lượng và giá.

      Xuất khẩu cao su sẽ tăng thêm 1 tỷ USD

      Mặt hàng cao su cũng đang có dấu hiệu tăng giá trở lại do nhu cầu cao su của Trung Quốc, Ấn Độ và Malaysia (chiếm 48% nhu cầu toàn cầu) được dự báo tiếp tục tăng trong năm nay.

      Từ cuối tháng 4, giá cao su thiên nhiên có xu hướng tăng do nhu cầu vẫn ở mức cao trong khi nguồn cung đang giảm, đồng thời giá dầu thô tăng cũng góp phần hỗ trợ cho giá cao su thiên nhiên tăng trở lại.

      Giá cao su giao tháng 9 tại sở giao dịch hàng hoá Tokyo (Tocom) đạt 477,5 Yên/kg vào cuối tháng 4, cao hơn 10% so với mức 432,2 Yên cuối tháng 3 nhưng thấp hơn khoảng 10 Yên so với mức kỷ lục 535,7 Yên hồi giữa tháng 2.

      Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, xuất khẩu cao su thiên nhiên quý 1/2011 đạt 164.456 tấn, trị giá 722 triệu USD với giá bình quân là 4.391 USD/tấn, tăng 31,3% về lượng, tăng 118,3% (hơn gấp đôi) về giá trị và 66% về đơn giá so với cùng kỳ năm trước.

      Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng, giá cao su xuất khẩu của nước ta sẽ tăng trong ngắn hạn theo xu thế chung và xuất khẩu cao su năm nay có thể tăng thêm khoảng 1 tỷ USD so với năm 2010.

      Bộ dự báo khối lượng xuất khẩu cao su năm 2011 đạt hơn 833 nghìn tấn, (con số dự báo của tháng trước là 827 nghìn tấn), với giá trị đạt gần 3,4 tỷ USD (dự báo tháng trước là 3 tỷ USD).

      Giá hồ tiêu đã tăng gấp đôi

      Mặt hàng hồ tiêu cũng tăng giá rất cao do chênh lệch cung cầu. Theo Hiệp hội hồ tiêu thế giới (IPC), hai quốc gia sản xuất hồ tiêu lớn là Ấn Độ và Indonesia có thể sẽ giảm mạnh sản lượng trong năm nay và hạn chế nguồn cung ra thị trường thế giới. Ngược lại, nhu cầu hồ tiêu thế giới có thể tăng 5% trong năm nay.

      Do các nước sản xuất hồ tiêu chính bị mất mùa nên thế giới sẽ thiếu hụt khoảng 33-35 nghìn tấn. Mất cân đối cung cầu là lý do làm cho từ đầu vụ năm ngoái đến nay, giá hồ tiêu thế giới tăng liên tục.

      Giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam bình quân tháng 4/2011 đạt 8.000-8.100 USD/tấn, tăng khoảng 100 USD/tấn so với tháng trước.

      Ảnh hưởng đến thị trường trong nước, giá thu mua tiêu đen xô bình quân tăng liên tục trong nửa đầu tháng 4 và đạt mức kỷ lục 116 nghìn đồng/kg vào ngày 14/4, tăng 20% so với mức giá thời điểm đầu tháng và tăng 123% so với cùng kỳ 2010.

      Giá tiêu trắng tại Bà Rịa-Vũng Tàu, địa phương có truyền thống chế biến tiêu trắng, hiện dao động ở mức 160-170 nghìn đồng/kg, tăng 27% so với giá tháng 3/2011 và tăng 120% so với giá cùng kỳ năm ngoái.

      Theo báo cáo của Tổng cục Hải quan Việt nam, xuất khẩu hồ tiêu quý 1/2011 đạt 26.058 tấn, kim ngạch đạt 127,6 triệu USD. So với cùng kỳ năm 2010, lượng xuất khẩu giảm 2.000 tấn tương đương với 7,7%, tuy nhiên giá trị tăng 49,2%.

      “Dự báo trị giá xuất khẩu hồ tiêu năm 2011 của Việt Nam có thể đạt gần 520 triệu USD tăng so với con số 421 triệu USD của năm ngoái”, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhận định.

      DIỆU HƯƠNG
      Last edited by KENDIZONE; 16-05-2011 at 09:24 PM.
      ===============================

      Đi tìm sắc tím

    3. #20703
      Ngày tham gia
      Jul 2010
      Bài viết
      1,514
      Được cám ơn 219 lần trong 151 bài gởi

      Mặc định

      Trích dẫn Gửi bởi vitara Xem bài viết
      Mẹ kiếp.

      Khắp nơi kêu gào đói khổ.

      Tôi sinh ở Hà Nội, 35 năm học tập làm việc gắn chặt với đất mẹ. Nói về tình yêu Hà Nội thì nhiều hơn bất cứ thằng cán bộ nào hiện đang ngồi ở Uỷ ban thành phố.

      Thế nhưng tình yêu đó đã giảm 1/2 từ khi bọn ch-ó chết vì lợi ích cá nhân mà ra cái quyết định mở rộng địa giới sát nhập Hà Nội, để rồi ngay sau đó Hà Nội trở thành nơi có tỷ lệ học vấn thấp nhất nước, thành nơi toàn rác sau những ngày đại lễ, thành nơi ... toàn K-ứt (sân bay Nội bài).

      Đến ngày hôm nay thì phần tình yêu 1/2 đó chả còn lại gì. Mẹ kiếp toàn lũ Ch-ó đẻ.

      Xưa kia yêu nước nên tự nhủ mình nếu thấy cảnh trái ngang thì ra tay giúp ích cho cộng đồng. Chứ bây giờ nói thật nếu có Bạo động, Bạo loạn xảy ra thì em cũng khoanh tay đứng nhìn... Đéo giúp nhưng cũng *** ngăn cản. Biết đâu nhờ đó mà đất nước có khi lại tốt hơn.

      Tự thề cố gắng tích góp sau này cho con cái nhập tịch nước khác. Đéo làm người Việt Nam nữa.
      Mi 2 .

    4. #20704
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      2,592
      Được cám ơn 98 lần trong 85 bài gởi

      Mặc định Người ít tiền bị thiệt

      Trích dẫn Gửi bởi Goldmember Xem bài viết
      Mi 2 .
      Người ít tiền bị thiệt

      Mặc dù đỉnh lãi suất huy động VND đã lên 21%/năm, nhưng mức này chỉ dành cho người có vài trăm triệu trở lên, còn người gửi ít hơn vẫn chỉ được nhận lãi suất 14%/năm trở xuống.

      Không chỉ những người gửi ít tiền ở thành phố, ngay cả người dân các tỉnh dù gửi hàng trăm triệu cũng chỉ được trả lãi suất niêm yết. Để tránh thiệt thòi, nhiều người tỉnh lẻ chuyển tiền về Hà Nội và TPHCM nhờ con cái gửi. Đây là một trong những lý do nguồn vốn huy động các NH tại hai thành phố lớn chiếm khoảng 60% vốn huy động toàn hệ thống.

      Nếu kể hết được các chiêu NHTM “lách” trần lãi suất huy động thì đúng là “dở khóc dở cười”: Chiêu “tự phạt” trong trường hợp khách hàng tiền tỉ rút tiền, NH chấp nhận trả thêm 3 - 4% lãi suất dưới hình thức phí tự phạt do thanh toán chậm (thực chất là trả thêm lãi suất cho khách hàng mà không bị NHNN xử lý); Trả tiền mặt cho khách hàng dưới hình thức khuyến mãi; NH cho phép nhân viên viết tay ngày đáo hạn và mức lãi suất 19% đến 20,5%/năm vào một mẩu giấy nhỏ ghim vào sổ tiết kiệm của khách hàng. Mẩu giấy không có chữ ký hay bất cứ một dấu hiệu gì cho biết địa chỉ NH và tên người viết nhưng người gửi tiền cứ yên tâm cầm và đến kỳ đáo hạn đến nhận lãi suất mà nhân viên NH đã viết tay...

      Cho đến thời gian gần đây thì nhiều NH cũng không cần che giấu kín đáo việc trả lãi suất cao cho khách hàng nữa cho dù biển niêm yết vẫn đề “lãi suất huy động VND 14%/năm”. Việc NHNN có phạt (phạt tiền và cảnh cáo một vài lãnh đạo) cũng không khiến ban lãnh đạo các NHTM ngán bằng sụt giảm nguồn vốn huy động và sức ép của các cổ đông.

      Lãi suất méo mó

      Tuần qua có tiêu đề bài viết: “ Bong bóng” lãi suất sắp vỡ”. Có lẽ cụm từ này phản ánh rõ nhất tình trạng méo mó hiện nay của lãi suất ngân hàng. Lãi suất trần tiền gửi VND hiện không phản ánh tính khách quan của thị trường, không minh bạch và không công bằng với mọi người gửi tiền.

      Khách hàng nhận lãi suất cao thì đồng lõa với NH, khách hàng nhận lãi suất thấp cũng không có cơ sở để kêu ca vì nhận được câu giải thích: “Đây là quy định của NHNN”. Áp trần lãi suất huy động tiền gửi VND, NHNN hy vọng sẽ ổn định thị trường tiền tệ làm cơ sở giảm lãi suất cho vay. Thực tiễn đã cho thấy “đơn thuốc” này không chữa được “căn bệnh trầm kha” của hệ thống NH Việt Nam là vấn đề thanh khoản.

