[table] [table] TTCK sẽ đi về đâu? |


[/table] |




|





[table]



[table]

[img]http://www.******************.vn/images/tintuc/20081011113150a-t4a.jpg" width="200" align="left" border="1[/img]




Còn quá nhiều nỗi lo, nhưng cũng có lòng tham đang trỗi dậy.
|


[/table]

(ĐTCK-online)
Vào thời điểm này, không thể kỳ vọng vào một đợt tăng ào ạt ngay. Điều
trước mắt là phải chờ sóng giảm giá kết thúc, sau đó sẽ là sóng tăng.
Vì vậy, mới gọi là trong họa có phúc.






Thị trường quốc tế: chính phủ ra tay cũng không thể kéo thị trường lên




Mặc
dù lần lượt Mỹ rồi Anh tiến hành tiếp cứu ngành ngân hàng bằng những
gói tài trợ khác nhau, đều tính bằng con số trăm tỷ USD hay trăm tỷ
bảng, rồi một loạt ngân hàng trung ương (NHTW) lớn của thế giới, từ Cục
Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), NHTW châu Âu, Anh, Canada, đến cả cơ quan
điều hành của Trung Quốc, Hồng Kông đều đồng loạt cắt giảm lãi suất để
chống lại bóng ma khủng hoảng, nhưng các TTCK vẫn sụt giảm và giá quyền
chọn trên các sàn giao dịch lớn tăng vọt, phản ánh mức độ bất ổn của
thị trường gia tăng. Điều gì đang xảy ra?
Vấn
đề căn bản là sự hoài nghi đang tồn tại và bao trùm tâm lý chung của
tất cả các thị trường. Ai đó có thể tin rằng, những giải pháp cứu nền
kinh tế sẽ giúp khôi phục lại niềm tin cho NĐT. Tuy nhiên, hãy nhìn vào
thực tế các nền kinh tế lớn, ta sẽ thấy các ý tưởng bi quan đang phủ
đầy thị trường và nhiều ý tưởng đó đến từ những người đã dự báo hay ít
ra cảm nhận được trước cơn khủng hoảng này. Cách đây vài ngày, một
trong những người đi đầu trong việc thúc đẩy kế hoạch giải cứu thị
trường tài chính Mỹ là Bộ trưởng Tài chính Paulson vẫn phải thừa nhận,
sẽ còn nhiều ngân hàng phá sản.


Một
trong những học giả bị cho là "không bình thường" khi dự đoán Mỹ sẽ rơi
vào tình hình như hiện nay cách đây 2 năm, vào tháng 9/2006 tại một hội
nghị của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), là Giáo sư Nouriel Roubini của Đại
học New York, vẫn đang tiếp tục tỏ ra bi quan về nền kinh tế Mỹ. "Người
bất thường" cách đây hai năm ấy hiện nay lại nhận được nhiều sự trọng
vọng và uy tín tăng cao, vì ông đã chỉ ra đúng nhiều cái tên có thể lâm
vào khủng hoảng và phá sản như hiện nay, trong đó có những cái tên được
cho là "quá lớn để có thể bị đổ vỡ" vào thời điểm năm 2006 ấy. Khi một
người uy tín đang lên rất cao như vậy mà tiếp tục bi quan thì những
người khác sẽ nghĩ sao? Nếu Warren Buffett bảo một cổ phiếu nào đó
không đáng 1 xu, liệu bao nhiêu người sẽ mua nó? Thực tế, giới quan
chức Mỹ tuy ra sức cứu vãn nền kinh tế, nhưng nỗ lực của họ chưa thể
tạo ra thành quả có tiếng nói có trọng lượng hơn những quan điểm bi
quan này. Giờ đây, chính nhà điều hành của Mỹ đang không có uy tín bằng
những người bi quan và hay nghi ngờ đó. Và vì vậy, đây là thời điểm của
sự hoài nghi kéo dài trên TTCK.


Rải rác trên báo chí, có thể thể thấy NĐT và nhà phân tích kinh tế hoài nghi về những điểm sau:


- Hiệu lực cứu vãn các ngân hàng của những gói cứu trợ trị giá trăm tỷ USD đến đâu?


-
Một vài nỗ lực của các nhà tài phiệt lớn như Warren Buffett có thể cứu
cả nền tài chính hay ông ta cũng chỉ bỏ tiền vào những cái đang còn
sống được mà thôi?


