ALTA: Văn hóa Tân Bình là ai?
  • Thông báo


    + Trả lời Chủ đề
    Trang 32 của 49 Đầu tiênĐầu tiên ... 22 30 31 32 33 34 42 ... CuốiCuối
    Kết quả 621 đến 640 của 977
    1. #621
      TTTT1
      Guest

      Mặc định *ALT lọt vào TOP 10 cổ phiếu có giá nhỏ hơn giá trị thực.GTSS ~ 40,000. EPS năm & quý I : DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm. Góp vốn vào B.V ...



      Chủ Nhật, 07/10/2007,11:12
      Quá tải bệnh viện: Vì sao?


      (ANTĐ) - Không phải bây giờ vấn đề quá tải bệnh viện
      tại tuyến Trung ương mới được đặt ra. Từ lâu, các bệnh viện tại Hà Nội
      và TPHCM luôn trong tình trạng quá tải:2, 3 bệnh nhân phải nằm chung
      một giường. Người nhà bệnh nhân nằm chờđợi nhếch nhác, khổ sở...
      Vậyđâu là nguyên nhân? Bạn cóý tưởng gìnhằm giải quyếttình trạng
      này? ANTĐ online mong nhậnđượcý kiếntham gia diễn đàn này của
      cácbạn.





      [table]





      Bệnh nhân và người thân các tỉnh đổ dồn về Hà Nội...
      [/table]
      Có thể nói, tình trạng quá tải bệnh viện là khởi nguồn
      cho việc giao thông đô thị bị tắc nghẽn, rồi xả rác bừa bãi, rác thải y
      tế không được quản lý và đặc biệt là sự nhũng nhiễu, vòi tiền bệnh nhân
      của một bộ phận y bác sĩ. Giải quyết tình trạng này không hề đơn giản,
      nhưng đã đến lúc phải làm một cách bài bản, và có tầm nhìn xa hơn.


      4 định hướng giải quyết quá tải bệnh viện


      Nhiều bệnh viện ngày càng trở nên “quá tải”. Đâu là nguyên nhân và cách khắc phục?


      1.Tốc độ phát triển bệnh viện phải đi cùng với tốc độ phát triển dân số.


      Điều này ta còn coi nhẹ nên tất yếu xảy ra ngày càng
      quá tải bệnh viện dù có nâng cấp cũng chưa đáp ứng. Trong khi đó tốc độ
      phát triển trường học mạnh hơn nhiều còn chưa đáp ứng nhu cầu học chuẩn
      cho các trường, huống chi các bệnh viện nhất là khi dân số phát triển
      và bệnh tật cũng gia tăng do ô nhiễm môi trường và phát triển các tệ
      nạn xã hội kéo theo nhiều bệnh xã hội.


      Chính vì vậy phải xem lại việc đầu tư phát triển các cơ sở khám chữa bệnh và xây thêm bệnh viện cho cân đối trong phát triển.





      [table]





      Bệnh nhân phải nằm ghép giường ở Bệnh viện mắt Hà Nội
      [/table]
      2.Nâng cao chất lượng cũng như số lượng đào tạo bác
      sĩ có chất lượng phục vụ tại các tuyến dưới giảm nhanh số lượng muốn
      lên tuyến trên khám chữa bệnh.


      Đây vừa là thực tế, vừa là tâm lý, có bệnh là muốn đến
      nơi tốt, tin cậy dù tốn kém nên tuyến trên luôn quá tải là điều khó
      tránh. Con đường giải quyết nhất thiết phải tăng cường cho tuyến cơ sở
      về người, về chế độ chính sách cho người phục vụ ở cơ sở cũng như từng
      bước trang thiết bị cho cơ sở. Có thể có chế độ luân phiên đi phục vụ
      cơ sở có thời hạn, có thể có nhiều phòng khám cơ động đi cơ sở theo chế
      độ luân phiên quay vòng cần thiết.





      [table]






      Phòng khám Bệnh viện hữu nghị luôn đông nghịt người chờ khám bệnh


      [/table]3.Cần
      coi trọng một định hướng “ngoại trú” một cách tích cực hơn để giảm thời
      gian nội trú và có chế độ ngoại trú được chăm sóc điều trị, khám tại
      nhà:
      Có đội ngũ luân phiên đi các nhà chăm sóc “ngoại trú”,
      cái gì có thể chữa trị tai nhà để bệnh nhân khỏi đến bệnh viện đều thực
      hiện ngay. Như vậy lại phải tăng cường đào tạo bác sĩ đáp ứng nhu cầu
      này. Thực ra hiện nay còn nhiều bác sĩ ra trường chưa có nơi tiếp nhận,
      cũng như còn nhiều bác sĩ mới về hưu nên có cách sử dụng hợp lý, có tổ
      chức vào làm công việc khám chữa bệnh tại nhà.