      Nhiều NH dành từ 30% - 40% vốn cho vay tiêu dùng và BĐS với kỳ hạn 3 - 5 năm, trong khi đa phần vốn huy động lại chỉ 1 - 3 tháng là bị khách hàng rút khiến NH luôn trong tình trạng ăn đong”, không lúc nào không bị sức ép về thanh khoản. Bên cạnh đó kỷ luật thị trường không nghiêm cũng khiến các NH “nhờn thuốc”. Những NH thực hiện khá nghiêm túc quy định lãi suất trần thì bị sụt giảm mạnh nguồn vốn huy động, thậm chí gần 20.000 tỉ đồng chỉ trong 3 tháng đầu năm và buộc họ phải chỉ đạo hệ thống phải dùng mọi biện pháp giữ và thu hút thêm khách hàng (thực chất là lách trần).

      Đơn thuốc

      Không bao giờ có thể giải quyết được triệt để vấn đề lãi suất đơn thuần chỉ bằng biện pháp hành chính. Chưa đến thời điểm Việt Nam có thể tự do hóa hoàn toàn lãi suất, nhưng nếu phải can thiệp hành chính thì có lẽ đã đến lúc NHNN nên thay trần lãi suất huy động bằng trần lãi suất cho vay. Song song có cơ chế bơm - hút tiền phù hợp qua thị trường mở để xử lý vấn đề thanh khoản của hệ thống.

      Cụ thể nên tăng lượng tiền tái cấp vốn cho các NH thiếu thanh khoản với kỳ hạn dài hơn (có thể đến 3,6 tháng) nhưng kèm điều kiện là không được dùng tiền đó để cấp tín dụng và phải ngừng/thậm chí giảm tín dụng cho đến khi trả hết nợ NHNN để số tiền NHNN bơm ra không tạo ra tiền, gây áp lực lên lạm phát. Có những chế tài hết sức nghiêm khắc với các NH không thực hiện đúng các điều kiện tái cấp vốn. Hình phạt cao nhất phải là chấm dứt hoạt động, cho phá sản ngân hàng.

      Tuấn Thành


    5. #20705
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      2,592
      Được cám ơn 98 lần trong 85 bài gởi

      Mặc định La liệt biệt thự bỏ hoang do tích trữ, đầu cơ

      Trích dẫn Gửi bởi vitara Xem bài viết
      Mẹ kiếp.

      Khắp nơi kêu gào đói khổ.

      Tôi sinh ở Hà Nội, 35 năm học tập làm việc gắn chặt với đất mẹ. Nói về tình yêu Hà Nội thì nhiều hơn bất cứ thằng cán bộ nào hiện đang ngồi ở Uỷ ban thành phố.

      Thế nhưng tình yêu đó đã giảm 1/2 từ khi bọn ch-ó chết vì lợi ích cá nhân mà ra cái quyết định mở rộng địa giới sát nhập Hà Nội, để rồi ngay sau đó Hà Nội trở thành nơi có tỷ lệ học vấn thấp nhất nước, thành nơi toàn rác sau những ngày đại lễ, thành nơi ... toàn K-ứt (sân bay Nội bài).

      Đến ngày hôm nay thì phần tình yêu 1/2 đó chả còn lại gì. Mẹ kiếp toàn lũ Ch-ó đẻ.

      Xưa kia yêu nước nên tự nhủ mình nếu thấy cảnh trái ngang thì ra tay giúp ích cho cộng đồng. Chứ bây giờ nói thật nếu có Bạo động, Bạo loạn xảy ra thì em cũng khoanh tay đứng nhìn... Đéo giúp nhưng cũng *** ngăn cản. Biết đâu nhờ đó mà đất nước có khi lại tốt hơn.

      Tự thề cố gắng tích góp sau này cho con cái nhập tịch nước khác. Đéo làm người Việt Nam nữa.
      La liệt biệt thự bỏ hoang do tích trữ, đầu cơ
      Qua kiểm tra việc sử dụng nhà ở tại 18 dự án phát triển nhà ở, khu đô thị mới trên địa bàn Hà Nội, chỉ có 58% biệt thự được sử dụng. Cần có chính sách thuế đủ mạnh để hạn chế tình trạng đầu cơ nhà, đất gây lãng phí và làm mất mỹ quan đô thị.

      Đây là số liệu mới nhất được Bộ Xây dựng báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thị trường bất động sản. Theo Bộ Xây dựng, việc còn nhiều nhà liền kề, biệt thự chưa đưa vào sử dụng là do nhà thấp tầng, biệt thự chiếm tỷ lệ lớn và do hiện tượng đầu cơ.

      Do hạ tầng không đồng bộ


      Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ Xây dựng, hiện cả nước có khoảng 2.500 dự án đang được triển khai và hàng trăm dự án được khởi công mới. Trong đó, Hà Nội có khoảng trên 800 dự án (75.189 ha) và trên 50 dự án được triển khai tiếp do trước đó phải tạm dừng chờ quy hoạch. Kết quả kiểm tra cũng cho thấy tại nhiều dự án, tỷ lệ nhà ở đưa vào sử dụng đạt thấp, đặc biệt là các nhà ở loại biệt thự, nhà liền kề, chủ yếu tại các dự án có vị trí xa trung tâm hoặc hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội chưa được xây dựng đồng bộ. Cụ thể, trong khi các căn hộ nhà chung cư cao tầng có tỷ lệ đưa vào sử dụng đạt xấp xỉ 100%, thì tỷ lệ nhà ở liên kề đưa vào sử dụng đạt 80% và biệt thự đưa vào sử dụng chỉ đạt 58%.

      Theo Bộ Xây dựng, việc còn nhiều nhà chưa đưa vào khai thác sử dụng do nhiều nguyên nhân, đặc biệt là do cơ cấu nhà ở trong các dự án chưa hợp lý, nhiều dự án nhà thấp tầng, biệt thự chiếm tỷ lệ lớn, trong khi chung cư cao tầng có tỷ lệ thấp; phần lớn các dự án thiếu các công trình thiết yếu như trường học, nhà trẻ, chợ... hoặc không được kết nối với hạ tầng chung của đô thị, giao thông đi lại khó khăn. Ngoài ra còn do hiện tượng đầu cơ, tích trữ; do thiếu sự kiểm tra hoặc không kiên quyết trong xử lý của các chủ đầu tư và các cơ quan quản lý các cấp đối với các trường hợp chậm tiến độ; phương thức triển khai thực hiện đầu tư, kinh doanh các dự án phát triển nhà ở còn nhiều bất cập, nhất là phương thức chia lô, bán nền, bán nhà xây thô.

      Sớm xóa bỏ hình thức phân lô, bán nền

      Cũng theo Bộ xây dựng, tình trạng các dự án phát triển nhà ở chỉ xây dựng hạ tầng kỹ thuật, sau đó phân lô, bán nền hoặc bán nhà xây thô dẫn đến có nhiều dự án không hoàn thành đúng tiến độ, không hình thành đô thị hoàn chỉnh như quy hoạch. Tình trạng này không phải chỉ xảy ra trên địa bàn Hà Nội, mà còn xảy ra tại nhiều địa phương khác, gây lãng phí tài nguyên đất đai và vốn đầu tư của xã hội, làm mất mỹ quan đô thị và ảnh hưởng xấu tới dư luận xã hội.

      Để khắc phục tình trạng này, Bộ Xây dựng cho rằng cần sớm xóa bỏ hình thức chia lô, bán nền, bán nhà xây thô trong các dự án phát triển nhà ở tại đô thị, chủ đầu tư phải có trách nhiệm hoàn thiện nhà ở trước khi bàn giao cho khách hàng. Đồng thời cần phải sớm xây dựng chế tài xử phạt các chủ đầu tư bán nhà xây thô và không thực hiện tốt việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật đồng bộ; nghiên cứu ban hành chính sách thuế đủ mạnh để hạn chế tình trạng đầu cơ nhà, đất mà không đưa vào sử dụng gây lãng phí và làm mất mỹ qua đô thị; kiểm tra và kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm về sử dụng đất đai theo quy định của pháp luật, nhằm sử dụng đất hiệu quả, tránh lãng phí tài nguyên.

      Mạnh Đồng


    6. Những thành viên sau đã cám ơn :
      chunggavit (16-05-2011)

    7. #20706
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      2,592
      Được cám ơn 98 lần trong 85 bài gởi

      Mặc định Vét sạch nguyên liệu thô để xuất khẩu

      -TỪ TỪ ... XIN ĐỪNG NỔI NÓNG ....TAN CHẢY HẾT BÂY GIỜ .....

      Từ tháng 10 năm ngoái đến nay, doanh nghiệp cao su chỉ tập trung xuất khẩu chứ không bán cho nhà sản xuất trong nước.

      Có một thực tế đáng phải suy nghĩ là hiện nay với nhiều mặt hàng nông sản như cao su, thủy sản, cà phê, tiêu, điều…, người sản xuất và doanh nghiệp chỉ thích bán nguyên liệu cho đối tác nước ngoài. Trong khi doanh nghiệp sản xuất, chế biến trong nước thì đỏ mắt đi tìm mua nguyên liệu.

      Chỉ thích xuất khẩu

      Ông Đinh Ngọc Đạm, Giám đốc Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng, cho biết công ty của ông vừa khởi công xây dựng nhà máy sản xuất vỏ xe radiant với công suất 600.000 chiếc. Sản phẩm làm ra chủ yếu xuất khẩu sang Mỹ, châu Âu và các nước trong khối ASEAN.

      Theo ông Đạm, dự kiến khi nhà máy đi vào hoạt động thì một năm cần khoảng 20.000 tấn mủ cao su nguyên liệu để phục vụ sản xuất. Tuy nhiên, khó khăn mà Công ty Cổ phần Cao su Đà Nẵng đang gặp phải chính là việc không tìm được nguồn mua nguyên liệu ổn định trong nước. Do giá mủ cao su tăng liên tục từ tháng 10 năm ngoái đến nay, doanh nghiệp cao su chỉ tập trung cho xuất khẩu chứ không bán cho doanh nghiệp trong nước.