-
Nền kinh tế gần như khó tránh việc phải thu hẹp, nghĩa là thất nghiệp
sẽ gia tăng và tác động của nó đến đâu? (khi nền kinh tế thu hẹp thì
tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp đều giảm, do đó,
những trùm tài phiệt như Warren Buffett cũng không vội vã gì mà đổ toàn
bộ tiền của vào đó, chưa kể số tiền mà họ bị kẹt trong những công ty
khác mà họ đang đầu tư).


-
Giảm lãi suất, cung tiền cứu ngân hàng sẽ tác động tiêu cực lên lạm
phát và chính sách tài khóa. Đừng nên xem thường tác động của gánh nặng
tài khóa, vì nó từng là nguyên nhân đẩy nhiều đồng tiền chủ chốt mất
giá nghiêm trọng trong quá khứ.


-
Kinh tế thu hẹp thì lạm phát có thể không tăng nhanh, nhưng thất nghiệp
sẽ tăng, tiêu dùng sẽ giảm. Điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến niềm
tin kinh doanh và tiêu dùng, ảnh hưởng đến tình hình thương mại và sản
xuất. Vấn đề không đơn giản chỉ là lạm phát, mà là việc làm và tăng
trưởng kinh tế toàn cầu.


Nghe
có vẻ quá ảm đạm, vậy đâu là cơ hội? Cũng chính là nằm ở nơi những nhà
dự báo đang nổi lên đó. Như một vài giáo sư danh tiếng của Mỹ nghiên
cứu về dự báo có nói, "dù là đồng hồ chết cũng có thể chỉ đúng giờ hai
lần trong ngày". Nghĩa là chưa chắc biết ai đúng ai sai trong cuộc chơi
của thị trường và nền kinh tế. Nên nhớ rằng, nhiều chuyên gia đưa ra
các dự báo đó chưa hẳn am hiểu được hết thị trường. Họ biết về một khía
cạnh nào đó, ví dụ như vấn đề về khủng hoảng ngân hàng, nhưng họ chưa
chắc là người có thể đoán được thị trường ngày mai lên hay xuống hay
nhu cầu tiêu thụ hàng châu Á, ví dụ như hàng Việt Nam, sẽ tăng hay
giảm. Vì vậy, khi họ là những người quá bi quan, ở đâu đó, sẽ có những
chuyên gia lạc quan. Khi thị trường đã "chán" các tin bi quan, tự động
họ sẽ đi tìm mặt lạc quan của các tin này. Giống như người ta bảo cách
đây vài tháng, TTCK tăng trở lại là kinh tế Việt Nam đang tốt dần lên
và được cải thiện sau một thời gian quá bi quan. Thực tế, nền kinh tế
vẫn còn những nỗi lo, nhưng NĐT sẽ trở lại và "tạm quẳng gánh lo đi mà
vui sống".


Khi
chúng ta dễ dàng tìm ra nhiều điểm bi quan, thì đó chính là điều tốt.
Tin gì thì cũng có hai mặt, tốt và xấu. NĐT đã nhìn về mặt xấu quá
nhiều, nên tất yếu sẽ tìm mặt tốt mà nhìn. Do đó, thị trường quốc tế có
thể có những điều chỉnh trở lại, nhất là sau khi một loạt NHTW đã tỏ rõ
quyết tâm, thì người ta biết, họ đang ở vào thời điểm rất tệ hại, nhưng
cũng đồng nghĩa là những gì trước mặt họ có thể không thể tệ hơn nữa
(đương nhiên, người bi quan vẫn còn, nhưng số lạc quan sẽ tăng lên).


Thị trường Việt Nam: vấn đề kiểu Việt Nam


Một
điều đầu tiên cần thừa nhận là mối tương quan giữa Việt Nam và quốc tế
trên TTCK không quá lớn. Không thể nói TTCK Việt Nam sụt giảm là do
khủng hoảng tài chính quốc tế lan sang Việt Nam. Cứ xem lại vài bài
viết về mức độ liên hệ giữa Việt Nam và quốc tế đăng trên báo chí năm
nay sẽ thấy, biến động trên thị trường Việt Nam có rất ít liên hệ với
thị trường nước ngoài.