      4.Đa dạng hóa các loại hình khám chữa bệnh, không chỉ đi theo BHYT cứng nhắc kiểu cũ:


      Có loại bệnh viện kiểu “hồng phúc” giúp người nghèo;
      có nhiều loại phòng khám, bệnh viện đa dạng cho nhiều đối tượng khác
      nhau để Bảo hiểm y tế và nhân dân, xã hội cùng làm theo các mức khác
      nhau để tùy khả năng mỗi người mà lựa chọn nơi khám chữa cho phù hợp dù
      đã có BHYT, kể cả việc lựa chọn khám chữa bệnh tại nhà. Có khi đắt hơn
      mà lại đỡ tốn kém hơn khi đến bệnh viện không đảm bảo vì quá tải, không
      thuận tiện, tốn kếm khác. Từ đó cần đa dạng hóa BHYT với việc đa dạng
      hóa cách khám chữa bệnh do người bệnh lựa chọn.


      Nguyễn Đức Thuần


      (18T1/1705 Trung Hòa Nhân Chính)


      Khám chữa bệnh ở địa phương không an toàn


      Tôi năm nay 25t, ở TP Hà Đông, tỉnh Hà
      Tây. Tôi đã sinh 1 cháu năm nay được 3 tuổi. Chúng tôi địinh 5 năm sau
      sinh cháu thứ hai, nhưng bị vỡ kế hoạch. Do điều kiện gia đình và công
      việc nên vợ chồng chúng tôi quyết định không giữ lại thai này. Tôi đến
      bệnh viện tỉnh để kế hoạch, tại đây sau khi hỏi vài câu và khám qua
      loa, bác sỹ cho tôi đi siêu âm để xem thai như thế nào? Khi tôi mang
      giấy siêu âm quay trở lại, thì bác sỹ nói thai của tôi được hơn 1 tháng
      và giới thiệu ra phòng khám sản phụ khoa 27 P.H, Hà Đông. Tôi nghĩ chắc
      là phòng khám riêng của bác sỹ nên yên tâm đến.


      Tại đây, tôi được 2 “bác sỹ” còn rất
      trẻ nạo hút thai. Sau khoảng 30 phút, họ cho tôi đơn thuốc mua tại
      phòng khám, dặn uống trong 1 tuần. Sau khi về tôi vẫn thấy đau bụng,
      thỉnh thoảng ra máu. Tôi gọi điện hỏi thì họ bảo là bình thường, cứ
      tiếp tục uống thuốc. Sau 1 tuần, tự nhiên tôi thấy bụng đau dữ dội và
      ra rất nhiều máu nên hoảng sợ đi siêu âm ở một phòng khám thì bác sĩ
      nói do hút thai chưa hết nên bị đau và ra máu. Tôi vội mang kết quả
      siêu âm đến phòng khám 27 thì gặp 1 bác sĩ, sau này tôi mới biết là bác
      sỹ đứng tên phòng khám này đang công tác tại TT SKSS tỉnh, còn 2 người
      hôm trước làm cho tôi chỉ là y tá. Bác sỹ chỉ làm những ca khó, thai
      lớn, còn lại là do y tá làm. Tôi chưa kịp trình bày hết, vị bác sĩ này
      đã quát tháo tùm lum, bảo tôi không chịu uống thuốc, không nghe lời dặn
      của bác sĩ.


      Có lẽ do sợ tôi bắt đền nên vị bác sĩ
      này quát nạt 1 hồi rồi bảo tôi hút lại. "*** ném lao thì phải theo
      lao", tôi ngoan ngoãn nghe theo.


      Cũng như lần trước, tôi được mua một
      bịch thuốc to tướng về uống. Sau 1 tháng tôi không thấy kinh trở lại,
      tôi ra Bệnh viện Phụ sản Trung ương khám. Bác sĩ siêu âm cho biết, thai
      vẫn chưa được hút sạch. Sau đó tôi được các bác sỹ “làm lại” và giờ sức
      khỏe của tôi đã trở lại bình thường. Tôi nghĩ lại mà thấy tự trách mình
      dại quá. Từ đầu đến ngay BV Phụ sản Trung ương thì có phải đỡ mất thời
      gian, tiền bạc và ảnh hưởng sức khỏe không.


      Tôi nghĩ, suy nghĩ của tôi cũng giống nhiều người khác, nếu mắc bệnh thì đến ngay các bệnh viện Trung ương khám và điều trị.


      Có lẽ đó là lý do bệnh nhân dồn về,
      gây quá tải cho các bệnh viện Trung ương. Nhưng điều trị tại địa
      phương, lỡ xảy ra chuyện thì chúng tôi biết làm sao?


      Nguyen Thi Hoa


    2. #622
      TTTT1
      Guest

      Mặc định * ALT lọt vào TOP 10 cổ phiếu có giá nhỏ hơn giá trị thực.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I : DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào B.Viện ...

      [h1]20% bệnh viện có cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng nhu cầu[/h1]
      Cập nhật: 26/01/2007 -
      23:31 - Nguồn:
      news_source(14);
      TienPhong.vn
      TS Lý Ngọc Kính- Vụ trưởng Vụ Điều trị (Bộ Y tế) cho biết kết
      quả kiểm tra bệnh viện 2006 cho thấy, 20% bệnh viện có cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu.