      Ông Lê Quang Thung, Chủ tịch Hiệp hội Cao su VN (VRA) kiêm Quyền Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp cao su VN, cho hay VN là nước xuất khẩu mủ cao su đứng hàng thứ tư thế giới. Tuy nhiên, có một thực tế hiện nay một số nhà sản xuất, chế biến cao su trong nước lại đang thiếu nguyên liệu trầm trọng. Thậm chí ngay cả những thương hiệu sản xuất cao su nổi tiếng thế như Kumho, Kenda… khi vào VN đầu tư cũng không tìm được nguồn nguyên liệu và phải nhập khẩu từ nước ngoài.

      “Hiệp hội ước tính doanh nghiệp sản xuất chỉ sử dụng khoảng 140.000 tấn mủ cao su. Trong khi đó, năm 2010, VN xuất khẩu trên 780.000 tấn cao su nguyên liệu. Vậy tại sao doanh nghiệp trong nước lại không mua được nguồn nguyên liệu trong nước” - ông Thung đặt câu hỏi.

      Theo ông Đạm, đồng ý là việc xuất khẩu nguyên liệu thu về nguồn ngoại tệ cho đất nước. Nhưng trong tình hình hiện nay, Nhà nước đang hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô để tập trung phục vụ sản xuất trong nước, tăng giá trị gia tăng của sản phẩm. Lẽ nào doanh nghiệp sản xuất mủ cao su đang đi ngược lại chủ trương của Nhà nước?

      Doanh nghiệp ngoại trực tiếp mua cà phê, tiêu

      Còn nhớ ở thời điểm giá cà phê tăng lên hơn 40.000 đồng/kg (hiện nay giá cà phê xấp xỉ 50.000 đồng/kg), dân trồng cà phê ùn ùn bán cho doanh nghiệp nước ngoài. hàng loạt doanh nghiệp nước ngoài thay vì mua sỉ thông qua trung gian như trước đây thì nay họ tổ chức mạng lưới thu gom chân rết đến trực tiếp các vùng nguyên liệu.

      Ông Lương Văn Tự, Chủ tịch Hiệp hội Cà phê - Ca cao VN (VICOFA), cho hay hiện tỉ lệ các doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào xuất khẩu cà phê tại VN chiếm tới 40%. Nếu thu gom trực tiếp hàng trong dân thì các doanh nghiệp VN không thể cạnh tranh nổi vì tiềm lực vốn nhỏ, khả năng huy động vốn yếu và lãi suất ngân hàng rất cao.

      “Đặc biệt, việc các doanh nghiệp nước ngoài tổ chức mạng lưới thu mua trực tiếp cà phê trong dân là trái với quy định của pháp luật VN. Cụ thể, tại Thông tư 09/2007/TT-BTM ngày 17-7-2007 của Bộ Công Thương nêu rõ: Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã được cấp phép thực hiện quyền xuất khẩu không được lập cơ sở để thu mua hàng xuất khẩu” - ông Tự cho hay.

      Gần đây, khi giá tiêu tăng cao, một lần nữa nhiều doanh nghiệp thu mua trong nước phải đứng nhìn cảnh người trồng tiêu ưu tiên bán tiêu cho các thương nhân nước ngoài.

      Phải xem lại mình


      Các đối tác nước ngoài giành phần kiểm soát khâu thu mua nguyên liệu nhiều mặt hàng nông sản ngay tại VN phần nào đó gây khó khăn cho doanh nghiệp trong nước. Tuy nhiên, xét cho cùng thì việc để các đối tác nước ngoài ngày càng lấn sân cũng bắt nguồn từ cung cách làm việc yếu kém, thiếu uy tín và sự chuyên nghiệp của doanh nghiệp trong nước.

      Ông Lê Quang Thung, Chủ tịch VRA, cho hay thông thường vào tháng 11 hằng năm, các doanh nghiệp cao su ký hợp đồng mua bán nguyên liệu với đối tác cho cả năm sau. Sau khi hợp đồng đã ký, dù giá cao su thế giới có tăng hay giảm, doanh nghiệp nước ngoài vẫn cam kết lấy hàng, thậm chí còn hỗ trợ khi có khó khăn. Nhưng nếu bán cho doanh nghiệp trong nước, mỗi khi thị trường biến động, người bán có nguy cơ bị xù hàng.

      “Chính cách làm này nên nhiều nhà sản xuất nguyên liệu vẫn muốn xuất khẩu thay vì dành đơn hàng cho doanh nghiệp trong nước” - ông Thung cho biết. Ngoài ra, theo ông Thung, việc các thương hiệu cao su nổi tiếng thế giới dù đầu tư nhà máy tại VN nhưng vẫn nhập khẩu nguyên liệu là do họ chưa tin tưởng vào chất lượng mủ do doanh nghiệp VN sản xuất. Hiện một số doanh nghiệp nhân giá cao su tăng cao, thị trường hút hàng đã pha trộn nhiều tạp chất trong nguyên liệu.

      Phải thừa nhận rằng từ khi doanh nghiệp nước ngoài tham gia thu mua, giá nhiều mặt hàng nông sản tăng vọt. Nông dân cũng có thêm nhiều sự lựa chọn để không bị ép giá như trước đây. Thậm chí không ít ý kiến cho rằng cần phải tạo ra cơ chế bình đẳng trong việc thu mua nguyên liệu giữa doanh nghiệp trong và ngoài nước. Từ đó, nông dân sẽ được hưởng lợi từ cơ chế cạnh tranh này.

      Có thể thấy rằng để xảy ra tình trạng yếu thế ngay trên sân nhà, một phần do sự chủ quan của doanh nghiệp VN. Không ít doanh nghiệp chỉ biết quyền lợi của mình bằng cách ép giá thu mua, bội tín với đối tác… mà quên đi lợi ích của đối tác, nông dân. Vì vậy khi gặp khó khăn, điều dễ hiểu, doanh nghiệp sẽ bị đối tác và nông dân quay lưng.

      TRUNG HIẾU

      Last edited by KENDIZONE; 16-05-2011 at 09:23 PM.

    8. #20707
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      2,592
      Được cám ơn 98 lần trong 85 bài gởi

      Mặc định Bộ Tài chính “đính chính” thông tin mua xe công giá trị lớn

      -NÓNG NẢY QUÁ .... VÀO VẤN ĐỀ CHÍNH CÁI ĐIÊ .... CHỨNG SAO RỒI PÁC ...

      Bộ Tài chính vừa có phản hồi một số bài báo xung quanh dự thảo quy định về quy chế quản lý và sử dụng ô tô phục vụ công tác trong các cơ quan, doanh nghiệp thuộc Bộ Tài chính. Trước đó, một số báo đưa tin dự thảo quy định của Bộ Tài chính cho phép bộ trưởng (và các chức danh có hệ số lương khởi điểm từ 9,7 trở lên) được sử dụng ô tô đưa đón đi làm và công tác với giá mua tối đa 1,1 tỷ đồng (thay vì mức 800 triệu đồng như hiện nay)...

      Lý giải về điều này, Bộ Tài chính cho rằng, những bình luận đề cập trong các bài viết dựa vào thông tin thiếu chính xác, không đầy đủ, bởi dự thảo này tuân thủ theo Quyết định 61 của Thủ tướng Chính phủ.

      Ngoài ra, trên cơ sở những thay đổi về chủ trương, chính sách của Nhà nước và Bộ Tài chính trong một số lĩnh vực thuộc hoạt động quản lý của Bộ Tài chính như: việc thanh toán tiền mặt và nộp tiền thu thuế qua Kho bạc Nhà nước, việc các doanh nghiệp được phép tự in hóa đơn VAT… do vậy nhu cầu sử dụng, trang bị ô tô chuyên dùng trong lĩnh vực hoạt động vận chuyển tiền mặt của Kho bạc Nhà nước, vận chuyển ấn chỉ của các đơn vị hệ thống thuế… cần được và sửa đổi bổ sung cho phù hợp theo hướng giảm chỉ tiêu trang bị xe chuyên dùng, chủ động sắp xếp, bố trí lại ô tô chuyên dùng, hạn chế tối đa việc mua sắm, sử dụng phương tiện ô tô trong toàn ngành tài chính.

      NGỌC QUANG

      Last edited by KENDIZONE; 16-05-2011 at 09:23 PM.

    9. #20708
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      2,592
      Được cám ơn 98 lần trong 85 bài gởi

      Mặc định Lạm phát đang khoét sâu vào đói nghèo

      -SUY NGHĨ ..... XEM VIỆT NAM TA .... VẪN CÒN NGHÈO .... TẠI SAO !

      Lạm phát đang khoét sâu vào đói nghèo

      Một nghiên cứu của Bộ KH&ĐT mới đây đã chỉ ra rằng, khi bóng ma lạm phát bao trùm xã hội, thiếu đói và đình công ở Việt Nam tăng cao. Thu nhập thực của người lao động sụt giảm vì không đuổi kịp nổi tốc độ tăng giá. Mục tiêu giảm nghèo 2% năm nay có thể bị phá vỡ.

      Thu nhập đuổi không kịp với giá sinh hoạt

      Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao đang trở thành nỗi lo ngại lớn nhất không chỉ cho các nhà quản lý chính sách ổn định kinh tế vĩ mô. Vòng xoáy của lạm phát có thể sẽ nhấn chìm các nỗ lực cải thiện chất lượng sống của người dân nghèo.

