[table]
Phân tích cổ phiếu mới chào sàn HN: Đá ốp lát cao cấp
Vinaconex (VCS)


Thứ hai, 17/12/2007, 09:05
GMT+7



(ATPvietnam.com)
-Công ty cổ phần Đá ốp lát cao cấp Vinaconex (VICOSTONE) ngày 17/12 chính
thức giao dịch 10 triệu cổ phiếu phổ thông trên sàn Hà Nội với mã chứng khoán
VCS. Tổng giá trị niêm yết đạt 100.000.000.000 đồng.


Giới thiệu về công
ty



Ngày 19 tháng 12 năm
2002, Nhà máy Đá ốp lát cao cấp VINACONEX - tiền thân của Công ty cổ phần Đá ốp
lát cao cấp VINACONEX được thành lập theo Quyết định số 1719QĐ/VC - TCLĐ của Chủ
tịch HĐQT Tổng công ty Xuất nhập khẩu xây dựng Viêt Nam để thực hiện đầu tư dự
án: dây chuyền sản xuất đá ốp lát cao cấp nhân tạo sử dụng chất kết dính hữu cơ
(Bretonstone) và dây chuyền đá ốp lát cao cấp nhân tạo sử dụng chất kết dính xi
măng (Terastone).


Ngày 02 tháng 06 năm
2005, Công ty chính thức đi vào hoạt động theo hình thức công ty cổ phần theo
Giấy chứng nhận ĐKKD số 0303000293 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hà Tây cấp, vốn
điều lệ đăng ký là 30.000.000.000 đồng, trong đó Tổng công ty VINACONEX giữ 60%.



Ngày 14 tháng 03 năm
2007, ĐHĐCĐ thường niên năm 2007 của Công ty đã quyết định tăng vốn điều lệ từ
30.000.000.000 đồng lên 100.000.000.000 đồng, trong đó cổ đông lớn nhất là Tổng
công ty VINACONEX chiếm 51%.


Công ty có vốn điều lệ
hiện tại là 100.000.000.000 đồng, địa chỉ tại khu công nghiệp Bắc Phú Cát, xã
Thạch Hoà, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Điện thoại của công ty 0343 685 828
-Fax : 0343 686 652 , Email : [email protected] , Website : www.vicostone.com


Ngành nghề của công ty
gồm Sản xuất, kinh doanh các loại vật liệu xây dựng; khai thác, chế biến các
loại khoáng sản; kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hoá; thi công xây lắp các công
trình dân dụng, công nghiệp, trang trí nội, ngoại thất; knh doanh xuất nhập khẩu
vật tư, máy móc, thiết bị, phụ tùng, tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, nguyên
phụ liệu sản xuất, tiêu dung; đại lý.


Danh sách cổ đông nắm
giữ từ 5% vốn cổ phần của Công ty trở lên (tại thời điểm 25/10/2007) bao gồm:
Tổng công ty cổ phần xuất nhập khẩu & xây dựng Việt Nam nắm giữ 5.100.000 cổ
phiếu tương đương với giá trị là 51 tỷ đồng chiếm 51% tổng cổ phần của công ty,
tiếp đó là Công ty Việt Nam Holding Ltd nắm giữ 500.000 cổ phần của công ty VCS
tương đương 5 tỷ đồng chiếm 5% tổng giá trị cổ phần của công ty, Công ty cổ phần
Đầu tư IPA nắm giữ 500.000 cổ phần của công ty tương đương 5 tỷ đồng chiếm 5%
tổng giá trị cổ phần của công ty.


Vị thế của Công ty
trong cùng ngành



Hiện nay, VICOSTONE là
công ty sản xuất đá ốp lát cao cấp nhân tạo duy nhất ở Đông Nam Á và là một
trong hai công ty duy nhất và có qui mô lớn nhất Châu Á. Điểm mạnh của VICOSTONE
là có những sản phẩm độc đáo về kích thước, chủng loại, màu sắc...