      Trong năm 2006 vừa qua, dịch viêm đường hô hấp cấp do cúm A/H5N1,
      sốt xuất huyết vẫn gia tăng 33% so với năm 2005, xuất hiện các bệnh mới như xơ
      hoá cơ Delta với tổng số trên 3.000 trường hợp cần phải khắc phục bằng phẫu
      thuật trong thời gian ngắn.


      Bộ Y tế cho biết thông tin trên tại Hội nghị Tổng kết công tác
      khám chữa bệnh (KCB) năm 2006 và triển khai kế hoạch 2007 diễn ra hôm qua
      (23/1).


      TS Lý Ngọc Kính – Vụ trưởng Vụ Điều trị (Bộ Y tế) cho biết kết
      quả kiểm tra bệnh viện 2006 cho thấy, 20% bệnh viện có cơ sở hạ tầng chưa đáp
      ứng được yêu cầu, chỉ có 52% bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải lỏng và 78%
      có hệ thống xử lý chất thải rắn y tế và 61% các khoa truyền nhiễm có các phòng
      cách ly đạt yêu cầu, 17% bệnh viện còn tình trạng nhà cửa dột mốc...


      Bộ Y tế cũng tiến hành nghiên cứu tại 10 bệnh viện đại diện cho 3
      miền Bắc, Trung, Nam cho thấy, 6 tháng đầu năm 2006 phát hiện 13 ngàn chủng vi
      khuẩn được xác định độ nhạy cảm với kháng sinh.


      Kết quả, 5 vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất là Klebsilla spp.
      (17,8%), E.coli (16,0%), trực khuẩn mủ xanh (11,5%), tụ cầu vàng (9,8%). Cả 5
      loại vi khuẩn này đều kháng nhiều kháng sinh thường dùng trong điều trị ở mức độ cao.


      Năm 2006, chi phí cho dùng thuốc kháng sinh tăng 31,5% so với năm
      2005 và chiếm 32,7% so với các loại thuốc khác trong bệnh viện.


      Thái Hà


    3. #623
      TTTT1
      Guest

      Mặc định * ALT lọt vào TOP 10 cổ phiếu có giá nhỏ hơn giá trị thực.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I : DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào B.Viện ...



      (24/06/2009-05:00:00 PM)


      6 tháng đầu năm 2009: Kinh tế - xã hội có dấu hiệu khả quan


      (Chinhphu.vn)
      - Theo đánh giá chung của Bộ Kế hoạch Đầu tư (MPI), tình hình kinh
      tế-xã hội nước ta 6 tháng đầu năm 2009 tiếp tục có chuyển biến tích
      cực. Tháng 6/2009, tốc độ tăng trưởng GDP của cả nước đạt 6,5%, tính
      chung 6 tháng đầu năm GDP đạt 3,9%.








      Sản xuất tiếp tục tăng trưởng dương


      Tháng 6, sản xuất công nghiệp tiếp
      tục tăng cao hơn tháng trước. Như vậy giá trị sản xuất công nghiệp cả
      nước tăng liên tục trong 5 tháng qua (tháng 2 tăng 8,4%; tháng 3 tăng
      2,3%; tháng 4 tăng 5,4%; tháng 5 tăng 6,8%, tháng 6 tăng 8,2%).


      Giá trị sản xuất công nghiệp 6 tháng
      ước đạt 342,2 nghìn tỷ đồng (16,5%) tiếp tục cao hơn tốc độ tăng cùng
      kỳ năm ngoái 4,8%. Nhiều sản phẩm công nghiệp tăng cao hơn mức tăng
      trưởng chung của toàn ngành như điều hòa nhiệt độ 44,7%, xi măng
      24,1%...Một số địa phương có tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao 6 tháng
      đầu năm là Quảng Ninh 11,5%, Bà Rịa-Vũng Tàu 10,6%...


      Sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp vượt qua
      nhiều khó khăn đạt được kết quả tốt, ước đạt 96,6 nghìn tỷ đồng trong 6
      tháng, tăng 2,5% so với cùng kỳ. Do diện tích và năng suất các vùng đều
      tăng mạnh nên sản lượng lúa đông xuân đạt trên 18,6 triệu tấn, tăng
      32,2 vạn tấn so với cùng kỳ 2008. Vụ Đông xuân được mùa có ý nghĩa tích
      cực cả về kinh tế-xã hội, góp phần ổn định giá lương thực.


      Sản lượng thủy sản 6 tháng đầu năm
      ước đạt 2,278 triệu tấn, tăng 5%. Diện tích trồng rừng cũng tăng 7,7%
      so với cùng kỳ năm trước.


      Mặc dù nền kinh tế gặp khó khăn, nhu
      cầu tiêu dùng giảm sút song tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch
      vụ tháng 6 vẫn tăng 2,3% (đạt 94 nghìn tỷ đồng) so với tháng 5 đưa tổng
      mức lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ xã hội 6 tháng lên 547 nghìn tỷ
      đồng, tăng 20% so với cùng kỳ.


      Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng đầu năm
      2009 ước đạt 27,6 tỷ USD, giảm 10,1% so với cùng kỳ. Tuy nhiên theo Bộ
      Công Thương, nếu tính theo số lượng (sản lượng xuất khẩu dầu thô,
      khoáng sản giảm) và giá trị tuyệt đối do không tính tới yếu tố tăng đột
      biến của giá dầu năm 2008 thì kim ngạch xuất khẩu 6 tháng 2009 vẫn tăng
      so với cùng kỳ 2008.


      Tuy nhiên suy thoái kinh tế và thị
      trường xuất khẩu bị thu hẹp đã khiến giá bình quân hầu hết các mặt hàng
      xuất khẩu đều giảm như dầu thô (53%), cao su (44%), café (28,3%)…Mặc dù
      vậy, 6 tháng đầu năm các mặt hàng xuất khẩu nông sản như sắn, gạo, hạt
      tiêu, hàng thủy sản liên tiếp có mức tăng trưởng dương và tăng cao so
      với cùng kỳ.


      Về nhập khẩu, kim ngạch nhập khẩu
      tháng 6 ước đạt 5,9 tỷ USD, tăng 4,1% so với tháng 5. Tính chung kim
      ngạch nhập khẩu 6 tháng đạt 29,7 tỷ USD, giảm 34% so với cùng kỳ. Những
      mặt hàng nhập khẩu giảm chủ yếu là sắt thép các loại (54,7%), ô tô
      nguyên chiếc (47,9%), thức ăn gia súc giảm 23,3%, máy móc thiết bị phụ
      tùng (19,2%).


      Tuy nhiên tháng 6 cũng là tháng thứ 3
      liên tiếp Việt Nam nhập siêu trở lại sau 3 tháng đầu năm xuất siêu. MPI
      dự báo riêng tháng 6 nhập siêu có thể lên tới 1 tỷ USD, tính chung nhập
      siêu 6 tháng hơn 2,1 tỷ USD.


      Thu ngân sách nhà nước tính theo lũy
      kế từ đầu năm đến nửa đầu tháng 6 ước đạt 171 nghìn tỷ đồng bằng 49,3%
      dự toán cả năm (cùng kỳ năm 2008 đạt 60,6% dự toán năm). Đây là mức
      được đánh giá là mức thu khá.


      6 tháng đầu năm có hơn 40 nghìn doanh
      nghiệp đăng ký kinh doanh, tăng 14% so với cùng kỳ. Mức giải ngân ODA 6
      tháng đầu năm đạt 1,27 tỷ USD, bằng 67% kế hoạch năm.




      Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng tăng nhẹ


      Theo báo của Tổng cục thống kê, chỉ
      số giá tiêu dùng tháng 6 năm 2009 tăng 0,55% so với tháng 5 và tăng
      0,82% so với tháng 12/2008. CPI tháng 6 tăng ở cả 10 nhóm hàng với mức
      tăng từ 0,07-1,45%. Tăng mạnh nhất là nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng
      với mức tăng là 1,45%. Tiếp theo là nhóm đồ dùng và dịch vụ khác với
      mức tăng 1,36%; nhóm phương tiện đi lại và bưu điện với mức tăng 1,35%
      trong đó chủ yếu là tăng ở nhóm phương tiện đi lại. Trong tháng 6, nhóm
      thực phẩm tăng khá mạnh với mức tăng 0,67% trong khi nhóm này chiếm tới
      25% trong rổ hàng hóa chung. Tăng thấp nhất vẫn là nhóm giáo dục với
      mức tăng 0,07%.


      Theo Bộ Công Thương, CPI tháng 6 tăng
      là do giá cả một số mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, xăng dầu, chất
      đốt tăng khá mạnh; kéo theo sự tăng giá của nhiều loại hàng hóa và dịch
      vụ khác. Bên cạnh đó, gói kích cầu tiêu dùng của Chính phủ tiếp tục
      phát huy tác dụng với tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tháng 6 tăng
      2,3% so với tháng 5; 6 tháng tăng 20% so với cùng kỳ 2008 khiến giá cả
      tăng nhẹ.


      Bên cạnh đó, số liệu 6 tháng qua cũng
      cho thấy: Xu hướng tăng giá của các tháng trong năm 2009 so với các
      tháng trong năm 2008 đang giảm dần theo từng tháng (từ mức 17,48% của
      tháng 1 xuống 14,78% của tháng 2; xuống 11,25% của tháng 3; xuống 9,23%
      của tháng 4; xuống 5,58% của tháng 5 và tháng 6 là 3,94%).


      Đại diện Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân
      (MPI) nhận định, với diễn biến như vậy, CPI bình quân cả năm 2009 so
      với 2008 sẽ chỉ ở mức một con số(không phải ở mức hai con số như trước
      đó các chuyên gia kinh tế dự báo). Như vậy chúng ta có khả năng đạt chỉ
      tiêu CPI tăng dưới 10% Quốc hội đề ra...