      Theo nghiên cứu gần đây của bộ KHĐT, nhóm hộ nghèo ở Việt Nam đa số là những người nông dân ở vùng nông thôn, người làm công ăn lương, người hưu trí, hoặc kinh doanh nhỏ lẻ. Nguồn thu nhập chính của người nghèo chủ yếu là từ nông, lâm, thủy sản, chiếm 55,5% tổng thu nhập, tiền lương tiền công chiếm 23,8% tổng thu nhập.

      Khi lạm phát xảy ra, tiền lương tối thiểu thường tăng không đủ bù đắp mức tăng giá. Nguồn thu từ nông nghiệp không "lại" được với tăng giá đầu vào như thuốc trừ sâu, phân bón, thức ăn chăn nuôi, xăng dầu cho vận chuyển, chưa kể, còn chịu rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh. Hồi năm 2008, khi thu nhập người dân chỉ tăng 10-20% thì giá các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đã tăng tới 30-50%.

      Khác với người giàu, tổng thu nhập eo hẹp khiến cho việc chi tiêu cho những nhu cầu tối thiểu của người nghèo là duy trì sự sống, mua lương thực thực phẩm, chất đốt luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, tới 65,1%. Còn chi cho những nhu cầu thuộc về chất lượng sống như nhà ở, điện, nước, vệ sinh, y tế, giáo dục, giải trí... chỉ chiếm 34,9%. Với người giàu, việc ăn uống chỉ tiêu khoảng 45,9% tổng thu nhập, còn lại 54,1% là dành cho các nhu cầu về sức khỏe, giải trí và điều kiện sống khác.

      Do đó, khi giá cả tăng cao, người nghèo sẽ phải dồn khoản tiền kiếm được chỉ để duy trì cuộc sống, như phải tăng thêm 0,5% tiền để mua thực phẩm, lương thực, thêm 0,5% tiền cho thuốc chữa bệnh và 1,4% cho đi lại (giai đoạn 2006-2008). Các nhu cầu may mặc, giáo dục, mua sắm đồ dùng, nhà ở bị co lại từ 0,2- 0,7%, dù nhóm người nghèo luôn được hưởng nhiều chính sách miễn giảm của Nhà nước.

      Đặc biệt, với những người lao động nhập cư, nhóm này còn phải chi thêm tiền thuê nhà thường tăng từ 20-30%, tiền điện, tiền nước thường cao hơn 2-4 lần so với dân địa phương.

      Cũng do tác động lạm phát, thu nhập bình quân của người lao động năm 2008 dù tăng lên 15,3% so với năm 2007 song vẫn thấp hơn tới 4,6% so với tốc độ tăng giá. Tương tự, thu nhập bình quân của người lao động năm 2010 dù tăng lên 10,3% so với năm 2009 thì vẫn bị sụt giảm tới 1,45% so với tốc độ giá cả.

      Các chuyên gia của bộ này nhận định rằng, phản ứng chung của những hộ nghèo trước lạm phát là tiết kiệm mọi chi phí có thể, từ việc chọn nhà thuê rẻ hơn, điều kiện điện, nước, vệ sinh kém hơn, cắt giảm dinh dưỡng..., đồng nghĩa chất lượng sống bị giảm sút.

      Xoáy sâu vào đói nghèo

      Thực tế 2 tháng đầu năm nay và năm 2007-2008 cho thấy, lạm phát đã để lại những những hệ lụy rất xấu tới an sinh xã hội.

      Biểu hiện đáng ngại nhất là tình hình thiếu đói đã tăng cao trong tháng 1 và 2 vừa qua. Số lượt nhân khẩu nông nghiệp thiếu đói đã tăng gần gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2010 với 838,6 nghìn lượt. Đây cũng là số lượng nhân khẩu thiếu đói nhiều nhất kể từ năm 2007 đến nay.

      Nguyên nhân có thể do thiên tai, mất mùa... nhưng trong đó, giá lương thực tăng cao được coi là một yếu tố tác động mạnh nhất. Trong tháng 1, giá lương thực đã tăng 2,28%, thực phẩm tăng 2,74%, đến tháng 2, lần lượt các nhóm hàng này tăng 1,51% và 4,53%.

      Mối liên hệ hữu cơ mật thiết giữa lạm phát và đói nghèo đã được minh chứng ở năm 2008. Đây là năm mà CPI có mức tăng kỷ lục tới 19,9% và khi đó, số lượt nhân khẩu thiếu đói cả năm đã lên tới hơn 4 triệu lượt, cao nhất của giai đoạn 2006-2010. Tình trạng này diễn ra nặng nề ở vùng miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ, duyên hải miền Trung và Tây Nguyên, là những vùng không sản xuất lúa gạo, vốn có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất nước.

      Tiền lương, tiền công tăng lên chỉ là danh nghĩa, không đủ bù đắp mức tăng giá sinh hoạt. Trong khi đó, đây lại là nguồn thu nhập chính của công nhân, lao động tự do, lao động phổ thông. Nghịch lý này đã đẩy quan hệ lao động ở các nhà máy, khu công nghiệp trở nên căng thẳng.

      Bộ KHĐT cho biết, năm 2008, số vụ tranh chấp lao động và đình công đã tăng 30% so với năm 2007. Năm 2009, chỉ số giá "âm", đình công chỉ bằng 30% của năm 2008 nhưng đến năm 2010, chỉ số giá vượt 2 con số thì mọi sự lại có vẻ bất ổn như cũ. Đình công đã xảy ra ở 19 tỉnh, thành cả nước và tăng tới...93% so với năm 2009.

      Khi mức sống bị kéo lùi, lạm phát trở thành bóng ma tác động tiêu cực tới tâm lý của người dân, đặc biệt là người có thu nhập thấp. Vì lẽ đó, lạm phát không đơn giản tạo ra sự bất ổn kinh tế vĩ mô mà còn làm gia tăng sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo trong xã hội.

      Tính thêm trượt giá, nghèo vẫn hoàn nghèo

      Các phân tích của Tổng cục Thống kê còn cho thấy, lạm phát đẩy người nghèo càng nghèo hơn. Các chuẩn nghèo của Việt Nam bỗng dưng bị mất tính chân thực.

      Khi tính các chuẩn nghèo mới của Việt Nam cho giai đoạn 2011-2015, lạm phát năm 2010-2011 được giả định là 8- 8,5% cho khu vực thành thị, 7-7,5% cho khu vực nông thôn. Tuy nhiên, thực tế, CPI bình quân năm 2010 ở 2 khu vực này đã cao hơn lần lượt là 1,92% và 0,58%.

      Dự báo năm 2011, CPI bình quân năm sẽ cao hơn tới 5,4- 6,4% so với mặt bằng trên. Các chuyên gia của Tổng cục này cho biết khi đó, giá trị thực tế của chuẩn nghèo 5 năm tới sẽ bị mất khoảng 7-8% giá trị, tức khoảng 30.000- 40.000 đồng/người/tháng. Vì thế, số hộ nghèo vừa vươn lên... ngưỡng hộ cận nghèo về bản chất, vẫn hoàn nghèo như cũ.

      Một phép logic đã được cơ quan này nêu rõ, khi lạm phát tăng cao thì tỷ lệ giảm nghèo sẽ bị giảm.

      Giả sử như CPI tháng 12/2011 tăng 7%, CPI bình quân là 11,9%, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam có thể giảm được 1,5 điểm %. Nhưng khi CPI tháng 12 năm nay tăng 9%, CPI bình quân năm tăng 13,1% thì tỷ lệ hộ nghèo bị giảm đi 1,3 điểm %. Còn nếu CPI tháng 12 năm nay tăng tới 12%, CPI bình quân tăng 13,9% thì tỷ lệ hộ nghèo sẽ giảm 1 điểm %.

      Như vậy, mục tiêu giảm nghèo của Việt Nam theo Quốc hội đặt ra là giảm 2% sẽ khó đạt được.

      Với những nghiên cứu trên, không thể không lo ngại rằng, một kịch bản về thiếu đói, đình công và bất ổn xã hội nói chung sẽ tái diễn nếu lạm phát năm nay không được kiềm chế tốt. Bên cạnh nhưng giải pháp "đánh trực diện" vào lạm phát như tài khóa, tiền tệ, giảm đầu tư công, giảm bội chi, bộ KHĐT cho rằng, các chương trình giảm nghèo cần phải được rà soát lại.

      Những chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo phải được tăng cường thay vì qua trung gian. Giai đoạn năm 2011-2015 là dịp để nhìn lại sâu sắc hơn việc xã hội cần chia sẻ với Nhà nước, gánh vác các chính sách an sinh xã hội như thế nào và sự chủ động vươn lên của các hộ nghèo đến đâu?

      Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015, hộ nghèo ở nông thôn có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống, hộ nghèo ở thành thị có thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống. Hộ cận nghèo ở 2 khu vực này lần lượt có thu nhập từ khoảng 401.000 đồng- 520.000 đồng/người/tháng và 501.000- 650.000 đồng/người/tháng.

      Hiện, cả nước có 3,1 triệu hộ nghèo, chiếm 14,42% và 1,65 triệu hộ cận nghèo, tỷ lệ 7,69%. Các tỉnh có hộ nghèo nhiều nhất là Lào Cai, Điện Biên (trên 50%), Lai Châu, Hà Giang (trên 40%), Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Sơn La, Hòa Bình, Kon Tum (trên 30%).

      Chỉ số giá tiêu dùng tháng 1 tăng 1,75%, tháng 2 tăng 2,09%, tháng 3 tăng 2,17% và tháng 4 tăng 3,32% so với tháng liền kề trước. So với tháng 12/2010, chỉ số giá tháng 4 tăng 9,64%. Bình quân 4 tháng năm 2011 so với cùng kỳ năm 201, CPI tăng 13,95%.
      Last edited by KENDIZONE; 16-05-2011 at 09:23 PM.

