(tt)
Hiện nay, VN có trên 80 ngân hàng, trong đó 20 ngân hàng hàng đầu được đánh giá là chiếm phần lớn thị phần ngân hàng. 25% số ngân hàng xếp hạng dưới cùng thì bất ổn định và thiếu khối lượng tới hạn cần thiết. Chính phủ đã đạt được các tiến bộ trong việc giải quyết vấn đề này, phần lớn thông qua Nghị định 59, quy định việc tăng vốn pháp định tối thiểu đối với các ngân hàng thương mại cổ phần từ 1 nghìn tỷ đồng lên 3 nghìn tỷ đồng. Quy định này có thể dẫn đến các hoạt động hợp nhất, sáp nhập và mua lại trong ngành ngân hàng. Để chuẩn bị cho việc này, một điều quan trọng là việc hợp nhất ngân hàng phải được hỗ trợ bởi khung pháp lý và thủ tục đảm bảo quy trình rõ ràng và hành động nhanh.
Ông Thomas Grunzke - Unilever Vietnam : Vẫn thiếu hướng dẫn
VN đã thông qua Luật Giao dịch Điện tử (Luật số 51/2005/QH11) tháng 11/2005, chứng tỏ sự quyết tâm của Chính phủ nhằm xúc tiến chuyển đổi sang một môi trường kinh doanh hiệu quả hơn. Tuy nhiên, vẫn thiếu vắng những hướng dẫn thực hiện cho phép cộng đồng DN thực thi tốt các luật quy định. Cụ thể, Thông tư số 120/2002/TT-BTC ngày 30/12/2002 của Bộ Tài chính về việc in, phát hành, sử dụng và quản lý hoá đơn, yêu cầu: (i) hoá đơn phải được phát hành và cung cấp cho khách hàng ngay sau khi hoàn thành các giao dịch bán hàng; và (ii) chỉ được sử dụng hoá đơn giấy làm tài liệu bằng chứng chính thức để kê khai và quyết toán thuế giá trị gia tăng, công nhận doanh thu và chi phí, cũng như kế toán và thanh toán. Hơn nữa, hóa đơn giấy được sử dụng trong thực tế là bằng chứng duy nhất chứng minh hàng hoá được sản xuất và kinh doanh hợp pháp. Như vậy, phải luôn luôn có hoá đơn đi kèm theo hàng hóa thực tế trong lưu thông và vận chuyển. Do những yêu cầu nặng nề như vậy, mỗi lô hàng vận chuyển cần phải kèm theo một hóa đơn riêng. Điều này thường dẫn đến số lượng hóa đơn ngày càng tăng, kéo theo khối lượng công việc tăng tại các bộ phận hậu cần của tất cả các Cty và từ đó cản trở việc cải thiện hiệu quả và năng suất của các Cty có liên quan. Hơn nữa, hiện không có Trung tâm Trao đổi Dữ liệu Điện thử (EDI) quốc gia, nơi sẽ cho phép tất cả các Cty, bất kể quy mô và bí quyết công nghệ, trao đổi thông tin giao dịch theo định dạng điện tử. Chúng tôi cho rằng VN cần thực thi luật cho phép: (i) sử dụng chứng từ không phải là hóa đơn, ví dụ Phiếu Giao hàng, đối với hàng hóa trong vận chuyển; (ii) phát hành hóa đơn thường xuyên (trên giấy) định kỳ hàng tháng; (iii) sử dụng dữ liệu điện tử trong nhiều giao dịch thương mại chuẩn, quan trọng nhất là đơn đặt hàng và hóa đơn; (iv) dữ liệu điện tử được dùng làm chứng từ pháp lý cho thuế giá trị gia tăng, công nhận doanh thu và chi phí, kế toán và tự kê khai và quyết toán thuế; (v) Cty dùng cách đánh số hóa đơn riêng của mình.
Ông Claus Jepsen - TGĐ GlaxoSmithKline tại VN : Liên kết với bằng sáng chế
Hiện VN chưa có một hệ thống để "kết nối" hệ thống đăng ký thuốc với hệ thống bằng sáng chế. VN cho rằng việc đưa thủ tục thực thi bằng sáng chế vào thủ tục quản lý nhà nước là không phù hợp, và không thể ban hành các quy tắc hay thủ tục hành chính để các cơ quan hành chính thực thi bằng sáng chế. VN đề xuất rằng trách nhiệm thực thi bằng sáng chế thuộc về nhà phát minh. Chúng tôi tin rằng việc ứng dụng liên kết bằng sáng chế với giấy phép là tốt cho chính sách công và kinh nghiệm của các quốc gia khác đã ứng dụng kiểu liên kết này cho thấy việc triển khai là tương đối dễ dàng. Về Độc quyền Dữ liệu, EuroCham thấy rằng hệ thống liên kết với bằng sáng chế mang lại một cơ hội có một không hai để khởi đầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả và có giá trị dưới sự kiểm soát hoàn toàn của Cục Quản lý Dược (DAV) và Cục Sở hữu Trí tuệ VN (NOIP). Chúng tôi kiến nghị Chính phủ VN nên áp dụng hệ thống liên kết bằng sáng chế như là một bước tiến trong việc cải thiện chính sách bảo vệ sở hữu trí tuệ đang phát triển của VN.
DIỄN ĐÀN DOANH NGHIỆP


Thứ Sáu, 01/01/2010 | 18:21
TTCK 2010 sẽ sớm hồi phục và tiếp tục là kênh đầu tư hấp dẫn…
Một trong những biến động lớn nhất của thị trường tài chính Việt Nam trong năm qua phải kể đến thị trường chứng khóan với sự biến thiên dữ dội của chỉ số VN Index. Nhân dịp đầu năm, chúng tôi đã phỏng vấn Tiến sĩ Trần Đắc Sinh – Tổng Giám đốc Sở Giao dịch chứng khoán TP. (HOSE) về chỉ số VN Index và những vấn đề liên quan đến thị trường này.
Ông đánh giá như thế nào về chỉ số VN-Index trong năm 2009?
Chịu tác động bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và diễn biến kinh tế trong nước không thuận lợi, Quý I /2009, thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn chưa có sự khởi sắc đáng kể. Do đó chỉ số VN Index luôn có những đợt điều chỉnh giảm, khởi đầu ở mức 313,34 điểm vào phiên giao dịch đầu tiên trong năm và giảm đến mức thấp nhất là 235,5 điểm vào phiên giao dịch ngày 24/02/2009.
Tuy nhiên, từ quý II/2009, VN Index bắt đầu hồi phục và có xu hướng tăng nhờ những tín hiệu tốt lên của nền kinh tế Mỹ và thế giới cùng với sự phục hồi và tăng trưởng trở lại của thị trường chứng khoán nước ngoài, cũng như xu hướng ổn định của các yếu tố cơ bản của nền kinh tế vĩ mô trong nước. Đặc biệt sang quý III/2009, sau những đợt điều chỉnh nhẹ, VN Index đã đạt đến đỉnh cao mới. Trong phiên giao dịch ngày 22/10/2009, chỉ số VN Index đã đạt mức cao nhất 624,1 điểm, tăng trên 165% so với mức đáy hồi tháng 2. Khối lượng giao dịch và giá trị giao dịch cũng liên tục xác lập những kỷ lục mới trong hai phiên giao dịch ngày 15/10 và 23/10 với lần lượt 107 triệu và 137 triệu chứng khoán được mua bán với giá trị đạt trên 5.600 và 6.452 tỷ đồng. Những con số kỷ lục này cho thấy niềm tin và sự kỳ vọng của nhà đầu tư vào sự phục hồi của thị trường chứng khoán đã dần được củng cố.
Trong 2 tháng cuối năm, trước những diễn biến bất thường của giá vàng, tỷ giá cùng những thông tin vĩ mô về việc thắt chặt chính sách tiền tệ của Chính phủ, tăng lãi suất cơ bản, ngưng hỗ trợ lãi suất cho vay ngắn hạn đã tác động không nhỏ tới thị trường chứng khoán. Chỉ số VN Index có sự sụt giảm khá mạnh và liên tục có những đợt điều chỉnh giảm, trong phiên giao dịch ngày 17/12/2009 giảm còn 434,87 điểm, giảm 30,3% so với mức đỉnh 624,1 điểm hồi tháng 10. Tuy nhiên, với tình hình kinh tế và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đang dần ổn định, tôi tin rằng thị trường chứng khoán năm 2010 sẽ sớm hồi phục và tiếp tục là kênh đầu tư hấp dẫn của nhà đầu tư.
Những thành tựu mà HOSE đã làm được trong bối cảnh kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn của năm 2009?
Năm 2009, trong bối cảnh kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính từ năm 2008, HOSE cũng đã nỗ lực hết mình trong mọi hoạt động để giúp ổn định thị trường. Cụ thể SGDCK TP.HCM chính thức triển khai giao dịch trực tuyến vào ngày 12/01/2009. Giao dịch trực tuyến đánh dấu sự thay đổi căn bản về phương thức giao dịch trên thị trường, nâng cao hiệu suất nhập lệnh và thực hiện lệnh, giải quyết triệt để bài toán thắt nút cổ chai về lệnh giao dịch, đồng thời từng bước thu hẹp khoảng cách về công nghệ so với các Sở Giao dịch Chứng khoán trong khu vực và trên thế giới. Tốc độ gửi lệnh đạt 50-70 lệnh/giây, nhanh gấp nhiều lần so với nhập lệnh thủ công trước đây (5-7 giây/lệnh). Công suất hệ thống cũng được nâng lên để có thể xử lý 900.000 lệnh/ngày và 600.000 lệnh khớp/ngày; từ đó, đáp ứng tốt nhất nhu cầu giao dịch hiện nay của nhà đầu tư.
Quy mô giao dịch ngày càng được mở rộng. Tính đến ngày 8/12/2009, HOSE đã tổ chức thành công 242 phiên giao dịch với tổng khối lượng giao dịch đạt 10,56 tỷ chứng khoán, tương ứng với giá trị 411.698 tỷ đồng, gấp khoảng 3 lần khối lượng và 2,7 lần giá trị giao dịch năm 2008.
Năm 2009 HOSE đã tiến hành hoàn tất thủ tục hủy niêm yết đối với 24 công ty có vốn điều lệ nhỏ hơn 80 tỷ đồng để chuyển sang niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội kể từ ngày 28/05/2009. Động thái này nằm trong kế hoạch tái cấu trúc thị trường chứng khoán Việt Nam của Bộ Tài chính và Ủy ban chứng khoán nhà nước với mục tiêu sàng lọc, phân loại doanh nghiệp niêm yết để phù hợp với tiêu chuẩn của từng thị trường, trong đó Sàn giao dịch chứng khoán TP. sẽ trở thành sàn niêm yết các cổ phiếu blue chip với điều kiện niêm yết được quy định cao hơn so với Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội.
.v.v.