Bộ
trưởng Bộ Công nghiệp Hoàng Trung Hải giải thích chi tiết vì sao việc chậm tiến
độ xây dựng các nhà máy điện vẫn tiếp diễn
.



Thưa Bộ trưởng, tình trạng thiếu điện lại
được đặt ra và đang có xu hướng ngày càng cấp thiết. Tiến độ thực hiện các dự
án mới hình như chưa đáp ứng yêu cầu và gặp nhiều vướng mắc?




Các dự án đầu tư vào ngành điện đang được triển khai rất nhiều, hiện có trên 30
nhà máy lớn, không kể hàng chục nhà máy nhỏ cũng đang tham gia phát điện.



Cái quan trọng là việc tiến độ triển khai các nhà máy điện chậm, đặc biệt đối
với dự án thuỷ điện nhỏ. Vướng mắc là do việc thu xếp vốn.



Gần đây thị trường vốn phát triển nên việc thu xếp vốn để đầu tư vào các nhà
máy điện đỡ khó khăn hơn, nhưng khi triển khai vẫn vướng về đền bù, giải phóng
mặt bằng; khớp các tiến độ thi công lại với nhau như tiến độ thi công nhà máy
phải phù hợp với tiến độ đấu thầu mua sắm vật tư thiết bị.



Thực tế một công trình rất cần sự điều hành đồng bộ, trên thực tế các chủ đầu
tư vẫn còn bị vướng tính đồng bộ. Qua kinh nghiệm xây dựng một số dự án lớn, kể
cả Dung Quất, Khí điện đạm... chúng ta thấy rõ thiếu năng lực quản lý.



Số công trình triển khai đang rất nhiều, nếu thực hiện đúng như dự kiến ban đầu
thì chúng ta đã có đủ lượng điện dự phòng. Ví dụ như năm nay, chúng ta rất mong
mỏi Uông Bí, Cà Mau, và nếu tính riêng 2 nhà máy này mà chậm tiến độ thì đã
thiếu 400 triệu kwh điện.



Việc tiến độ công trình chậm có phải do
tính kỷ luật, kỷ cương thấp? Việc mở cửa thị trường điện thời gian tới có được
đẩy nhanh hơn lên?




Hiện đang thí điểm. Bộ Công nghiệp đã phê duyệt về thị trường thí điểm. EVN
đang thực hiện thị trường thí điểm, chúng ta thực hiện đến năm 2009. Trong giai
đoạn này, sẽ chạy thí điểm các nhà máy trong nội bộ EVN để hoàn thiện các quy
định.



Thị trường điện có làm được hay không đòi hỏi phải hoàn thiện đồng bộ thể chế,
hệ thống pháp luật. Đây là điều lớn nhất. Khi thị trường điện phát triển có
điều hết sức quan trọng nữa, ngoài hệ thống pháp luật là cung cầu phải đáp ứng.
Bởi nếu thiếu điện (cầu lớn hơn cung) thì làm gì có cạnh tranh.



Đồng thời với việc này, chúng ta phải thực hiện rất tốt quy hoạch phát triển
điện lực. Phải đủ điện mới có thị trường, mới có cạnh tranh, ngược lại chỉ có
thị trường, có cạnh tranh thì mới có đủ điện.



Thị trường điện của chúng ta cũng có thể ví như con gà và quả trứng. Điều hành
giữa con gà và quả trứng không đơn giản.



Vậy chúng ta đang thiếu một tầm nhìn dài
hơi cũng như những phương án dự phòng trong việc xây dựng các nhà máy điện?





Thực tế vấn đề này cũng đã có trong quy hoạch. Ví dụ dự phòng công suất các
nước chỉ tính 10 - 15%, nếu hệ thống tốt, dự phòng càng thấp thì càng kinh tế.



Vấn đề là nền kinh tế có chịu được không. Trong các quy hoạch, đã nâng tỷ lệ dự
phòng lên 30 - 40%, nhưng có nhiều yếu tố khiến yếu tố này chỉ tồn tại trên
giấy: thứ nhất, phụ tải có thể tăng cao hơn mức dự kiến.



Câu hỏi đặt ra là tại sao không dự báo cao nữa lên, nếu dự báo cao nữa lên thì
nền kinh tế có thích ứng được không. Có nghĩa là phải điều chỉnh các chương
trình thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Khi thẩm định dự án người ta phải
xem đến tính khả thi của dự án, nếu nhà hoạch định cứ đẩy lên thật cao thì cân
đối nguồn lực ở đâu để đạt mục tiêu đưa ra? Tất cả các vấn đề phải mang tính
thực tế.



Mặt khác, cần phải hiểu biến động về thời tiết là điều nằm ngoài ý muốn chủ
quan. Tổng dung lượng nước về hồ Hoà Bình bình quân trong nhiều năm vào khoảng
56 - 47 tỷ m3/năm, nhưng trong những năm gần đây tổng lượng nước về hồ Hoà Bình
không đạt, thực tế chỉ vào khoảng 47 - 50 tỷ m3/năm.



Những biến động về thời tiết ta không dự báo hết được



Vấn đề
hết sức lớn nữa là vấn đề quản lý, người ta nói mãi về quản lý kém nhưng làm
thế nào để giải quyết?