    4. #624
      TTTT1
      Guest

      Mặc định Re: * ALT lọt vào TOP 10 cổ phiếu có giá nhỏ hơn giá trị thực.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I : DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào B.Viện ...


    5. #625
      TTTT1
      Guest

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn giá trị thực.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I : DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào B.Viện ...



      Thứ Bảy, 27/06/2009,15:45
      TP.H CM phát huy lợi thế đầu tàu kinh tế, tăng cường thu hút FDI


      Sáng 27/6, phát biểu tại Hội nghị tổng kết 20 năm thu
      hút đầu tư nước ngoài (ĐTNN) trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, Phó Thủ
      tướng Hoàng Trung Hải đánh giá, trong 20 năm đổi mới, kinh tế TP.HCM
      đã tiến một bước dài trên con đường phát triển và trở thành đầu tàu của
      nền kinh tế cả nước. Trong sự phát triển đó, sự đóng góp của khu vực
      kinh tế có vốn ĐTNN, các doanh nghiệp (DN), dự án ĐTNN là vô cùng quan
      trọng.


      Vì vậy, Phó Thủ tướng lưu ý thành phố cần phát huy lợi
      thế trung tâm kinh tế lớn và năng động nhất nước, tiếp tục cải cách
      hành chính sâu rộng, cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh tạo mọi
      điều kiện thuận lợi nhất thu hút các nhà đầu tư, các DN hoạt động và
      phát triển để thu hút thêm nhiều nguồn vốn vào các lĩnh vực trọng điểm
      của Thành phố.


      Đóng góp quan trọng trong phát triển KT-XH


      Phó Chủ tịch UBND TP. Hồ Chí Minh Nguyễn Trung Tín cho biết, 20 năm qua, TP.HCM
      luôn là địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút ĐTNN. Tính đến
      31/12/2008, số dự án còn hiệu lực trên địa bàn thành phố là 3.128 dự án
      với tổng vốn đầu tư đăng ký là 25,6 tỷ USD. Các dự án đầu tư vào lĩnh
      vực công nghiệp và dịch vụ ngày càng gia tăng, công nghiệp – xây dựng
      chiếm 49,28%, kinh doanh bất động sản chiếm 20,21%, các ngành nông lâm
      thủy sản chiếm 0,38%, còn lại hơn 30% đầu tư vào các ngành khác. Đặc
      biệt, trong những năm gần đây, quy mô ĐTNN tập trung vào các lĩnh vực
      giáo dục, đào tạo, y tế, công nghệ cao ngày càng lớn.


      Tính đến đầu năm 2009, nguồn vốn thực hiện đã đạt 10,1
      tỷ USD, đạt gần 40% so với tổng vốn đầu tư đăng ký. Hồng Kông là vùng
      lãnh thổ có tổng vốn đầu tư vào TP cao nhất với hơn 3,4 tỷ USD, chiếm
      19,7%, tiếp theo là Hàn Quốc với tổng vốn đầu tư trên 2,8 tỷ USD,
      Singapore khoảng 1,98 tỷ USD. Mới đây, với các dự án FDI như: Khu đô
      thị Đại học quốc tế Berjaya, Công viên phần mềm Thủ Thiêm đã đưa
      Malayxia và Singapore lần lượt giữ các vị trí cao nhất trong đầu tư vào
      TP.HCM.


      Về kinh tế, nguồn vốn ĐTNN đã góp phần quan trọng bổ
      sung nguồn vốn đầu tư trong nước và trở thành động lực, tạo ra “cú
      huých” cho tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành
      phố. GDP TP. Hồ Chí Minh liên tục tăng trưởng từ 9% năm 2000 lên 12,6%
      năm 2007, trong đó đóng góp của khu vực ĐTNN vào GDP có xu hướng tăng
      dần qua cả năm, từ 3.623 tỷ đồng năm 1995 lên 9.723 tỷ đồng năm 2000,
      16.655 tỷ đồng năm 2005 và 20.507 tỷ đồng năm 2007. Đến nay, tỷ trọng
      trong GDP khu vực này chiếm gần 20%.


      Hoạt động ĐTNN cũng góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
      tế TP theo hướng nâng dần tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ. Cụ thể, cơ
      cấu ngành công nghiệp – xây dựng tăng nhanh từ 38,5% năm 1995 lên 45,6%
      năm 2007, cơ cấu ngành nông, lâm, thủy sản giảm dần từ 3,35% xuống còn
      1,45% năm 2007. ĐTNN cũng có nhiều tác động tích cực trong việc tăng
      kim ngạch xuất khẩu, phát triển hạ tầng kỹ thuật – xã hội, góp phần
      nâng cao đời sống người dân.


      Bên cạnh hiệu quả kinh tế, qua thu hút nguồn vốn FDI,
      thành phố đã tiếp thu những công nghệ kỹ thuật hiện đại, kinh nghiệm
      quản trị doanh nghiệp tiên tiến và giải quyết việc làm cho hàng trăm
      ngàn lao động của thành phố và các tỉnh khác. Ngoài ra, nguồn vốn FDI
      cùng các phương thức kinh doanh mới đã tạo ra sự cạnh tranh ngay tại
      thị trường trong nước, thúc đẩy doanh nghiệp trong nước đổi mới công
      nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm và áp dụng phương pháp kinh doanh
      hiện đại.