Còn
nói quỹ đầu tư nước ngoài cần phải rút tiền ở Việt Nam về cứu thị
trường nước họ thì có lẽ đã đánh giá quá cao quy mô tiền đổ vào Việt
Nam của các quỹ này. Đối với họ, tỷ trọng đầu tư vào một thị trường mới
nổi như Việt Nam là rất nhỏ, thậm chí chưa đến 1% giá trị danh mục.
Ngoài ra, nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy, có hiện tượng thích đầu tư
trong nước hơn (home bias) của những NĐT ở các nước phương Tây và tỷ
trọng sở hữu cổ phiếu nước ngoài của họ không đáng kể so với danh mục
trong nước. Giả sử họ có rút tiền về thì chẳng qua là do không thấy
Việt Nam hấp dẫn nữa, sợ khủng hoảng có thể xảy ra. Đó mới chính là vấn
đề của Việt Nam.


Nhưng
bàn về điều này thì có hai khía cạnh phải nhìn nhận. Thứ nhất, sợ Việt
Nam khủng hoảng thì cũng như sợ các nước khác khủng hoảng vậy. Bỏ hết
trứng vào một giỏ thì các quỹ này chắc không làm, mặt khác, mục tiêu
một số quỹ là đầu tư vào Việt Nam, nên họ không dễ gì chuyển mục tiêu.
Thứ hai, nói về chuyện giá hấp dẫn, giống như HSBC bảo P/E Việt Nam
cao, thì đó là khi cổ phiếu chưa rớt về giá thấp. Khi giá thấp rồi thì
tự nhiên P/E không cao nữa. Lưu ý rằng, ngay cả HSBC dù bi quan về thị
trường trong báo cáo vừa qua, nhưng cũng dự đoán VN-Index ở mức 450
điểm.


NĐT
Việt Nam cũng như NĐT quốc tế đang ở trong trạng thái hoài nghi. Còn
quá nhiều nỗi lo, nhưng cũng có lòng tham đang trỗi dậy: kinh tế khó
khăn thì kệ khó khăn, có sóng lên là cứ lướt. Do đó, sẽ không lạ gì nếu
lại có ánh sáng xuất hiện trong khi mưa giông ầm ầm. Những gì tệ hại
nhất: khủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, một số ngân hàng phá sản đều đã
hiển hiện, chứ không còn là nỗi lo xa xôi. Vậy, một lúc nào đó người ta
sẽ tạm không lo nữa (dù có tăng giá điện hay đánh thuế thu nhập từ
chứng khoán). Nhưng sau hoài nghi, sẽ có thể là mạo hiểm vì nhiều người
vẫn muốn đeo kính lạc quan để nhìn thị trường.


Phân tích kỹ thuật: trong họa có phúc


Trong
bài viết gần đây "Ánh sáng trong đêm giông bão" đăng trên ĐTCK, người
viết từng đề cập thị trường cần phải có một đợt giảm giá nữa, một mặt
vì nỗi lo do những yếu tố cơ bản trong nền kinh tế vẫn còn, mặt khác do
thị trường vẫn cần củng cố ở khu vực đáy một lần nữa trước khi có thể
tăng trở lại vững vàng hơn. Cho đến nay, thị trường đang có xu hướng
thử thách khu vực đáy một lần nữa, trong khi chỉ số RSI trên đồ thị
tuần lẫn ngày đều sắp vào khu vực bán ra quá nhiều. Vậy, tình hình có
thể là xấu, nhưng hàm chứa trong đó một khả năng hình thành các mẫu
hình tăng giá. Cho đến nay, có thể thị trường vẫn đang ở trong sóng
điều chỉnh c của một đợt giảm dài hạn, chứ chưa phải là sóng 4 của một
đợt tăng mới như nhiều chuyên gia nhận định cách đây vài tuần. Tuy
nhiên, dù là kịch bản sóng c hay sóng 4 thì chúng ta đều có thể hy
vọng, vì tiếp sau đó đều là các sóng tăng. Vấn đề là, NĐT có thể kiên
nhẫn chờ đợi sóng giảm kéo dài đến bao lâu? NĐT càng mất kiên nhẫn, thị
trường càng phải tăng trở lại. Đương nhiên, vào thời điểm này, không
thể kỳ vọng vào một đợt tăng ào ạt ngay. Điều trước mắt là phải chờ
sóng giảm giá kết thúc, sau đó sẽ là sóng tăng. Vì vậy, mới gọi là
trong họa có phúc.


[/table]
[/table]