Vấn đề này liên quan đến cải cách, sắp xếp doanh nghiệp nhà nước. Nhiều người
cho rằng do quy hoạch sai nên mới dẫn tới tình trạng thiếu điện. Vậy nếu tất cả
các dự án nằm trong quy hoạch đều được đầu tư xây dựng mà điện vẫn không đủ thì
có thể nhận định như vậy, nhưng các dự án trong quy hoạch không thực hiện hết
được.



Giả sử tốc độ tăng trưởng của ngành điện là 15- 17%/năm mà đưa lên 30%/năm,
nhưng nếu công trình xây dựng khởi công chậm tiến độ thì vẫn không thực hiện
được. Quy hoạch phát triển kinh tế là 8%/năm thì quy hoạch điện lực phải lấy
tốc độ phát triển kinh tế là 8% làm cơ sở để tính toán, chứ không thể dựa vào
tốc độ phát triển kinh tế 10%/năm để quy hoạch ngành điện.



Đây là khoa học. Đã là quy hoạch, đã là dự báo phải dựa vào rất nhiều yếu tố
bất định trong vòng 15 - 20 năm sau. Đối với quy hoạch xa như vậy thì trở thành
dự báo, mà dự báo luôn có xác xuất không chính xác. Chính vì vậy, trong tất cả
các quy hoạch từ trước đến nay vẫn phải điều chỉnh thường xuyên.



Có ý kiến cho rằng, nếu dự án điện phụ
thuộc nhiều vào biến động thời tiết thì sao không đưa ra mức thiết kế công suất
dôi ra. Ý kiến của ông ra sao?




Điều này liên quan đến giá bán điện, nếu thiết kế dôi ra thì giá thành điện sẽ
bị đội lên, trong khi việc điều hành giá điện hiện nay vốn đã rất khó vì khả
năng chịu đựng của người dân dù rằng thu nhập bình quân của người dân đã được
cải thiện, khả năng chịu đựng có khá lên.



Ông đánh giá thế nào về nhận định ngành
điện lúc dựa quá nhiều vào thuỷ điện, lúc lại dựa vào khí trong khi nhiệt điện
chưa được quan tâm đúng mức?




Không phải chúng ta dựa quá nhiều vào một lĩnh vực nào đó. Trong một thời
điểm tạm thời nào đó, tỷ trọng đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn.



Theo Bộ trưởng, khả năng huy động vốn cho
ngành điện hiện là bao nhiêu?




Cần khoảng 4 tỉ USD. Chúng ta đã mở cửa cho các nhà đầu tư tư nhân và nước
ngoài nên hoàn toàn có khả năng huy động nguồn vốn này.



Tuy nhiên, nó còn liên quan đến hiệu quả hoạt động. Hiện ngành điện chỉ đạt
hiệu quả 1-2%. Đó là lý do việc đàm phán mua điện của các nhà đầu tư rất khó
khăn. Giá điện hiện nay khiến việc thu hút đầu tư rất khó. Người đầu tư vẫn xô
vào nhiều nhưng nhà đầu tư muốn có lãi, đẩy bù giá cho Nhà nước nên đây là điều
khó khăn.



Khó khăn lớn nhất khi đàm phán với các nhà
đầu tư là gì, có phải là giá?




Đúng, tất cả là giá. Song như tôi đã nói, giá của chúng ta còn cao nên khó thu
hút đầu tư.



Vậy chúng ta phải làm thế nào để khắc phục
khó khăn này?




Chúng ta phải đảm bảo nguyên tắc thị trường, đó là đàm phán để đạt được thoả
thuận, bên mua bên bán phải thoả thuận. Đó là giai đoạn hiện nay, là giai đoạn
tạm thời còn khi đã hình thành thị trường thì các nhà đầu tư xây dựng nhà máy
điện, nếu giá “ngon” thì được huy động còn không thì đắp chiếu để đấy. Đã có
quy định bắt buộc, các nhà đầu tư trước khi xây dựng nhà máy phải có thoả thuận
với bên mua.



Việc đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp
ngành điện có tầm quan trọng thế nào đến việc đầu tư nguồn điện?




Đó là lộ trình hình thành và phát triển thị trường điện để tạo cạnh tranh và
hiệu quả hơn. Tuy nhiên, ngành điện không giống các ngành khác nên trong quá
trình cổ phần hoá cần phải xem xét, có bước đi phù hợp để đảm bảo việc cung cấp
điện không bị ảnh hưởng. Ở đây đang có mâu thuẫn giữa việc sắp xếp, đổi mói
doanh nghiệp với việc thực hiện nghĩa vụ công ích của doanh nghiệp ngành điện.
Vì doanh nghiệp ngành điện không thể thấy lãi thì làm, thấy lỗ thì thôi.



Theo Bộ trưởng, chúng ta sẽ còn thiếu điện
đến bao giờ?




Điều này rất khó khẳng định. Hiện nước ta mới đạt mức bình quân 600kwh/đầu
người và để đạt mức 10.000 kwh/đầu người là một con đường rất chông gai. Chúng
ta cũng đã dự kiến đến 2020 sẽ đạt mức 3000 kwh/đầu người.