    10. #20709
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      2,592
      Được cám ơn 98 lần trong 85 bài gởi

      Mặc định Giải quyết “bộ ba”: Lạm phát, tỷ giá và lãi suất

      Giải quyết “bộ ba”: Lạm phát, tỷ giá và lãi suất

      Với sự quyết tâm của hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân, sau gần 3 tháng thực hiện, những mục tiêu đặt ra trong Nghị quyết 11 của Chính phủ đã đạt kết quả bước đầu. Tuy nhiên đến nay, mục tiêu kiềm chế lạm phát vẫn đang là vấn đề bức xúc của xã hội.

      PV có cuộc trao đổi với TS TRẦN DU LỊCH, Phó Trưởng đoàn chuyên trách đoàn đại biểu Quốc hội TPHCM, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia, xoay quanh chủ đề này.


      Kiên trì thực hiện các giải pháp

      - Phóng viên: Ông đánh giá tác động Nghị quyết 11 của Chính phủ sau gần 3 tháng thực hiện, diễn biến thị trường thế nào?


      TS TRẦN DU LỊCH: Nghị quyết 11 ngày 24-2-2011 của Chính phủ ban hành “gói giải pháp” kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, tuy hơi chậm so với yêu cầu của tình hình nhưng có thể xem là “liều thuốc mạnh” không chỉ mang tính chất tình thế mà còn có ý nghĩa, tạo điều kiện để thực hiện các chính sách kinh tế - tài chính hướng đến một nền kinh tế vĩ mô ổn định cho những năm sau. Trong 6 nhóm giải pháp, có thể nói 2 nhóm giải pháp về tiền tệ và tài khóa đóng vai trò quyết định đối với mục tiêu kiềm chế lạm phát.

      Hai nhóm giải pháp trên nhằm giảm tổng cầu của nền kinh tế, nên sẽ tác động làm giảm lạm phát và dĩ nhiên cũng sẽ kéo giảm tốc độ tăng GDP. Trước mắt giải quyết “bộ ba”: Lạm phát - tỷ giá và lãi suất, nhưng cũng sẽ tác động làm giảm nhập siêu, giảm nợ công, tạo điều kiện để hướng đến mục tiêu xa hơn là giải quyết các cân đối vĩ mô như thu - chi ngân sách; cán cân vãng lai; tiết kiệm - đầu tư; tích lũy - tiêu dùng…

      Tuy nhiên, do có độ trễ của chính sách nên chưa thể có tác dụng tức thời, nhưng thực tế thị trường cho thấy cách làm là đúng hướng và chắc chắn sẽ kéo giảm mức tăng CPI trong những tháng tới; trước mắt đã ổn định được tỷ giá VND, kéo tỷ giá VND/USD xuống mức dưới 21.000 đồng/USD, xóa được tình trạng “2 giá” tồn tại từ quý 4-2010.

      Khi đã kéo giảm được CPI, giải quyết được tâm lý “lạm phát kỳ vọng” thì sẽ có điều kiện để giảm lãi suất. Thực tế tình hình đòi hỏi trong năm 2011 phải giải quyết cho được “bộ ba”: Lạm phát, tỷ giá và lãi suất. Do đó, cần phải kiên trì thực hiện những giải pháp đã đề ra; không để lạm phát như “con ngựa bất kham”.

      - Đồng ý rằng có độ trễ của chính sách, nên trong hai tháng 3 và 4 vừa qua, chỉ số CPI không những không giảm mà còn tăng rất cao, nhưng nếu không xác định rõ nguyên nhân lạm phát thì liệu các giải pháp hiện nay có căn cơ không?

      Lạm phát có nhiều nguyên nhân, nhưng luôn luôn thể hiện sự mất cân đối hàng - tiền trong nền kinh tế vĩ mô. Nhưng để chống lạm phát không chỉ đơn giản là giảm lượng tiền, mà phải xem xét từ gốc vấn đề, nếu không chúng ta chỉ can thiệp để “hạ nhiệt” mà không trị được căn nguyên của bệnh. Ngoài nguyên nhân sâu xa về cơ cấu kinh tế, tôi muốn đề cập nguyên nhân dẫn đến sự mất cân đối hàng - tiền.

      Từ năm 2007 đến năm 2010, bình quân mỗi năm để tăng GDP 1 đồng thì dư nợ tín dụng đến gần 5 đồng, cá biệt năm 2009 cần đến 7 đồng; trong khi đó bình quân của giai đoạn 2001 - 2005 chỉ cần khoảng hơn 3 đồng. Những con số trên lý giải tại sao dư nợ tín dụng vẫn tăng cao đạt đến mức 1,2 lần GDP (thông thường các nước trong khu vực chỉ bằng 0,5 - 0,6 GDP) nhưng nền kinh tế vẫn thiếu vốn.

      - Ông có thể giải thích rõ hiện tượng trên?

      Tôi có 3 nhận xét về nguyên nhân của tình hình trên sau đây: (1) bong bóng của thị trường chứng khoán (TTCK) và thị trường bất động sản từ cuối năm 2006 đến cuối năm 2007 đã tạo đột biến thị trường tín dụng, nó đã hình thành lượng tài sản ảo so với nền kinh tế thực (sự chênh lệch giữa tài sản tài chính với tài sản thực) mà lạm phát trong 2 năm 2007 - 2008 đã san bằng một phần khoản chênh lệch đó bằng một mặt bằng giá mới. Sự tăng tín dụng các năm đó không tạo ra sự tăng tài sản thực đáng kể của nền kinh tế mà chỉ biểu hiện ở GDP danh nghĩa; (2) trong 3 năm qua 2008 - 2010, TTCK chủ yếu hoạt động ở thị trường thứ cấp, mọi nguồn vốn hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp đều dựa vào hệ thống ngân hàng thương mại. Chính trong giai đoạn này là thời kỳ mất cân đối cung - cầu “dịch vụ tín dụng ngân hàng”, nên cũng là giai đoạn tạo ra “mảnh đất màu mỡ “cho các ngân hàng thương mại cổ phần nhỏ ra đời hoạt động, đua tranh làm bùng nổ tín dụng và nghiêm trọng hơn là chạy đua lãi suất, gây nhiễu thị trường tín dụng; làm cho chính sách tiền tệ mất phương hướng, phải liên tục đối phó ngắn hạn, nguy cơ bất ổn tăng cao; (3) tình trạng bội chi ngân sách triền miên ngày càng lớn như “chiếc thùng không đáy”; đầu tư công thiếu đồng bộ và không tuân thủ nguyên tắc chi phí cơ hội đã góp phần tăng nhanh hệ số ICOR. Một khối lượng tiền khá lớn đưa vào khu vực này, nhưng do tiến độ đầu tư kéo dài, thiếu đồng bộ nên không tạo ra khối lượng tài sản tương ứng làm mất cân đối hàng - tiền.

      Chưa có áp lực lớn trước mắt


      - Trong 3 nguyên nhân trên ông có nhấn mạnh vấn đề đầu tư công, nhưng có lần ở diễn đàn Quốc hội ông ủng hộ việc bội chi ngân sách để đầu tư mà?

      Vâng, đến nay tôi vẫn ủng hộ, nhưng phải có điều kiện. Trong nhiều năm nữa, nước ta còn phải thực hiện chính sách chủ động bội chi ngân sách bằng con đường vay nợ để đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật và xã hội, thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đất nước. Đó là chính sách tài chính công tích cực trong điều kiện tích lũy của nền kinh tế còn thấp, tiết kiệm nội địa chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển bền vững. Nhưng chính sách này phải kèm theo các điều kiện rất nghiêm ngặt như: phải có chiến lược nợ Chính phủ và nợ quốc gia rõ ràng; những điều kiện bảo đảm hiệu quả trong đầu tư; khả năng trả nợ hàng năm, cả về VND lẫn ngoại tệ…

      Tuy nhiên, thực tế trong các năm qua, việc bội chi ngân sách nhà nước chưa thật sự tuân thủ các điều kiện nêu trên và nhiều điều kiện khác nữa nên chính sách “tài chính công tích cực” đã trở thành nhân tố tiêu cực, có nguy cơ gây bất ổn cho nền tài chính quốc gia. Tình trạng các ngành và địa phương đưa ra quá nhiều dự án, trong khi đó nguồn vốn rất hạn chế, nên nơi nào, ngành nào “chạy” thủ tục sớm thì được chấp thuận và giải ngân sớm, nơi nào chậm thì để lại. Cách làm này dẫn đến hệ quả là phá vỡ tính ưu tiên và tính đồng bộ của đầu tư, tình trạng “vốn nằm” khắp nơi; ngân sách phải trả lãi, nhưng dự án thì phơi sương phơi gió. Với cách phân bổ vốn đầu tư như hiện nay, dường như chúng ta lâm vào tình trạng “phóng lao phải theo lao” dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách không có điểm dừng.

      - Thưa ông, dư luận đang lo lắng về sự mất an toàn nền tài chính quốc gia khi nợ Chính phủ đang tiếp cận với mức 60% GDP, vậy đâu là “ngưỡng an toàn”?

      Cơ cấu nợ công (theo khái niệm nợ công đã được định nghĩa trong Luật Quản lý nợ công) của nước ta hiện nay, chủ yếu là nợ dài hạn, nên chưa có áp lực lớn về khả năng trả nợ trước mắt. Ví dụ năm 2011 bố trí 85.000 tỷ đồng để trả nợ so với 590.000 tỷ đồng thu ngân sách (tỷ lệ gần 15%) thì vẫn an toàn. Tuy nhiên, nếu phần thu còn lại sau khi trả nợ và chi thường xuyên ngày càng giảm tiếp cận đến 0 thì việc vay nợ đã đến ngưỡng mất an toàn. Nếu không có dự báo xa ở tầm quốc gia cũng như doanh nghiệp nhà nước, mà đến khi thấy sự mất an toàn xuất hiện thì không còn khả năng chống đỡ và lâm vào tình trạng “vỡ nợ”.

