Từ đầu năm 2009, các công trình xây dựng đột biến tăng. Giá vật liệu xây dựng tăng theo. Đặc biệt, nhu cầu xi măng tăng khoảng 33%, các nhà máy hoạt động với công suất tối đa để đáp ứng thị trường. Nhưng dự trữ clinker thấp, nguồn nhập khẩu khó khăn nên sản lượng xi măng sản xuất vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu; có nhiều thời điểm thị trường xi măng trở nên khan hiếm đã khiến giá xi măng tăng “chóng mặt”. Thị trường vật liệu xây dựng nóng lên làm cho các cổ phiếu của cả ngành này nói chung và xi măng nói riêng nhận được nhiều sự quan tâm hơn của nhà đầu tư. Thời gian gần đây, giá của các cổ phiếu ngành xi măng chỉ tăng nhẹ trong xu thế tăng giá ào ạt của các cổ phiếu ngành khác. Theo nhận định của giới chuyên gia, đây chính là biểu hiện tích lũy để rồi bứt phá lên trong một thời điểm thích hợp.
Tiềm năng lớn từ cổ phiếu ngành xi măng.
Hiện có gần 40 cổ phiếu của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng niêm yết trên cả 2 sàn HoSE và HaSTC. Trong số này có những công ty xi măng lớn như Hà Tiên 1, Bỉm Sơn, Bút Sơn. Bên cạnh đó là một số công ty nhỏ như Sài Sơn, Sông Đà Yaly…
LỢI NHUẬN SAU THUẾ CỦA MỘT SỐ THƯƠNG HIỆU XI MĂNG
(đv tính: tỷ đồng)
Cổ phiếu Quý 2/2008 Quý 3/2008 Quý 4/2008 Quý 1/2009
BCC 44,104,765
42,893,736
58,810,223
65,985,230

BTS 43,797,827
24,947,326
24,355,749
28,913,539



HT1 -15,690,742
22,419,540
50,469,817
15,910,973



Số liệu lợi nhuận trên đã phần nào cho thấy sức mạnh của các thương hiệu xi măng, có sức sống phi thường, có khả năng vươn lên mạnh mẽ ngay cả trong thời kỳ khủng hoảng.
Cả 3 công ty xi măng lớn đã niêm yết là Hà Tiên 1, Bút Sơn và Bỉm Sơn đều do Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam (ViCem) nắm cổ phần chi phối và đều là các thương hiệu có uy tín, chiếm thị phần lớn nên doanh thu và lợi nhuận luôn ở mức ổn định. Bên cạnh đó, ba công ty này đều có những dự án mở rộng công suất như Bỉm Sơn với dây chuyền mới công suất 2 triệu tấn/năm; Hà Tiên 1 với dự án nhà máy xi măng Bình Phước công suất 2 triệu tấn/năm, Bút Sơn với nhà máy xi măng Bút Sơn 2 công suất 1,6 triệu tấn/năm… Nhìn chung, sản lượng tiêu thụ xi măng của các công ty này khá ổn định. Theo một quan chức cấp cao trong ngành xi măng, Với sự ưu đãi đặc biệt, các công trình xây nhà xã hội đang phải nhập sản phẩm xi măng của các doanh nghiệp trong Tổng công ty xi măng Việt Nam, dự báo, lợi nhuận quý 2 của các công ty xi măng thuộc tổng công ty xi măng Việt Nam sẽ có sự tăng đột biến so với quý 1 cũng như so với cùng kỳ năm trước.
Trong bối cảnh cạnh tranh đã và đang ngày càng trở nên gay gắt thì các công ty lớn sẽ có nhiều lợi thế hơn các công ty nhỏ với nguồn vốn và thị trường hạn hẹp. Xét theo tiêu chí P/E thì các cổ phiếu còn lại tương đối rẻ hơn ba “đại gia” trên. Nhưng các cổ phiếu này đều là những công ty khá nhỏ, ít tên tuổi, thị phần còn hạn chế. Do lượng cổ phiếu lưu hành thấp nên tính thanh khoản của nhóm cổ phiếu này không cao nên thường xảy ra hiện tượng đầu cơ làm giá. Trong cả ngắn hạn và dài hạn, từ tâm lý “chuộng” cổ phiếu vật liệu xây dựng, rằng, đầu tư vào các cổ phiếu của nhóm ngành này sẽ rất an toàn và có thể thu lợi nhuận cao, có thể sẽ được nhiều nhà đầu cơ và nhà đầu tư quan tâm sâu sắc”.
Bên cạnh các dự án của Vicem, nhiều tập đoàn, Tổng Công ty khác cũng tăng cường đầu tư vào lĩnh vực này với nhiều dự án lớn như Vinaconex với nhà máy xi măng Cẩm Phả (công suất 2,3 triệu tấn xi măng/năm, mới đi vào hoạt động cuối tháng 3/2008), Lilama với nhà máy xi măng Thăng Long (2,3 triệu tấn xi măng/năm) v.v…
Từ cuối năm 2008, khi nhiều dự án bắt đầu đi vào sản xuất, lượng xi măng cung cấp cho thị trường trong những năm tới sẽ tăng đột biến. Tình trạng cạnh tranh diễn ra gay gắt sẽ buộc các công ty phải nỗ lực tối đa để giữ chân khách hàng và phát triển thêm các thị trường mới
Để lo đầu ra cho sản phẩm, ngoài việc hợp tác với một số thương hiệu xi măng mạnh trong nước để đáp ứng nhu cầu lớn của khách hàng nội địa, từ cuối năm 2008, công ty đã thực hiện các chương trình xúc tiến xuất khẩu, tìm kiếm đối tác để đưa xi măng ra thị trường nước ngoài.