Hiện tại, trên 90% sản
phẩm của Công ty được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài và có mặt tại trên 30
nước ở năm châu lục. Trong đó có những thị trường lớn như : Úc, Ý, Mỹ và các
nước Châu Âu. Hàng năm, mức tăng trưởng của Công ty liên tục đạt trên 40% về
doanh số.


Công ty đã khẳng định
được uy tín và thương hiệu trên thị trường trong nước và thế giới. Sản phẩm của
Công ty đang được các thị trường khó tính như: Tây Ban Nha, Anh, Mỹ, Úc … chấp
nhận.


Về công nghệ Công ty
đã xây dựng thành công bí quyết công nghệ (know-how) của riêng mình phù hợp với
điều kiện khí hậu tại Việt Nam, đảm bảo sản xuất các sản phẩm đạt chất lượng
quốc tế. Công ty có nhiều giải pháp nguyên liệu thay thế. Ngoài sản phẩm sử dụng
nguyên liệu đá thạch anh nhập khẩu, Công ty cũng rất chú trọng phát triển dòng
sản phẩm sử dụng nguyên liệu cát Silic rất sẵn có tại Việt Nam.


Những thuận lợi và
khó khăn chính



Trong các năm 2005,
2006 và 9 tháng đầu năm 2007, doanh thu của công ty tăng trưởng liên tục so với
năm trước. Lợi nhuận ròng sau thuế cũng tăng đáng kể từ mức lỗ năm 2005 lúc mới
đi vào hoạt động là 7,9 tỷ đồng, năm 2006 Công ty đã có lãi là 5,6 tỷ. Và chỉ
trong 9 tháng đầu năm 2007, Công ty đã đạt mức lợi nhuận ròng là trên 29 tỷ
đồng.


Sự tăng trưởng vượt
bậc cả về doanh thu và lợi nhuận của Công ty trong các năm qua đạt được là do:
công ty đã khẳng định được uy tín và thương hiệu VICOSTONE trên thị trường trong
nước và Thế giới; cơ cấu, mẫu mã sản phẩm đa dạng và phong phú hơn, chất lượng
đạt tiêu chuẩn quốc tế, ngày càng được khách hàng tín nhiệm. Sản phẩm của Công
ty đã có mặt trên 30 quốc gia ở 5 Châu lục, trong đó có Úc, Mỹ, Anh, Bỉ, Hàn
Quốc, Nam Phi, Canađa, Trung Quốc, Israel, .... được Bộ Thương mại tặng bằng
khen về thành tích Xuất khẩu; Trong năm 2006, Công ty đã được 02 tổ chức quốc tế
cấp Chứng nhận phù hợp Hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001 - 2000 và Hệ thống
quản lý môi trường ISO 14001 - 2004. Việc áp dụng các hệ thống này vào hoạt động
sản xuất kinh doanh của Công ty đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh.


Công ty đã mở được thị
trường lớn và tiềm năng là Mỹ với mức tiêu thụ lớn và đây là cơ sở cho việc
thành lập Công ty liên doanh đầu tư nhà máy Bretonstone tại Khu công nghiệp Bắc
Phú Cát. Đây cũng là sự kiện có tính chất quyết định cho kế hoạch đầu tư trong
những năm tới.


Nhưng bên cạnh đó có
những khó khăn như tổng vốn đầu tư ban đầu rất lớn, kéo theo đó là sức ép về tài
chính. Hàng quý, Công ty phải trả một phần gốc vay và lãi vay vốn đầu tư ban đầu
với tổng số tiền là 20 tỷ đồng. Mặc dù vậy, với tốc độ tăng trưởng doanh thu,
lợi nhuận và luồng tiền thu được từ hoạt động xuất khẩu, công ty hoàn toàn có
khả năng trả gốc và lãi vay đúng hạn.


Ngoài ra, sản phẩm
Bretonstone có giá cao hơn mức đại chúng của người dân Việt Nam, khó tiêu thụ
tại Việt Nam. Sản phẩm cũng phụ thuộc nhiều vào chất lượng và đặc tính của hoá
chất, đặc biệt là các loại hoá chất Việt Nam chưa sản xuất được. Thực tế là
nguồn đá tự nhiên là hữu hạn và chi phí khai thác đá tự nhiên ngày càng tăng
cao. Cùng với hạn chế của việc sử dụng đá tự nhiên là khó khăn trong việc thác
đá cỡ lớn thì xu thế tăng cường sử dụng sản phẩm đá ốp lát nhân tạo thay thế cho
đá tự nhiên trên thế giới, đặc biệt trong các ứng dụng ốp mặt đứng, lát sàn,
bếp, bàn rửa trong buồng tắm là tất yếu.