      - Xin cảm ơn ông!


    11. #20710
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      2,592
      Được cám ơn 98 lần trong 85 bài gởi

      Mặc định Giá thế giới có giảm, xăng VN vẫn khó hạ

      Giá thế giới có giảm, xăng VN vẫn khó hạ

      Giá xăng dầu thế giới đang giảm và tỷ giá USD đã hạ nhiệt, nguồn cung USD tại ngân hàng cũng dồi dào hơn khiến nhiều người kỳ vọng giá xăng trong nước nhiều cơ hội hạ "nhiệt". Nhưng hầu hết các doanh nghiệp đều tiết lộ là chưa nghĩ đến "viễn cảnh" đó.

      Giá dầu thô trên thế giới bắt đầu xu hướng tăng liên tục từ cuối tháng 3, từ mức 104,8 USD một thùng vào ngày 29/3 lên đỉnh 113,9 USD một thùng vào ngày 29/4. Sau đó, giá bắt đầu chững lại và quay đầu giảm, tới ngày 11/5 thì về mức 98,2 USD một thùng. Như vậy, so với mức 104,8 USD một thùng vào ngày 29/3 (ngày tăng giá xăng trong nước) thì giá dầu thô thế giới hiện đã giảm 6,6 USD mỗi thùng (tương đương 6,3%). Còn so với mức giá đỉnh trong đợt "sốt" vừa qua, giá dầu thô giảm tới 15,7 USD (tương đương gần 14%).

      Còn giá USD trong nước cũng đã hạ mạnh so với thời điểm giá xăng tăng 2 lần trước. Cụ thể, tỷ giá USD tại ngân hàng bắt đầu xu hướng giảm kể từ ngày 19/4 đến nay. Nếu như trước đó giá USD ở mức 20.940 đồng thì sau 19/4, tỷ giá tại các nhà băng đã giảm đáng kể, và mức thấp nhất là 20.590 đồng một USD vào ngày 28/4.

      Không những tỷ giá USD giảm mà các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu còn dễ dàng mua USD hơn từ ngân hàng thời gian gần đây, chứ không còn gặp khó khăn như trước. Hiện nguồn cung cho doanh nghiệp xăng dầu đầu mối đã tăng đáng kể, có doanh nghiệp mua được hơn 1 tỷ USD. Còn trong báo cáo về hoạt động ngân hàng tháng 4/2011, Ngân hàng Nhà nước cho biết, Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) đã mua được khoảng 898 triệu USD để thanh toán nhập khẩu xăng dầu.

      Những yếu tố trên là nhân tố chính tác động lên sự tăng giảm của giá xăng trong nước. Thế nhưng giá xăng dầu bán lẻ hiện vẫn chưa có động thái nào cho thấy sẽ giảm thời gian tới. Một đại diện của Bộ Tài chính cũng cho hay, chưa nhận được văn bản đề nghị giảm giá của doanh nghiệp nào.

      Theo giải thích của ông Đặng Vinh Sang, Tổng giám đốc Saigon Petro, đúng là giá xăng thế giới đang giảm, nhưng theo quy định của Bộ Tài chính thì giá xăng bán lẻ phải tính trên giá cơ sở nhập từ thị trường Singapore trong vòng 30 ngày trước đó. “Nếu tính theo cách này, giá xăng Ron 92 bán ra hiện tại (22.230 đồng một lít) đang lỗ tới 900 đồng mỗi lít. Hơn nữa, thời điểm giá dầu thô thế giới giảm mạnh mấy hôm trước, giá xăng dầu thành phẩm tại thị trường Singapore cũng có hạ nhiệt nhưng mức giảm không tương xứng, trong khi các doanh nghiệp đầu mối tính giá cơ sở là giá nhập từ thị trường Singapore”.

      Còn ông Vương Đình Dung, Tổng giám đốc Công ty xăng dầu Quân đội thì phản ứng: “Các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu đã lỗ nặng 7 – 8 tháng nay, giờ giá xăng mới giảm được vài ngày đã nhằm nhò gì. Nhiều thời điểm doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu lỗ do giá xăng dầu thế giới lên cao, thì khi giá xăng dầu thế giới giảm cũng cần độ trễ để các doanh nghiệp giảm giá. Tính giá cơ sở trung bình 30 ngày qua thì giá xăng bán ra tại Công ty xăng dầu Quân đội đang lỗ trên dưới 1.000 đồng”.

      Nhận định liệu giá xăng có giảm thời gian tới khi giá dầu thô thế giới tiếp tục xu hướng giảm, một số doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu cho rằng việc này khó xảy ra. Theo Tổng giám đốc Saigon Petro Đặng Vinh Sang, có nhiều khả năng Bộ Tài chính sẽ nâng thuế nhập khẩu xăng dầu lên, chứ ít có khả năng giá xăng dầu bán ra trong nước giảm trong ngắn hạn. Bời thời gian qua, giá xăng dầu thế giới lên cao, để kiềm lạm phát trong nước, Bộ Tài chính đã miễn thuế nhập khẩu xăng dầu cho các doanh nghiệp (từ ngày 23/2). Trong khi đó, một nguồn thu lớn của ngân sách nhà nước là từ thuế nhập khẩu xăng dầu, khoảng vài chục nghìn tỷ đồng mỗi năm. Vì vậy, thuế nhập khẩu mặt hàng trọng yếu này khó mà giữ mức 0% lâu được.

      Đan Thanh


    12. #20711
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      2,592
      Được cám ơn 98 lần trong 85 bài gởi

      Mặc định Ma lực bí ẩn của 'phố Đông' Sài Gòn

      -MUA VÔ ..... MUA VÔ .... MẠI DZÔ .... MẠI DZÔ ... GIÁ GHẺ BẤT NGỜ ....
      Những dự án hạ tầng trọng điểm của TP HCM đều được “dồn” về cửa ngõ phía Đông đã giúp cho thị trường bất động sản khu vực này sôi động hơn hẳn những nơi khác.

      Ông Phạm Trung Tín, Phó giám đốc Công ty địa ốc Hưng Thịnh Phát, nhìn nhận, nếu quan sát kỹ thì hiện nay, TP HCM đang tập trung phát triển về cửa ngõ Đông, gồm quận 2, 9 và Thủ Đức, khi hàng loạt dự án hạ tầng trọng điểm được dồn về đây.

      TP HCM "dồn" về phía Đông

      Nhằm thu hút các nhà đâu tư cũng, như tạo cú hích”về cơ sở hạ tầng, trong những năm qua, Chính phủ cũng như TP HCM đã tập trung xây dựng hàng loạt công trình giao thông quan trọng tại cửa ngõ phía Đông thành phố, như đường cao tốc TP HCM - Long Thành - Dầu Giây, đường vành đai -Tân Sơn Nhất - Bình Lợi, cầu Thủ Thiêm, Phú Mỹ nối quận 2 với quận 7, mở rộng tỉnh lộ 25B, mở rộng xa lộ Hà Nội… Giới kinh doanh địa ốc cho rằng, ngoài những công trình trên, khi hầm chui Thủ Thiêm, tuyến metro Bến Thành - Suối Tiên… đưa vào sử dụng sẽ “thổi bùng” thị trường địa ốc khu vực này.

      Hiện chỉ riêng trên địa bàn quận 2 đã có khoảng 260 dự án bất động sản, trong đó khu đô thị mới Thủ Thiêm là “hoành tráng” nhất. Theo định hướng phát triển, đây sẽ là khu đô thị hiện đại văn minh được quy hoạch đồng bộ với trung tâm thương mại, ngân hàng - tài chính của các tập đoàn đa quốc gia… Trong tương lai không xa, nơi đây sẽ là “Phố Đông” của Sài Gòn.

      Ông Đoàn Chí Thanh, Tổng giám đốc Công ty địa ốc Hoàng Anh Sài Gòn, cho rằng, do hạ tầng khu vực phía Đông được thành phố tập trung “chăm bẳm” nên phát triển khá đồng bộ và hiện đại. “Hiện nay, các doanh nghiệp địa ốc ngại làm dự án ở khu vực phía Nam là quận 4, 7, huyện Nhà Bè, bởi cái bóng của khu đô thị Phú Mỹ Hưng quá lớn. Trong khi đó, mặt bằng giá ở khu vực này cũng khá cao, nếu nếu triển khai dự án rất khó bán. Điều này đã kéo các doanh nghiệp BĐS “đổ” về đây làm dự án”.

      Làn sóng mới

      Tổng giám đốc Công ty Nhà Việt Nam Trần Văn Thành thì cho biết, hiện công ty chỉ tập trung phát triển những dự án ở quận 2, 9. “Công ty đang tìm kiếm thêm quỹ đất để phát triển dự án, nhưng nếu được ở quận 9 là tốt nhất, bởi điều kiện tự nhiên và hạ tầng khu vực này quá ổn”, ông Thành khẳng định.

