[quote user="chatdem"]

Chẳng có thông tin gì mới, vãn mù mờ và phập phù ....

[/quote]

Đó là bản thân bạn thấy thế chứ mình lại thấy khác . Chớ quơ đũa cả nắm .

Bài của nótèoteóteohcm trả lời dễ ẹt nhưng thôi để từ từ trả lời , CĐ S99 nào trả lời được thì trả lời chứ không ngầm nghĩ mình tranh giành là vô lý ...[:P]


Tắm rửa ăn uống đọc sách báo cái đã[:cuoibo]



Thứ Năm, 28/02/2008,13:12
Những kết quả bước đầu tích cực


Việc Ngân hàng Nhà nước đưa ra các biện pháp về tiền
tệ nhằm kiềm chế lạm phát là rất cần thiết, cấp bách. Hơn nữa, ẩn đằng
sau của những giải pháp trên là sự lựa chọn mục tiêu ưu tiên giữa hai
mục tiêu kiềm chế lạm phát và tăng trưởng kinh tế.


Lạm phát đã được chọn ưu tiên ngay từ đầu năm là hợp
lý, bởi vì nếu lạm phát có sự "cộng hưởng" áp lực từ 3 hướng (đã lạm
phát năm trước, lạm phát trên thị trường thế giới, lạm phát từ nhu cầu
tăng cao vào dịp Tết Nguyên đán) ngay từ đầu năm, thì thường rất khó
kìm cương vào những tháng còn lại trong cả năm. Khi lạm phát đã được
kiềm chế, thì giữa hay cuối năm sẽ chuyển sang ưu tiên cho mục tiêu
tăng trưởng. Hơn nữa, qua thống kê kinh nghiệm của nhiều năm, đặc biệt
là khi tăng trưởng kinh tế đang có đà cao lên trong mấy năm qua, thì
tăng trưởng kinh tế về cuối năm thường cao hơn hẳn những tháng đầu năm.


Những giải pháp mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra không
tránh khỏi có những tác động phụ và gặp phải những phản ứng, những ý
kiến không đồng thuận; hơn nữa trong một thời gian còn ngắn, một số
giải pháp mới đề ra lộ trình, nhưng chưa đến thời điểm thực hiện, song
bước đầu đã có những kết quả tích cực.


Kết quả dễ thấy nhất là lãi suất tiết kiệm đã được
nâng lên. Lãi suất tiết kiệm trong một thời gian khá dài bị "thực âm"
làm cho người có tiền nếu gửi tiết kiệm thì bị thiệt hại; hoặc không
muốn gửi vào ngân hàng mà chạy lòng vòng và chôn vào vàng, bất động
sản, tiêu xài, không đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh nhằm tăng
trưởng kinh tế thì đất nước bị thiệt hại; đó là chưa nói nó tạo ra sức
ép lên lạm phát. Việc nâng lãi suất tiết kiệm của các ngân hàng thương
mại, nhất là các ngân hàng thương mại cổ phần đã hé lộ ra ba điểm: quản
trị doanh nghiệp, phòng ngừa rủi ro của không ít ngân hàng còn yếu kém;
tính thanh khoản của một số ngân hàng không cao. Nếu có biện pháp tạo
sức ép đối với các ngân hàng thương mại, thì các ngân hàng buộc phải
nâng lãi suất huy động lên, khi lãi suất huy động tăng lên thì người
dân sẽ gửi mạnh tiền vào ngân hàng, tiền trong lưu thông sẽ được hút
vào, vừa làm cho người gửi tiền không bị thiệt thòi, vừa không tạo áp
lực lạm phát.


Kết quả rõ nhất là đã có tác động làm giảm độ nóng
trên thị trường bất động sản. Thị trường bất động sản sau khi ấm, nóng
vào đầu và giữa năm 2007, từ cuối năm 2007, đầu năm 2008 đã bước vào
cơn sốt giá lần thứ ba, với tốc độ tăng tính bằng lần, đã và đang có xu
hướng lan rộng từ các đô thị lớn, từ các thành phố ra các thị xã, các
thị trấn, thị tứ trên cả nước. Cơn sốt bất động sản đã hút vào đây hàng
trăm nghìn tỉ đồng của các ngân hàng thương mại, nhất là các ngân hàng
thương mại cổ phần, riêng TP.HCM đã thu hút gần 35 nghìn tỉ đồng; đó là
chưa kể có hàng trăm nghìn tỉ đồng vốn tự có của các doanh nghiệp, cá
nhân được rút từ tiết kiệm, thị trường chứng khoán hoặc không đầu tư
trực tiếp cho sản xuất kinh doanh mà đã được chôn vào bất động sản, làm
cho giá bất động sản thành “bong bóng”, đồng thời làm cho nhu cầu thực
sự của người dân, nhất là những người có thu nhập thấp càng trở nên xa
vời.


Mặc dù chưa có các biện pháp khác (xác định hạn mức sử
dụng để tính thuế thu nhập, thuế lũy tiến...), nhưng chỉ với việc hạn
chế nguồn vốn từ ngân hàng thương mại đổ vào đây (thông qua một số biện
pháp gián tiếp) đã hạ sốt giá trên thị trường này. Tuy giá chưa trở về
mức trước khi sốt, nhưng đã bớt và chặn bớt được cơn sốt lan truyền ra
cả nước.


Một kết quả khác không phải ai cũng nhìn thấy, là
thông qua một số biện pháp thắt chặt tiền tệ nhưng đã làm lộ rõ việc
một thời gian dài các ngân hàng thương mại chưa quan tâm đến khách hàng
ở đầu vào (người gửi tiền), chạy theo tăng trưởng tín dụng, nên quá dễ
dãi với khách hàng đầu ra (người vay), nhất là những khách hàng vay
tiền ngân hàng để đầu tư vào các lĩnh vực có tỷ lệ rủi ro cao; dùng
tiền vay ngắn hạn để cho vay dài hạn. Cũng cần nhắc lại, việc cho vay
dưới chuẩn vào thị trường nhà cửa của Mỹ đã gây ra hậu quả khó lường
không chỉ trong lĩnh vực này mà còn nhiều lĩnh vực khác của nước Mỹ,
chưa kể tác động đối với cả thế giới.


( TN )