Hiện tại trên thế giới
có khoảng trên 40 nhà máy hoạt động trong cùng lĩnh vực với VICOSTONE với kinh
nghiệm hoạt động 30 – 40 năm. Là một công ty mới thành lập, VICOSTONE sẽ gặp
phải sự cạnh tranh với các nhà máy này.


Phân tích các chỉ
tiêu về khả năng sinh lời




[table]


1. Chỉ tiêu về khả năng thanh toán |
Năm 2005 |
Năm 2006


- Hệ số thanh toán ngắn hạn: |
1,19 |
1,3


- Hệ số thanh toán nhanh: |
0,45 |
0,51
[/table]
So với năm 2005, khả năng thanh toán của công ty
năm 2006 không có sự thay đổi và vẫn duy trì ở mức tốt. Cụ thể hệ số thanh toán
ngắn hạn của công ty duy trì ở mức trên 1 lần (năm 2005 là 1,19 lần và năm 2006
ở mức 1,3 lần) cho thấy công ty đã sử dụng một phần nguồn vốn dài hạn đầu tư vào
tài sản ngắn hạn, do đó khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty tốt hơn.



Khả năng thanh toán nhanh của công ty năm 2006
không có thay đổi lớn so với năm 2005, duy trì ở mức trên 1 lần (năm 2005 là
1,06 lần và năm 2006 ở mức 1,03 lần). Đặc điểm kinh doanh của công ty cần dự trữ
sản phẩm cho những biến động giá bất thường, giúp doanh nghiệp quản trị chi phí
đầu vào tốt hơn khi giá cả hàng hóa dịch vụ ngày càng tăng.


Mặt khác, công ty kinh doanh trong lĩnh vực sản
xuất, kinh doanh các loại vật liệu xây dựng nên lượng hàng tồn kho nhỏ, giúp
doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro này.



[table]


2. Chỉ tiêu về cơ cấu vốn |
Năm 2005 |
Năm 2006


- Hệ số Nợ/Tổng tài sản |
0,94 |
0,91


- Hệ số Nợ/Vốn chủ sở hữu |
15,32 |
9,89
[/table]
Hệ số nợ/ tổng tài sản của công ty duy trì ở mức
khá tốt, từ năm 2005 sang năm 2006, hệ số này chỉ tăng nhẹ từ 0,94% xuống còn
0,91%. Nguyên nhân là do chi phí phải trả giảm trong năm 2006, đưa hệ số nợ/tổng
tài sản giảm tương ứng. Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu năm 2005 hệ số nợ trên vốn chủ
sở hữu là 15,32 lần, năm 2006 giảm mạnh 9,89 lần. Cơ cấu vốn này cho ta thấy
công ty khai thác tốt hiệu quả của nguồn vốn vay.


Trong năm 2007, tỷ lệ này sẽ vẫn ở mức an toàn khi
công ty đã hoàn thành đợt phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ. Khi công ty niêm
yết, khả năng huy động vốn của công ty cao hơn, công ty có nhiều cơ hội phát huy
hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, khai thác thế mạnh của các đòn bẩy
tài chính nhằm tăng hiệu quả kinh doanh cũng là một ý tưởng cho VCS.



[table]


3. Chỉ tiêu về năng lực hoạt động |
Năm 2005 |
Năm 2006


- Vòng quay hàng tồn kho |
1,91 |
1,88


- Doanh thu thuần/ Tổng tài sản |
0,36 |
0,52
[/table]
Vòng quay hành tồn kho của năm 2006 là 1,88 lần,
giảm 0,03 lần so với năm 2005 cho thấy năm 2006, do ảnh hưởng của biến động giá
cả hàng hóa trên toàn cầu nên Công ty đã thực hiện dự trữ các loại sản phẩm nhằm
đáp ứng nhu cầu của khách hàng, nhu cầu các hợp đồng đã kí kết. Do đó, tuy vòng
quay hàng tồn kho so với năm 2005 bị chậm lại nhưng chi phí kinh doanh được duy
trì ổn định, lượng hành hóa đảm bảo cung cấp cho các nhu cầu được đảm bảo.



Đây cũng là một trong các biện pháp công ty áp
dụng nhằm ổn định hoạt động kinhdoanh trong tình hình giá cả hàng hóa có biến
động lớn. Hệ số doanh thu thuần/tổng tài sản của Công ty năm 2006 là 36%, tăng
so với năm 2005 chứng tỏ việc sử dụng tài sản hiệu quả hơn.



[table]


4. Chỉ tiêu về khả năng sinh lời |
2005 |
2006


Hệ số LNST/ DTT |
-5,96 |
2,81


Hệ số LNST/VCSH |
-34,72 |
15,97


Hệ số LNST/ Tổng tài sản |
-2,13 |
1,47


Hệ số LNST/VĐL bình quân |
-7,289 |
1,11


Hệ số LNST/Vốn đầu tư của CSH bình quân |
-34,72 |
8,77
[/table]
Các tỷ suất sinh lời của công ty năm 2006 tăng
mạnh so với năm 2005. Cụ thể, Hệ số lợi lợi nhuận sau thế/doanh thu thuần năm
2006 tăng hơn so với năm 2005 và ở mức cao là 2,81%. Hệ số lợi nhuận sau
thuế/vốn chủ sở hữu năm 2006 tăng cho thấy việc sử dụng vốn ngày càng có hiệu
quả. Hệ số lợi nhuận sau thuế/tổng tài sản năm 2006 là 1,47%, cao hơn so với năm
2005 (ở mức -2,13%). Hệ số lợi nhuận sau thuế/vốn điều lệ bình quân tăng mạnh từ
-7,289% năm 2005 lên 1,11% năm 2006.


Trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng
khốc liệt, có rất nhiều yếu tố tác động đến tình hình sản xuất kinh doanh của
các công ty, không ít doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn, tuy nhiên Công ty vẫn
hoạt động tốt, duy trì các chỉ số tài chính ở mức cao và ổn định.


Kế hoạch lợi nhuận và cổ tức năm tiếp
theo:




[table]



Chỉ tiêu
|

KH 2007
|

KH 2008
|

KH 2009






|

Giá trị
|

Thay đổi %
|

Giá trị
|

Thay đổi %





DTT HĐSXKD
|

264.000
|

322.000
|

21,97
|

386.400
|

20





LNTT
|

24.643
|

73.212
|

197,09
|

130,975
|

78,90





LNST
|

24.643
|

66.020
|

167.91
|

120.938
|

83,18





VĐL
|

10.000
|

150.000
|

50
|

150.000
|







Tỷ lệ cổ tức
|

17
|

20
|

3
|

20
|







LNST/DT
|

9,33
|

20,50
|

11,17
|

31,30
|

10,8





LNST/CSHH BQ
|

22,25
|

24,03
|

1,78
|

29,6
|

5,57


[/table]
Tỷ suất lợi nhuận sau
thuế trên doanh thu của Công ty năm 2007 cao hơn năm 2006 và các năm kế hoạch
sau đều cao hơn năm trước là do Công ty tăng thị phần, tăng công suất sản xuất
nên giảm được giá thành trên mỗi đơn vị sản phẩm.


Lợi nhuận sau thuế của
Công ty các năm sau đều cao hơn năm trước là do ngoài việc tăng công suất sản
xuất thì với sự cải tiến công nghệ, hiệu quả của hoạt động SXKD cũng được nâng
cao hơn. Theo đó, tỷ lệ lãi gộp sẽ được cải thiện đáng kể.