      Ưu tiên khắc phục điểm yếu về cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực


      Cùng với những kết quả đánh giá tích cực về kết quả, vai trò ĐTNN mang lại cho TP trong 20 năm qua, lãnh đạo các Bộ, ngành, TP.HCM,
      các nhà đầu tư cũng thẳng thắn nhìn nhận lại những mặt hạn chế và tồn
      tại hiện nay, nhằm tìm ra biện pháp phát huy tối đa hiệu quả của dòng
      vốn đầu tư quan trọng này. Các vấn đề chính được đề cập là sự phát
      triển còn yếu về nguồn nhân lực, từ việc phân bổ lao động, chất lượng
      lao động, phân bổ thu nhập, điều kiện cũng như giải quyết tranh chấp
      lao động; cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu và thiếu đồng bộ, chưa tương xứng
      với tốc độ tăng trưởng phát triển KTXH, ĐTNN chưa góp phần hình thành
      nên ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất trên địa bàn, một số cơ
      chế, thủ tục vẫn còn chồng chéo, chưa thực sự thuận lợi cho nhà đầu
      tư,...


      Các ý kiến này cũng được Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải
      ghi nhận và chia sẻ: “Bên cạnh những nỗ lực không ngừng của **** bộ,
      chính quyền và nhân dân TP, kết quả thu hút ĐTNN trên địa bàn đã đạt
      những kết quả vô cùng to lớn, tạo diện mạo mới, thay đổi về chất lượng
      trong đời sống KTXH của TP.HCM,
      thì cũng có một số vấn đề tồn tại trong ĐTNN cần phải nhận diện sâu sắc
      hơn để rút ra những bài học kinh nghiệm chung cho cả nước, nhất là
      trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều thay đổi hiện nay”.


      Sau 4 giai đoạn thăng trầm của ĐTNN vào TP.HCM
      trong 20 năm qua, đây chính là thời điểm để các cơ quan hoạch định nhìn
      nhận, đánh giá lại vấn đề thực hiện cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý
      hơn. Trong đó, mục đích và hiệu quả dòng vốn FDI cần phải được xem xét
      kỹ hơn trong quy hoạch phát triển KT-XH cũng như của từng ngành kinh tế
      của TP. Từ đó đưa ra các mục tiêu cụ thể, khoa học về chuyển dịch cơ
      cấu, thu hút công nghệ, vốn và đổi mới năng lực quản lý để đạt được
      hiệu quả cần thiết trong thu hút vốn FDI.


      Vấn đề cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực được
      Phó Thủ tướng đánh giá là 2 điểm yếu nhất, cần quan tâm khắc phục nhất
      trong thu hút đầu tư nói chung và vốn ĐTNN nói riêng của TP.HCM.
      Là địa bàn triển khai rất nhiều dự án, nên TP chịu sức ép rất lớn về
      nguồn lao động, đặc biệt là lao động có tay nghề, chất lượng cao và
      tương tự cũng cần một cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội quy mô tương
      xứng. “Nhưng cả 2 lĩnh vực này đều thực hiện còn chậm và nhất là thiếu
      tính đồng bộ. Tôi vừa đi kiểm tra cầu Đồng Nai mới. Cầu chính thì sắp
      xong, nhưng đường dẫn cầu thì cuối năm 2010 mới có thể xong. Điều này
      đặt ra câu hỏi lớn về khả năng hạ tầng đáp ứng nhu cầu đầu tư, kinh
      doanh của DN. Đó là sự lãng phí vô cùng”, Phó Thủ tướng ví dụ.


      Bên cạnh đó, Phó Thủ tướng cũng lưu ý các cơ chế,
      chính sách áp dụng để thu hút được vốn, vừa tranh thủ học hỏi kinh
      nghiệm quản lý, kinh doanh, công nghệ từ các DN có vốn ĐTNN, tăng cường
      cải cách hành chính bằng việc tiêu chí hóa, số liệu hóa những nội dung,
      giúp tạo điều kiện tối đa cho các DN, tăng khả năng giải ngân, thực
      hiện vốn ĐTNN trong bối cảnh kích cầu, chống suy giảm kinh tế hiện nay.


      * Nhân dịp này, thay mặt **** và Nhà nước, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Bí thư Thành ủy TP.[url="http://www.vietstock.com.vn/vstfinance/StockDetail.aspx?scode=HCM&q=HCM" style="color: rgb(23, 50, 128); text-decoration: underline;" target="_blank">HCM Lê Thanh Hải đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho tập thể nhân dân và cán bộ TP.

    6. #626
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn giá trị thực.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I : DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào B.Viện ...

