2009: Thêm 190.000 tấn giấy sản xuất từ giấy phế liệu



[img]http://*****.vn/Images/Uploaded/Share/2008/12/20081230041220461/giay.jpg[/img]

[h1]Năm 2009 sẽ đưa vào sản xuất ít nhất 5 dây chuyền sản xuất bột mới từ nguồn giấy thu hồi (giấy phế liệu) với tổng công suất 190.000 tấn/năm - tin từ Bộ Công thương.[/h1]




st1\:*{behavior:url(#ieooui) }






Bên cạnh đó, những dây chuyền cũ sẽ được nâng cấp, chủ yếu tăng cường khâu nghiền, sàng bột và tách xơ sợi, đem lại hiệu suất bột cao hơn và chất lượng bột tốt hơn.






Việt Nam sản xuất giấy từ phế liệu rất thấp



Tại Việt Nam, giấy thu hồi (thu gom trong nước và nhập khẩu) chiếm tới 70% tổng lượng nguyên liệu dùng để sản xuất giấy.


Đây là tỉ lệ thấp nhất trong các nước ASEAN (cao nhất là Ma-lai-xi-a: 87%).

Tỉ lệ thu hồi giấy đã qua sử dụng ở Việt Nam cũng thuộc loại thấp nhất, chỉ đạt 25% (Thái Lan 65%).
[table]











Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, đến hết tháng 10 năm nay, tổng lượng bột giấy nhập về của Việt Nam đạt gần 152 ngàn tấn, trị giá 108 triệu USD, tăng 43% về lượng và tăng 59% về trị giá so với cùng kỳ năm 2007.





[/table]

Từ năm 1999 đến năm 2007, tỉ lệ giấy đã sử dụng thu hồi được so với tổng lượng giấy tiêu dùng ít thay đổi, chỉ ở mức 24-25% và tỉ lệ giấy thu hồi trong nước so với giấy thu hồi nhập khẩu hầu như không thay đổi từ 48% lên 50%.


Như vậy, công tác thu hồi giấy trong nước không có tiến triển từ khi thực hiện thuế giá trị gia tăng.


Nguyên nhân chủ yếu là do cách hợp thức hóa trong chi phí sản xuất đối với việc mua giấy loại thu gom trong nước phức tạp, chỉ những cơ sở sản xuất quy mô nhỏ có thể chấp nhận được.


Các cơ sở sản xuất quy mô lớn thường chịu mua giấy thu hồi nhập khẩu, dù đắt nhưng đem lại hiệu quả cao hơn về thời gian và chi phí (vì có hóa đơn giá trị gia tăng khi nhập hàng) mà chất lượng giấy thu hồi nhập khẩu lại cao hơn giấy thu hồi trong nước.


Giấy thu hồi nhập khẩu vào Việt Nam từ nhiều nước, nhưng chủ yếu từ Mỹ, Nhật Bản, New Zealand. Những loại chính được nhập khẩu là: giấy hòm hộp các tông cũ (OCC), giấy báo cũ (ONP), tạp chí cũ (OMG), giấy lề (dẻo giấy, lề giấy - phế thải trong gia công...), giấy đứt, giấy trộn lẫn.


Từ năm 2000 đến nay, nhiều dây chuyền hiện đại, đồng bộ sản xuất bột từ giấy thu hồi đã được lắp đặt ở Việt Nam (160.000 tấn/năm).


Tuy nhiên, việc thu gom và tái chế giấy ở Việt Nam còn mang tính tự phát. Việc hợp thức mua gom giấy loại gặp nhiều khó khăn, là trở ngại lớn nhất trong việc tiêu thụ giấy thu gom trong nước.


Vì vậy, theo đánh giá của Bộ Công Thương, hoạt động thu gom và tái chế giấy cần có một chính sách và giải pháp đồng bộ mang tính quốc gia, nhằm mục tiêu tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chế biến giấy và góp phần bảo vệ môi trường.










[table]



Thực tế, sử dụng giấy tái chế làm giảm đáng kể lượng bột nguyên thủy cần dùng, giảm lượng gỗ phải khai thác, giảm lượng nước cần dùng và năng lượng, giảm các chất thải gây ô nhiễm.


Thêm nữa, mỗi tấn giấy được tái chế là giảm đi một tấn giấy phải chôn lấp hoặc đốt để hủy bỏ - cả hai đều phát thải khí các bon chứa trong giấy.


Giấy có thể tái chế từ 4 đến 6 lần trước khi xơ sợi quá ngắn để có thể làm thành tờ giấy. Do vậy, lợi ích về tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường là rất to lớn, có thể nói lớn hơn nhiều so với lợi ích kinh tế thuần túy.


Tuy nhiên, lợi ích kinh tế của việc tái chế giấy sẽ ngày càng tăng khi công nghệ sản xuất giấy tái chế ngày càng được cải tiến và hoàn thiện. Xơ sợi tái chế không chỉ dùng để sản xuất giấy làm bao bì, giấy in báo, giấy tissue mà còn dùng để pha trộn với bột nguyên thủy với một tỷ lệ ngày càng cao trong sản xuất giấy cao cấp hơn.


Như vậy, xơ sợi tái chế ngày nay có thể có mặt trong hầu hết các loại giấy thương mại. Chi phí sản xuất giấy tái chế ngày một giảm và chất lượng xơ sợi tái chế ngày càng tăng, nhờ ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất dù thị trường ngày càng yêu cầu giấy có độ bền cao hơn (phù hợp với tốc độ in, hòm hộp các tông mỏng hơn nhưng chịu tải cao hơn), chất lượng bề mặt cao hơn...


[/table]
Theo H.A
Hanoimoi