      Do những dự án hạ tầng được triển khai vào đúng thời điểm thị trường bất động sản rơi vào đợt suy thoái, nên hiện nay mặt bằng giá ở khu vực quận 2, 9 và Thủ Đức vẫn còn rẻ hơn so với khu Nam Sài Gòn hay khu vực cửa ngõ phía Tây. Như ở khu Nam Sài Gòn, hiện giá chào bán căn hộ cao cấp lên đến 30 - 40 triệu đồng một m2, trong khi giá bán căn hộ cao cấp có chất lượng tương đương ở khu vực quận 2 chỉ từ 20 - 25 triệu đồng. Giá bán hợp lý cũng môi trường sống khá tốt đã giúp số lượng giao dịch của những dự án ở khu vực này thành công lớn. Nhưng cũng vì vậy mà nhiều chủ đầu tư các dự án khu vực Đông Sài Gòn đang “nhăm nhe” chuyện tăng giá bán trong thời gian tới.

      Ông Hoàng Anh Tuấn, Tổng giám đốc công ty Tấc Đất Tấc Vàng, cho rằng, nhà đất ở khu vực nội thành như quận 1, 3, Bình Thạnh, Phú Nhuận hay khu Nam Sài Gòn… đã có mức giá khá cao, nên đang bão hòa. Trong khi đó, khu vực phía Đông, do là thị trường mới nổi nên giá nhà đất còn hấp dẫn. Trong tương lai không xa, khi những dự án hạ tầng quan trọng mà thành phố đang đầu tư được hoàn thành, sẽ giúp thị trường bất động sản khu vực phía Đông phát triển mạnh.

      Đình Sơn


    13. #20712
      Ngày tham gia
      Mar 2007
      Bài viết
      198
      Được cám ơn 38 lần trong 27 bài gởi

      Mặc định

      Nguy hiểm quá... bệnh sắp phát ra rồi.
      “Bom nổ chậm” ở VDB?
      Trong hoạt động tín dụng, rủi ro đến đâu, trích lập dự phòng đến đó, nhưng ở Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB), mặc dù dư nợ mỗi năm hàng nghìn tỷ đồng, nhưng dự phòng rủi ro được cào bằng một mức: 0,5%/tổng tài sản có rủi ro!
      * VDB: “Chúng tôi cho vay theo chỉ đạo”
      So sánh tỷ lệ phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro giữa VDB và các tổ chức tín dụng, thậm chí với các tổ chức tài chính vi mô như quỹ tín dụng nhân dân, thấy rằng, những đồng vốn của VDB đang song hành với quá trình phiêu lưu mạo hiểm.
      Tổng số vốn VDB giải ngân từ 2006 - 2010 là 83 nghìn tỷ đồng
      Tiền Nhà nước nên ít rủi ro?
      Theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 và Quyết định 18 ngày 25/4/2007, sửa đổi một số điều của Quyết định 493, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng phải trích lập dự phòng rủi ro như sau.
      Đầu tiên, tổ chức tín dụng phải đánh giá và phân loại nợ theo nhóm từ 1 đến 5 đối với tất cả tài sản có rủi ro, bao gồm cho vay và cam kết bảo lãnh.
      Thứ hai, tổ chức tín dụng thực hiện trích lập dự phòng rủi ro theo hai cấp độ. Cấp độ 1: trích lập dự phòng chung với mức 0,75% đối với tất cả tài sản có rủi ro (như nói trên) đối với các nhóm nợ được phân loại từ 1 đến 4. Cấp độ 2: trích tiếp dự phòng rủi ro theo từng mức độ rủi ro của từng nhóm nợ sau khi phân loại nợ. Cụ thể: nợ nhóm 1: 0%; nợ nhóm 2: 5%; nợ nhóm 3: 20%; nợ nhóm 4: 50% và nợ nhóm 5 trích 100%.
      Để chiếc “áo giáp” dự phòng rủi ro thêm chắc chắn, Ngân hàng Nhà nước còn “nhốt” của các tổ chức tín dụng một lượng dự trữ bắt buộc đối với VND kỳ hạn dưới 12 tháng là 3% và trên 12 tháng là 1% trên tổng số dư huy động.
      Chưa kể, tổ chức tín dụng còn phải tham gia phí bảo hiểm tiền gửi với mức 0,15%/năm (tính trên số dư tiền gửi bình quân của các loại tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi) và cùng đó là một loạt hệ số an toàn như CAR, thanh toán nhanh 1 ngày, 7 ngày… được các tổ chức tín dụng cho là rất ngặt nghèo.
      Tất cả những quy định này không ngoài mục đích giữ thanh khoản cho tổ chức tín dụng, và bảo vệ quyền lợi người gửi tiền.
      Thậm chí, ngay cả với tổ chức tài chính vi mô, Ngân hàng Nhà nước cũng có hẳn Thông tư số 15/2010/TT-NHNN ngày 16/6/2010 về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro.
      Cụ thể, đối tượng trên cũng phải phân loại nợ theo 5 nhóm và tỷ lệ trích là: nợ nhóm 1: 0%; nhóm 2: 2%; nhóm 3: 25%; nhóm 4: 50%; nhóm 5: 100%. Ngoài ra, mức trích dự phòng chung của tổ chức tài chính quy mô nhỏ là 0,5%/dư nợ gốc toàn bộ các khoản nợ từ 1 đến 4.
      Vậy còn việc phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro ở VDB thì sao? Theo Quyết định 44/2007/QĐ-TTg ngày 30/3/2007 của Chính phủ và Thông tư số 111/2007/TT-BTC ngày 12/9/2007 về quy chế quản lý đối với VDB thì ngân hàng này được hưởng một cơ chế, mà nếu xét về mặt an toàn thì độ rủi ro chỉ lớn hơn số không một chút.
      Trước hết, các văn bản trên khẳng định: “Hoạt động của VDB không vì mục đích lợi nhuận, tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi”.
      Tiếp đó, trong các văn bản này đều yêu cầu VDB phải phân loại nợ theo hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước nhưng trích lập quỹ dự phòng rủi ro lại có tỷ lệ hết sức… tượng trưng: 0,5%/dư nợ bình quân đối với tất cả các loại tài sản có rủi ro, bao gồm từ cho vay đầu tư, cho vay tín dụng xuất khẩu, nghĩa vụ bảo lãnh tín dụng đầu tư, tín dụng xuất khẩu và bảo lãnh dự thầu và thực hiện hợp đồng của ngân hàng này.
      Những tưởng, “mức 0,5%” nói trên sẽ được thay đổi nhưng 4 năm sau, khi xây dựng “Nghị định về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu Nhà nước”, các cơ quan chấp bút văn bản này vẫn giữ nguyên tỷ lệ trích lập nói trên. Điều này khiến nhiều người nghĩ rằng, 100% dư nợ tín dụng đầu tư và xuất khẩu của Nhà nước qua VDB gần như không có rủi ro!
      Ngân sách có kịp… đón lõng?
      Trước cách thức trích lập dự phòng rủi ro như trên của VDB, người viết đã đặt câu hỏi với một nữ chuyên gia tài chính: phải chăng, tiền của Nhà nước thì ít rủi ro so với tiền vay của người dân và tổ chức kinh tế? Vị chuyên gia này không khỏi ngạc nhiên: “Càng tiền của Nhà nước, càng nhiều rủi ro và trích lập ở mức đó là hết sức mạo hiểm”.
      Theo bà, ba năm trước đây, khi VietinBank (CTG) thực hiện cổ phần hóa, Nhà nước phải tái cấp vốn khoảng 3.000 tỷ đồng để ngân hàng này có nguồn bù đắp để trích lập làm dày quỹ dự phòng rủi ro. Bởi nếu không, VietinBank sẽ phải cấu nguồn khác vào để trích lập đủ. Lúc đó, chi phí sẽ ăn vào vốn điều lệ thực, làm cho lỗ lũy kế tăng lên, rất khó cổ phần hóa.
      Một nguyên tắc của Basel đối với an toàn vốn là phải trích lập dự phòng tương ứng mức độ rủi ro, chứ không phải đợi đến lúc rủi ro xảy ra mới hạch toán vào chi phí thì không thể lấy đâu ra nguồn bù đắp.
      “Chưa cần xông vào số liệu, chỉ cần nhìn vào cơ chế, đã thấy luôn rủi ro. Với mức trích lập 0,5%/tổng dư nợ cho toàn hệ thống, đó là mức quá thấp so với mức độ rủi ro và không khác gì quả bom nổ chậm”.
      Có thể là vội vàng khi chưa nhìn thấy những số liệu cân đối tài chính của VDB mà đã đánh giá dư nợ của VDB là “bom nổ chậm”, nhưng nhìn vào cơ cấu nguồn vốn và cơ chế hoạt động của ngân hàng này, sẽ có cảm nhận, VDB càng cho vay càng thấy…lo!
      Thứ nhất, rất nhiều lần, ông Nguyễn Quang Dũng, Tổng giám đốc VDB khẳng định: ngân hàng này hoạt động hoàn toàn phi lãi, chủ yếu thực hiện nhiệm vụ cung cấp tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu theo chỉ đạo của Chính phủ. Một vấn đề đặt ra, nếu hoạt động phi lãi thì tất nhiên, VDB không thể lấy đâu ra nguồn để trích lập dự phòng rủi ro.
      Tuy nhiên, vị nữ chuyên gia nói trên cho rằng, đã hoạt động tín dụng thì phải có rủi ro, đã có rủi ro thì phải trích lập dự phòng. Khi trích thì phải đưa vào chi phí, thiếu chi phí thì nhà nước phải cấp vào. Không thể có chuyện nay mai rủi ro xảy ra thì lấy đâu nguồn xử lý?
      Thứ hai, nguồn vốn của VDB hoàn toàn là ngân sách chuyển sang và vốn vay ODA, có những năm, tỷ lệ vốn ODA chiếm tới 40% cơ cấu nguồn. Một điều đáng quan tâm là tín dụng của VDB chủ yếu là trung - dài hạn, giả định rằng, đến hạn trả nợ nhưng không thu hồi được nợ thì không hiểu VDB sẽ xoay xở như thế nào?
      Đặc biệt, trong các dự toán ngân sách ngắn hạn và dài hạn của Chính phủ, chưa bao giờ nhắc đến khoản mục dự phòng bù đắp hay đón lõng rủi ro nếu VDB mất vốn. Rất có thể, lúc đó ngân sách sẽ è cổ ra gánh vác nhưng không lẽ, với cả trăm nghìn tỷ đồng mà lại “mất bò mới lo làm chuồng”?
      Được “hoán cải” từ Quỹ Hỗ trợ phát triển, từ 1/7/2006, VDB trở thành Ngân hàng Phát triển Việt Nam. Mang danh là “ngân hàng” nhưng thực tế, VDB chỉ “đánh trống ghi tên” ở Ngân hàng Nhà nước còn toàn bộ nguồn vốn lại ở Bộ Tài chính. Vì thế, khi nhận thấy hoạt động của VDB không tuân thủ theo các chuẩn mực an toàn (như nói trên), không ít lần Ngân hàng Nhà nước “mặt nặng mày nhẹ” nhưng đến nay, VDB vẫn “lạc lõng” giữa cộng đồng tổ chức tín dụng.
      Một vấn đề đáng lưu ý khác, Quyết định 44/2007/QĐ-TTg quy định: “Trong thời hạn 120 ngày, kể từ ngày kết thúc năm tài chính, VDB phải công khai các báo cáo tài chính theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên, dù hoạt động đã 5 năm nay, nhưng ở mục “báo cáo thường niên” trên cổng thông tin của ngân hàng này vẫn trắng xóa.
      * Do chưa thể tiếp cận với lãnh đạo VDB, chúng tôi tạm sử dụng một số thông tin mới nhất nhưng chưa chính thức mà tòa soạn có được xung quanh doanh số hoạt động của VDB:
      “Tổng số vốn VDB giải ngân từ 2006 - 2010 là 83 nghìn tỷ đồng. Trong đó, dư nợ VND đến thời điểm này khoảng 90 nghìn tỷ đồng, tăng gấp hai lần so với lúc bắt đầu hoạt động (7/2006); đạt tốc độ tăng bình quân mỗi năm 20%, tương đương 3% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
      Hiện tại, VDB đang quản lý 2.346 dự án, tổng số vốn vay theo hợp đồng tín dụng là 155.495 tỷ đồng. Trong đó có 105 dự án nhóm A với vốn vay 73.583 tỷ đồng”.
      CAN MAN KHAC TAU BIET THU