Ngoài ra, sau quá
trình tích lũy lợi nhuận, thặng dư vốn và nguồn vốn khấu hao được dùng để chi
trả các khoản vay ngân hàng, chi phí lãi vay của Công ty (hàng năm hiện nay là
khoảng 30 tỷ đồng) không những đã giảm đi mà từ năm 2010, Công ty sẽ có thu nhập
từ lãi tiền gửi, dự kiến năm 2010 lãi tiền gửi là 6,6 tỷ đồng, năm 2011 là 19 tỷ
và những năm tiếp theo số lãi này sẽ tăng rất nhiều.


Từ quý 4 năm 2011 trở
đi, dây chuyền máy móc thiết bị chính của Công ty sẽ hết khấu hao (chính sách
khấu hao dây chuyền máy móc thiết bị chính hiện tại là khấu hao trong thời hạn 6
năm, máy móc đưa vào sử dụng từ năm 2005), khoản chi phí khấu hao hàng năm của
Công ty sẽ giảm đi đáng kể (hiện tại khấu hao hàng năm gần 50 tỷ đồng).



Theo kế hoạch, lợi
nhuận sau thuế của Công ty năm 2008 tăng hơn so với năm 2007 là 41,378 tỷ đồng
(167,91 %). Tuy nhiên, mức lãi cơ bản trên cổ phiếu năm 2008 dự kiến có thể bị
ảnh hưởng do Công ty có kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 150 tỷ đồng trong đầu năm
2008. Việc tăng vốn điều lệ là để cơ cấu lại nguồn vốn kinh doanh và đầu tư vào
Công ty liên doanh giữa Công ty Vicostone (Việt Nam) và đối tác nước ngoài là
Công ty W.K Marble & Granite (Úc). Vicostone góp 35% vốn điều lệ trong Công
ty liên doanh với tổng vốn đầu tư ban đầu của liên doanh là 56 triệu USD và sẽ
được nâng lên khoảng 220 triệu USD cho các giai đoạn tiếp theo.


Trong năm 2008, Công
ty Liên doanh này chưa đi vào hoạt động và chưa có lợi nhuận. Tuy nhiên, dự kiến
từ năm 2009, khi liên doanh đi vào sản xuất sẽ cho lợi nhuận khoảng trên 81 tỷ
đồng và sẽ tăng dần trong các năm tiếp theo. Kế hoạch lợi nhuận và cổ tức của
Công ty ở trên được lập dựa trên cơ sở tham chiếu kết quả kinh doanh các năm
trước, 9 tháng đầu năm 2007 cũng như các dự án đang triển khai thực hiện.



Đánh giá triển vọng
của cổ phiếu VCS



Nhu cầu xây dựng không
ngừng phát triển, đặc biệt là những công trình đòi hỏi chất lượng cao, do đó nhu
cầu về các sản phẩm đá ốp lát cao cấp sẽ không ngừng tăng cao cả thị trường
trong nước và thị trường quốc tế. Trong khi đó, các sản phẩm của Công ty hiện đã
được đánh giá khá cao trên thị trường quốc tế, sản phẩm của Công ty còn chưa đáp
ứng đủ nhu cầu của đối tác.


Do đó, việc phát triển
sản xuất kinh doanh của Công ty sẽ có rất nhiều thuận lợi, hứa hẹn nhiều thành
công. Công ty đã tự nghiên cứu, cải tiến và tạo ra được những bí quyết công nghệ
riêng phù hợp với điều kiện tại Việt Nam, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao
của khách hàng về chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực sản xuất, tăng tính
cạnh tranh về giá cả và chất lượng sản phẩm so với các đơn vị cùng ngành cả ở
trong nước và quốc tế.


Qua phân tích có thể
thấy, công ty làm ăn có triển vọng, các chỉ số tài chính của công ty nhìn chung
là ổn định, các dự án lớn công ty đã ký đang và sẽ thực hiện triển vọng trong
tương lai, vì vậy mà giá cổ phiếu này trong thời gian lên sàn có thể sẽ gây
nhiều biến động lớn.


Nhìn chung, cổ phiếu
VCS, theo ATPvietnam.com, là có triển vọng và khi lên sàn sẽ nhận được sự quan
tâm của nhiều nhà đầu tư.


[/table]