Là thương hiệu mạnh tại thị trường miền Bắc, Công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn (Thanh Hoá) cũng không bỏ lỡ cơ hội tìm đầu ra cho sản phẩm bằng con đường xuất khẩu. Công ty đã cố gắng đưa thương hiệu xi măng Bỉm Sơn sang thị trường Lào, với 100.000 tấn vào năm 2001 và duy trì đều đặn cho đến thời điểm này.

Công ty Cổ phần xi măng Hà Tiên đã xuất khẩu hơn 16.000 tấn xi măng sang thị trường Campuchia, Xi măng Hoàn Mai cũng đã xuất sang châu Phi, Trung Đông và một số nước khác.

Theo tính toán, nếu tiếp tục duy trì đà phát triển như hiện nay thì đến năm 2010, sản lượng xi măng của Việt Nam đạt khoảng 115 triệu tấn. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, cùng với gói kích cầu của Chính phủ mạnh mẽ trong lĩnh vực xây dựng, nhiều công trình trọng điểm còn được khởi động lại, các hợp đồng xi măng đã có dấu hiệu tiếp tục được triển khai, lượng xi măng dự kiến sẽ còn tiếp tục được tiêu thụ mạnh mẽ trong quý 2 và quý 3 năm nay. Mặc dù sắp tới, có một số nhà máy xi măng đi vào hoạt động, nhưng với tuổi đời, kinh nghiệm còn non nớt, chưa có thương hiệu, các công ty xi măng mới này sẽ khó giành thị phần trước các thương hiệu đang rất mạnh mạnh như BCC, BTS, HT1… Tuy nhiên, trước tình hình thị trường trong nước có nhiều biến động như hiện nay, BCC, BTSHT1… đang có một số dự án mở rộng liên kết với một số đối tác nước ngoài khá khả quan. Dự kiến, sản lượng xi măng xuất khẩu ra nước ngoài của các công ty này sẽ có sự biến động khá tích cực trong thời gian tới, tạo một nguồn cung ổn định và vững vàng cho các công ty xi măng Việt Nam. Nhìn một cách đại thể, trong số các công ty xi măng Việt Nam, không phải công ty nào cũng chú trọng việc thúc đẩy tiêu thụ ngoài nước như BCC, BTS, HT1… và công tác đầu tư quảng bá thương hiệu xi măng Việt Nam ra nước ngoài và các chương trình xúc tiến xuất khẩu, tìm kiếm thị trường thực sự vẫn tiếp tục là công việc cần thiết với mỗi DN trong xu thế cạnh tranh quốc tế ngày càng sâu sắc.

Giảng viên kinh tế: Nguyễn Duy Anh