    14. #20713
      Ngày tham gia
      Apr 2007
      Bài viết
      1,241
      Được cám ơn 899 lần trong 498 bài gởi

      Mặc định

      Ai Tin Tưởng, ai Phó Thác? Tin Tưởng khi nào? Phó Thác khi nào?
      Last edited by KENDIZONE; 16-05-2011 at 09:22 PM.

    15. #20714
      Ngày tham gia
      Oct 2009
      Bài viết
      940
      Được cám ơn 106 lần trong 81 bài gởi

      Mặc định

      đề nghị anh giầu khẩn trương tăng tỉ lệ dự trữ bắt buộc ....để chống lạm phá...................đề nghị bộ tài chính nhanh chóng tăng giá xăng dầu ,điện ,than cho sánh vai cùng các cường quốc năm châu.đề nghi chính phủ thành lập thêm nhiều tập đoàn kinh tế mũi nhọn theo mô hình vinashi chuyên sản xuất máy bay .tàu vũ trụ,đề nghi các tập đoàn tkv,pvn khẩn trương khai thác tài nguyên khoáng sản tranh thủ khi giá trên thế giới đang tăng cao.cuối cùng đề nghi anh bằng ra quyết định bỏ biên độ giao dich trên ttck. chấp nhận cho tất cả các doanh nghiêp niêm yết tự do phát hành cp không giới hạn, đề nghị cp quản lý thật chăt tt bất đông sản ,nhiều biệt thự ,đất đai bỏ hoang cần thiết ra lênh tịch thu luôn .đưa b đ s về giá trị thực thấp hơn bây giờ 10 lần, 20 lần,50 lần càng tốt...........................

    16. #20715
      Ngày tham gia
      Nov 2007
      Bài viết
      5,055
      Được cám ơn 317 lần trong 206 bài gởi

      Mặc định

      Trích dẫn Gửi bởi vitara Xem bài viết
      Mẹ kiếp.

      Khắp nơi kêu gào đói khổ.

      Tôi sinh ở Hà Nội, 35 năm học tập làm việc gắn chặt với đất mẹ. Nói về tình yêu Hà Nội thì nhiều hơn bất cứ thằng cán bộ nào hiện đang ngồi ở Uỷ ban thành phố.

      Thế nhưng tình yêu đó đã giảm 1/2 từ khi bọn ch-ó chết vì lợi ích cá nhân mà ra cái quyết định mở rộng địa giới sát nhập Hà Nội, để rồi ngay sau đó Hà Nội trở thành nơi có tỷ lệ học vấn thấp nhất nước, thành nơi toàn rác sau những ngày đại lễ, thành nơi ... toàn K-ứt (sân bay Nội bài).

      Đến ngày hôm nay thì phần tình yêu 1/2 đó chả còn lại gì. Mẹ kiếp toàn lũ Ch-ó đẻ.

      Xưa kia yêu nước nên tự nhủ mình nếu thấy cảnh trái ngang thì ra tay giúp ích cho cộng đồng. Chứ bây giờ nói thật nếu có Bạo động, Bạo loạn xảy ra thì em cũng khoanh tay đứng nhìn... Đéo giúp nhưng cũng *** ngăn cản. Biết đâu nhờ đó mà đất nước có khi lại tốt hơn.

      Tự thề cố gắng tích góp sau này cho con cái nhập tịch nước khác. Đéo làm người Việt Nam nữa.
      vỗ tay ... bốp bốp ... hehehe ... hành động khôn ngoan ... hehehe

    17. #20716
      Ngày tham gia
      Nov 2007
      Bài viết
      5,055
      Được cám ơn 317 lần trong 206 bài gởi

      Mặc định

      Bác này phí lời roài ... hnay có thêm vài bác mới tò te lên đây chửi ... hà hà hà...tin tích cực đây ...
      Last edited by KENDIZONE; 16-05-2011 at 09:21 PM.

    18. #20717
      Ngày tham gia
      Nov 2007
      Bài viết
      5,055
      Được cám ơn 317 lần trong 206 bài gởi

      Mặc định

      Trích dẫn Gửi bởi chunggavit Xem bài viết
      Thủ đô HÀ NỘI chỉ nên gói gọn trong 36 phố phường là đủ .
      Cứ từ từ đã để chúng tao xả hết đất đầu cơ roài chúng tao sẽ lại cho tách ra... lý do: Quản lý không nổi ... hahaha

    19. Có 2 thành viên đã cám ơn hailua2008 :
      bovo (16-05-2011), chunggavit (16-05-2011)

    20. #20718
      Ngày tham gia
      Oct 2009
      Bài viết
      294
      Được cám ơn 21 lần trong 17 bài gởi

      Mặc định

      Trích dẫn Gửi bởi hailua2008 Xem bài viết
      Bác này phí lời roài ... hnay có thêm vài bác mới tò te lên đây chửi ... hà hà hà...tin tích cực đây ...
      Em tham gia VST được 2 năm rồi, chắc không phải tò te nhỉ.

      Bác thử nghĩ lại đi. Thời điểm những người tò te lên đây chửi là đầu sóng giảm (trước Tết âm lịch). Đến bây giờ em mới chửi đấy.

      Nghĩ lại sẽ thấy "Nên bán khi có bọn tò te chửi".

    21. #20719
      Ngày tham gia
      Oct 2009
      Bài viết
      940
      Được cám ơn 106 lần trong 81 bài gởi

      Mặc định

      Trích dẫn Gửi bởi BoNgua Xem bài viết
      Ai Tin Tưởng, ai Phó Thác? Tin Tưởng khi nào? Phó Thác khi nào?
      Chú nào còn ôm cổ thì bán khẩn trương ,trước khi hàng giải chấp bung ra .tình hình này 10 phiên sàn vãn không hết hàng giải chấp

    22. #20720
      Ngày tham gia
      Jul 2010
      Bài viết
      1,514
      Được cám ơn 219 lần trong 151 bài gởi

      Mặc định

      lạm phát muôn năm
      Tèo muôn năm



    Thông tin của chủ đề

    Users Browsing this Thread

    Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)

       

    Similar Threads

    1. Tình hình hiện nay? (Đến 31/12/2010)
      By admin in forum Nhận định Thị trường
      Trả lời: 18858
      Bài viết cuối: 01-01-2011, 12:05 AM
    2. Tinh Hinh Hien Nay
      By tientrivietnam in forum Nhận định Thị trường
      Trả lời: 2
      Bài viết cuối: 04-11-2010, 09:39 PM
    3. Tình hình hiện nay? (Đến 09/2010)
      By admin in forum Nhận định Thị trường
      Trả lời: 81120
      Bài viết cuối: 07-10-2010, 11:42 PM
    4. Tình hình hiện nay? 2009
      By admin in forum Nhận định Thị trường
      Trả lời: 54385
      Bài viết cuối: 01-01-2010, 10:17 AM
    5. Tình hình hiện nay? đến 21/08/2009
      By lesino in forum Nhận định Thị trường
      Trả lời: 15211
      Bài viết cuối: 21-08-2009, 09:17 AM

    Bookmarks

    Quyền viết bài

    • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
    • Bạn Không thể Gửi trả lời
    • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
    • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình