[table]
EC sẽ tiếp tục tăng viện
trợ cho Việt Nam

Lao Động số 121 Ngày
03/06/2009Cập nhật: 7:43 AM,
03/06/2009




[table]


[img]/avatar.aspx?ID=102215&at=0&ts=236&lm=6 33796118414230000" class="atc_img" id="_ctl0_rContent_imgImage" alt="" border="0[/img]


EU sẽ tiếp tục
hỗ trợ các chương trình xoá đói giảm nghèo cho vùng cao ở Việt
Nam.
[/table]
(LĐ) - Mặc dù Việt Nam đang
tiến dần tới ngưỡng của một nước có thu nhập trung bình, nhưng EC vẫn sẽ tiếp
tục tăng viện trợ choViệt Nam thêm 20% giai đoạn 2011-2013.

Trước thềm hội nghị giữa kỳ của các nhà tài trợ cho Việt Nam,
Đại sứ Sean Doyle - Trưởng phái đoànỦy ban Châu Âu (EC) - hôm 2.6 đã khẳng
định như vậy.

Chưa giảm

Ngày 8-9.6, hội nghị giữa
kỳ nhóm các nhà tài trợ cho VN (CG) sẽ diễn ra tại thành phố Buôn Ma Thuột. Một
trong những nội dung quan trọng của hội nghị lần này là đánh giá tình hình phát
triển kinh tế vĩ mô, những diễn biến mới và triển vọng tăng trưởng kinh tế VN
năm 2009; hiệu quả viện trợ và tiến triển của quá trình hài hòa hóa thủ
tục...

Trước những băn khoăn của các nhà báo về việc, liệu các cam kết
quốc tế dành cho VN có giảm hay không trong thời gian tới, khi VN trở thành nước
có thu nhập trung bình, Đại sứ Sean Doyle - Trưởng phái đoànỦy ban Châu Âu
(EC) - khẳng định, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và hiện tượng biến
đổi khí hậu đã khiến cho tình hình trở nên phức tạp thêm.

"Không ai muốn
chứng kiến những khó khăn mới nổi đó ở một nước vừa mới đạt ngưỡng thu nhập
trung bình. Việc cắt giảm ODA sẽ không xảy ra ngay lập tức" - Đại sứ nói. Ông
nhấn mạnh: "Đối với VN, khi nào vẫn còn những vấn đề nghiêm trọng như nghèo đói
thì các nhà tài trợ vẫn sẵn sàng giúp đỡ". Đại sứ cam kết: "Trong giai đoạn 2011
- 2013, viện trợ trung bình của EC sẽ là 48 triệu euro, tăng 20% so với 40 triệu
euro giai đoạn 2007 - 2010".

Ngài Michal Kral - Đại sứ CH Czech, nước
đang giữ cương vị Chủ tịch luân phiên EU - cho rằng, theo đánh giá của Ngân hàng
Thế giới, VN vẫn chưa đạt tới ngưỡng của nước có thu nhập trung bình. Song theo
ông Kral, các nước thành viên EU đã tính tới điều này khi xây dựng chiến lược
mới về viện trợ ODA năm 2010.

"Các nước EU khi lập kế hoạch ODA sẽ dựa
trên chiến lược của riêng họ và tham khảo chiến lược phát triển của Chính phủ
VN. Theo tôi được biết, sẽ có một số ít quốc gia thành viên EU định giảm dần số
lượng viện trợ phát triển cho VN" - ông Kral cho biết.

Ông nhấn mạnh
rằng, ít nhất cho tới năm 2010, viện trợ của EU cho VN sẽ chưa có sự thay đổi.
Nhưng sau năm 2010, rất có thể một vài nước sẽ bắt đầu giảm viện trợ. Đại sứ cho
hay, vấn đề này sẽ được bàn thảo tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ giữa
kỳ cho VN vài ngày tới.

Đại sứ - Trưởng phái đoàn EC nhận định, trong vài
năm tới, có thể số lượng viện trợ chưa thay đổi, nhưng cách thức tài trợ của một
số quốc gia thành viên EU sẽ thay đổi. "Họ sẽ tài trợ thông qua hoạt động của
các tổ chức phi chính phủ, thay vì tài trợ trực tiếp giữa chính phủ với chính
phủ. Việc tài trợ sẽ tập trung vào các khoản cho vay đầu tư cơ sở hạ tầng, thay
vì các khoản xây dựng và tăng cường năng lực".

Đối tác chủ
chốt

EC hôm 2.6 đã công bố báo cáo thường niên về hoạt động hợp
tác phát triển của Liên minh Châu Âu tại VN. Báo cáo nêu rõ, toàn khối EU (gồm
Uỷ ban Châu Âu và các nước thành viên) tiếp tục là đối tác chủ chốt trong hỗ trợ
hoạt động phát triển kinh tế - xã hội của VN, với vị trí là nhà cung cấp viện
trợ không hoàn lại lớn nhất. Tổng số cam kết viện trợ theo định hướng cho năm
2009 là 716,21 triệu euro (tương đương với 17,82% tổng số viện trợ nước ngoài).
Trong đó, một nửa con số này là viện trợ không hoàn lại (308 triệu
euro).

Ngài Michal Kral - Đại sứ Cộng hòa Czech tại VN - khẳng định:
"Khủng hoảng kinh tế toàn cầu tiếp tục cho thấy tính cần thiết của hoạt động hợp
tác phát triển. VN đã duy trì vị trí tiên phong về hiệu quả viện trợ quốc tế. EU
vẫn cam kết đầy đủ trong những nỗ lực quốc tế để tăng tính hiệu quả viện trợ,
thông qua sự phối hợp và hài hòa hóa tốt hơn hoạt động hợp tác phát triển với
các nhà tài trợ và các tổ chức quốc tế khác tại VN".



Chiến
Thắng

[/table]

[table]



Dấu hiệu tích cực
của kinh tế một số nước châu Á






Ngày cập
nhập:26/6/2009





Hãng
Thông tấn Ấn Ðộ dẫn số liệu kinh tế cho biết, Ấn Ðộ đạt tăng trưởng 6,7% trong
tài khóa 2008-2009, tăng 1,2% so với dự báo, dấu hiệu cho thấy khả năng kinh tế
nước này phục hồi sớm hơn dự kiến. Thị trường chứng khoán, đầu tư nước ngoài và
đồng ru-pi Ấn Ðộ đều tăng mạnh, do phản ứng tích cực về kế hoạch của chính phủ
mới ưu tiên khôi phục kinh tế. Tân Hoa xã dẫn nguồn tin Bộ Kinh tế, Thương mại
và Công nghiệp Nhật Bản cho biết, sản lượng công nghiệp nước này tháng



4-2009 tăng 5,2% so tháng
trước và là mức tăng mạnh nhất trong 56 năm qua. Tổ chức Hợp tác và Phát triển
kinh tế (OECD) đánh giá Hàn Quốc là nước thành viên duy nhất có tỷ lệ tăng
trưởng GDP ở mức dương trong quý I-2009, với 0,1%, so với mức âm 2,1% của các
nước OECD.
Trong khi đó, kinh tế Mỹ quý I-2009 giảm 5,7% và là quý thứ hai
suy giảm liên tiếp, cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn ảnh hưởng
nặng nề kinh tế Mỹ. Cơ quan Thống kê EU (Eurostat) thông báo, tỷ lệ lạm phát tại
khu vực đồng ơ-rô tháng 5-2009, giảm xuống 0%, mức thấp nhất 17 năm
qua. (Theo Nhan dan)




[/table][h1]Tăng trưởng thị trường nội địa: Dấu hiệu phục hồi kinh tế[/h1]
Đây là nhận định của chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành - Tổng Giám
đốc CTCP Đầu tư và Quản lý Tài sản Quốc tế trong cuộc trao đổi với DĐDN xung
quanh những dấu hiệu phục hồi nền kinh tế trong khủng hoảng hiện nay.







- Theo ông dấu hiệu đầu tiên để nhận biết nền kinh tế phục hồi là gì ?


Chúng ta phải xem những chỉ số, ví dụ chỉ số sản xuất công nghiệp, chỉ số
thất nghiệp ra sao, chỉ số về XK lên hay xuống... phải cụ thể từng thứ chứ không
phải vì con số chung. Ví dụ vừa rồi XK tăng nhưng ta lại XK vàng. Như vậy không
phải là tăng XK nữa rồi. Bao nhiêu những chỉ số đó chúng ta phải theo dõi từ
tháng này qua tháng khác, từ quý này sang quý khác để xem tình hình chuyển biến
như thế nào. Ngoài ra cũng không chỉ tại VN mà còn cả những thị trường trên thế
giới như Mỹ, Trung Quốc... Tôi xin nhấn mạnh là sự phục hồi phải đi cùng với thế
giới. Đặc biệt, VN chúng ta có thị trường nội địa tốt. Chính vì thế mà chỉ số
của thị trường nội địa sẽ báo trước trong việc phục hồi kinh tế.


Tốc độ phục hồi của VN tùy thuộc vào nhiều vấn đề. Chúng ta cần phải xây dựng
cơ chế, nguồn nhân lực cho tốt, cho phù hợp. Tức là phải dùng "đúng người, đúng
việc, đúng năng lực". Đây là một vấn đề rất khó đối với VN, nhưng chúng ta phải
cố gắng thực hiện.


- Thời gian vừa qua do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế, nhiều DN đã sa
thải nhân công, trong đó có cả những người giỏi. Theo ông để đáp ứng nhu cầu khi
nền kinh tế phục hồi các DN cần phải làm gì ?


Vấn đề nhân lực của VN là vấn đề cực kỳ nhạy cảm và quan trọng. Chúng ta phải
xây dựng nguồn nhân lực, vấn đề này các DN làm chưa được tốt. Các DN cần phải
giữ lại những nhân lực cốt cán, tuy nhiên có tướng mà không có lính thì cũng
chưa được. Chính vì vậy mà trong thời gian tới cần phải chuẩn bị cho kỹ vấn đề
nhân lực, các DN cố gắng xây dựng nhân lực trong khi còn khó khăn. Khi kinh tế
khởi phát trở lại thì chúng ta sẽ có thế mạnh hơn.


- Thưa ông, hiện có nhiều ý kiến cho rằng giờ là lúc các DN VN cần phải tái
cấu trúc DN để chuẩn bị cho giai đoạn "hậu khủng hoảng". Ông có đồng ý với quan
điểm này không ?


Theo tôi thì các DN luôn luôn phải chuẩn bị chứ không phải đợi tới khủng
hoảng mới chuẩn bị. Chúng ta cần phải chuẩn bị ngay từ bây giờ cho vấn đề hậu
khủng hoảng. Nhưng bên cạnh đó, các DN cũng rất cần một cơ chế quản lý minh
bạch, khung pháp lý thông thoáng. Ví dụ, cả thế giới đều áp dụng biện pháp hạ
thấp lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn cho các ngân hàng. Thậm chí như
bên Nhật chỉ còn 0,1%, ở Mỹ là 0,0 - 0,25%, Châu Âu là 1%... Đây là những chính
sách tiền tệ mà VN nên nghiên cứu để DN có thể tiếp cận được nguồn vốn với lãi
suất mà không cần dùng đến ngân sách để hỗ trợ bù lãi suất. Việc đó là việc mà
ngân hàng có thể làm được.


Đón đầu cạnh tranh là chúng ta phải xem xem những gì chúng ta có ưu thế, sản
phẩm nào chúng ta có thể phát triển mạnh, phát huy tối đa ưu thể tương đối của
mình. Những gì thấy không phù hợp thì cần phải sửa chữa. Ví dụ không nên kêu gọi
những dự án cực lớn mà nó không có hiệu quả kinh tế cao.


-Vậy ngay bản thân Cty ông đã có kế hoạch như thế nào để chuẩn bị phát triển
khi nền kinh tế phục hồi ?


Công việc của chúng tôi là huy động vốn nước ngoài đầu tư vào VN. Chính vì
vậy mà chúng tôi phải có đội ngũ nhân lực có khả năng tiếp cận các quỹ đầu tư
cũng như các định chế tài chính lớn ở nước ngoài để xây dựng các quỹ có quy mô
khá lớn. VN trong 10 năm tới không phải chỉ cần 10 tỷ hay 100 tỷ USD mà là hàng
nghìn tỷ USD. Thế nhưng, điều quan trọng là chúng ta phải làm thế nào để huy
động một lượng vốn lớn từ nước ngoài nhưng do ta quản lý để đưa về đầu tư tại
VN, chứ không phải là những quỹ đầu tư nước ngoài quản lý từ nước ngoài đầu tư
vào VN. Thậm chí chúng ta không nên quá coi trọng tới đầu tư trực tiếp nhiều mà
nên quan tâm hơn tới đầu tư gián tiếp, tức là tiền đem về nhưng dự án giao cho
ta thực hiện.


- Xin cảm ơn ông !