      [h1]Bao giờ bệnh viện hết quá tải?[/h1]
      Cập nhật: 17/09/2008 -
      08:49 - Nguồn:
      news_source(6);
      DanTri.com.vn



      [table]






      [table]
      [/table]








      [table]





      Bệnh nhân phải nằm ngay hành lang trật
      hẹp để chữa bệnh (Ảnh: H.Hải)
      [/table]


      (Dân trí) - Đó là câu hỏi của nhiều
      người dân mỗi lần đi khám bệnh nhưng xem ra vẫn chưa thể có câu trả lời. Vì Bộ
      trưởng Bộ Y tế cũng thừa nhận tình trạng quá tải BV trầm trọng, đã làm đủ cách
      nhưng khó có thể giảm tải trong “một sớm, một chiều”.






      Quá tải triền miên...


      Từ nhiều năm nay, quá tải bệnh viện thực sự đã trở thành “căn bệnh nan y” của ngành y tế.
      Không chỉ ở thời điểm giao mùa, thời tiết xấu, dịch bệnh,số bệnh nhân nhập viện
      đông thì mới xảy ra quá tải Mà ở bất cứ thời điểm nào, ngày tháng nào trong năm,
      bệnh viện cũng luôn phải “căng mình hết cỡ” để đón bệnh nhân.


      Tại Hội nghị Sơ kết thực hiện Chỉ thị 06/2007/CT-BYT về nâng cao chất lượng
      khám chữa bệnh cho nhân dân diễn ra ngày 16/9 tại Hà Nội, đại biểu tham dự hội
      nghị cũng kêu trời vì hai từ “quá tải”.


      Báo cáo của Cục Quản lý Khám chữa bệnh (KCB), Bộ Y tế, cho thấy:hiện cả nước
      có 1.062 bệnh viện (BV) công, 77 bệnh viện tư nhân với tổng số 145.000 giường
      bệnh. Tuy nhiên, số lượng giường bệnh như vậy là quá thấp so với nhu cầu. Hiện
      tượng nằm ghép 2, 3 người/giườngtại các BV tuyến trung ương như Bạch Mai, Chợ
      Rẫy, K… là khá phổ biến, kéo dài nhiều năm, gây mệt mỏi cho người bệnh, gia tăng
      áp lực đối với cán bộ y tế, ảnh hưởng tới chất lượng điều trị. Vì vậy, đã có rất
      nhiều bệnh viện tăng thêm giường bệnh từ 11% - 211% so với giường kế hoạch.


      Hầu như đi tới bệnh viện nào cũng dễ dàng nhận thấy tình trạng quá tải. Như tại Khoa C8,
      Viện Huyết học & Truyền máu T.Ư, chỉ có 56 giường bệnh mà lúc nào cũng có
      khoảng trên 120 bệnh nhân nội trú. Thay vì 1 người bệnh 1 giường, có khi, 2 - 3
      người phải chen nhau chật cứng trên một chiếc giường cá nhân chật hẹp bằng cách
      nằm..."lộn đầu đuôi".


      Hay như một vị bác sĩ của Trung tâm Y tế huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã
      từng một lần bày tỏ với phóng viên Dân trí, dịp giao mùa năm 2007, số bệnh nhi
      đông đến mức nằm ghép 2- 3 bệnh nhi một giường không đủ, phòng bác sĩ cũng phải
      dành cho bệnh nhân mà vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu. Vị này bày tỏ, nhìn bệnh
      nhân đứng ngồi nằm trong khoa, đông như một… hội trường.


      Còn tại BV Bạch Mai, hiệu suất sử dụng giường bệnh trung bình luôn đạt tới
      160%.


      ... tại nhân lực tuyến y tế cơ sở
      kém!


      Theo đánh giá của ngành y tế, dù đã đưa ra đủ biện pháp như giảm ngày điều
      trị trung bình, kê thêm giường, huy động nguồn vốn xã hội cho y tế, phát triển y tế tư nhân;
      tăng cường hệ thống y tế cơ sở… song tình trạng quá tải của hệ thống y tế vẫn ở
      mức 120% (tuyến tỉnh, trung ương là 140%).


      Ông Nguyễn Văn Châu, Giám đốc Sở Y tế TP.HCM bày tỏ: “Dù đã đầu tư hàng nghìn
      tỷ đồng để nâng cấp các BV tuyến trung ương, tuyến quận huyện trên địa bàn thành
      phố, song tình trạng quá tải của hệ thống y tế thành phố vẫn khó giảm do số bệnh
      nhân từ các tỉnh, thành phố trong khu vực đổ về ngày càng lớn; do các cơ sở y tế
      liên tục đầu tư trang thiết bị y tế kỹ thuật hiện đại, CBYT có trình độ
      cao…”.


      Theo thống kê, hiện các BV ở TP.HCM khám điều trị cho khoảng 40% số bệnh nhân
      cả nước với 35 triệu lượt người. Trong khi đó, BV tuyến huyện chỉ đáp ứng 43%
      nhu cầu KCB của người dân, 47% bệnh nhân lên tuyến tỉnh, sau đó có thể chuyển
      lên tuyến trung ương; 7% bệnh nhân lên thẳng tuyến trung ương; còn 3% chọn nơi
      điều trị là các BV, phòng khám tư nhân.


      Theo Giám đốc BV Việt Đức Nguyễn Tiến Quyết, “mấu chốt” của quá tải bệnh viện
      là do năng cán bộ y tế ở tuyến cơ sở quá yếu, lại không có người giỏi dìu dắt,
      phân công cán bộ chưa phù hợp… dẫn đến tình trạng mặt bằng trình độ chuyên môn
      rất yếu. Vì không tin tưởng, người dân thường vượt tuyến khám bệnh, gây quá tải
      trầm trọng tuyến T.Ư.


      Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu cho rằng, nhân
      lực là một trong những vấn đề lớn nhất của công tác giảm quá tải BV. Hiện chúng
      ta chỉ có 32 cán bộ y tế/1 vạn dân, sự mất cân đối CBYT giữa các khu vực, vùng
      miền rất nghiêm trọng. Chính vì vậy, tăng cường số lượng CBYT từ hình thức cử
      tuyển, đến đào tạo theo địa chỉ, đào tạo liên thông… cần phải được chú trọng.



      Ông Triệu cũng khẳng định, giảm tải bệnh viện luôn là một ưu tiên hàng đầu
      của ngành y tế. Tuy nhiên, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, điều kiện nên việc
      giảm tải chắc chắn không thể hoàn thành trong “một sớm, một chiều”.


      Vì không thể giảm tải trong “một sớm, một chiều” nên người bệnh, cán bộ y tế
      chắc chắn sẽ tiếp tục phải “chung sống” với quá tải như một “căn bệnh nan y” khó
      chữa của ngành y tế trong nhiều năm qua.
      Hồng Hải


      [/table]

    7. #627
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn g.trị sổ sách.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I: DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào Bệnh Viện ...

      [h1]Quá tải bệnh viện Ung bướu Gia Định![/h1]
      Cập nhật: 07/09/2007 -
      02:17 - Nguồn:
      news_source(6);
      DanTri.com.vn

      [table]






      [table]
      [/table]








      [table]





      Việc 2-3 bệnh nhân/giường là "chuyện
      thường ngày" ở bệnh viện Ung bướu Gia định.
      [/table]


      (Dân trí) - Hiện nay, trước nhu cầu
      chăm sóc sức khỏe của người dân, hầu hết các bệnh viện đều trở nên quá tải.
      Nhưng sự quá tải ở bệnh viện ung bướu Gia Định, có thể nói đã vượt
      ngưỡng!




      3
      bệnh nhân nằm trên chiếc giường…bề ngang nửa
      mét![/b]





      Vừa bước vào cổng bệnh viện, sự quá tải đã hiện ra ngay trước mắt chúng
      tôi. Những con người bất hạnh, mang trong cơ thể căn bệnh ung thư quái ác, đang
      chen lấn nhau, kẻ đứng, người ngồi. Khoảng sân rộng nhưng vẫn trở nên ngột ngạt
      , nhỏ bé trước hàng trăm con người chờ khám.





      Chị Lê Thị Đẹp, quê ở Vĩnh Long, bị ung thư cổ tử cung, cho biết: “Tui
      chịu không nổi nữa nên ra đây cho thoáng. Trong phòng tù túng
      lắm...”.Chị Đẹp là bệnh nhân nội
      trú, đã nằm lại đây2 tuần rồi. Phòng chị
      nằm rất chật hẹp, chỉ khoảng chừng 20m2 nhưng phải “gồng gánh” tới 34
      bệnh nhân. Theo lời chị thì bệnh nhân nằm chen nhau như “cá mòi” và để “cải
      thiện” tình hình, chị đành xách chiếu ra đây “tạm trú”. Hằng ngày, chỉ đến giờ
      bác sĩ khám bệnh, chị mới có mặt ở phòng. Không riêng gì chị, một số bệnh nhân
      khác cũng chọn cho mình giải pháp đó.





      Theo chân hộ lý trẻ Hoàng Thị Thanh Thúy, chúng tôi đến phòng 103, khoa
      xạ 1. Thúy cho biết: “Hôm nay hơi …vắng, vì một số bệnh nhân xuất viện…”. Nói là
      "vắng" nhưng cũng có tới 30 bệnh nhân trong căn phòng 14 giường, rộng chừng
      20m2. Nỗilo lắng về bệnh tật hiện rõ trên gương mặt từng người.





      Chị Cao Thị Cẩm Hồng, bệnh nhân ở đây cho tôi biết: “Cao điểm phòng này
      có hơn 50 bệnh nhân. Những bệnh nhân có chút sức khỏe, còn mạnh sẽ trải chiếu
      nằm dưới đất, nhường giường cho những bệnh nhân nặng hơn hoặc già yếu. Lúc cao
      điểm, nằm dưới đất cũng không có chỗ, có người phải chui xuống gầm giường
      nằm…”.





      Lúc chịnói, 2 bệnh nhân khác đang
      cùng ngồi cùng chị trên chiếc giường bề ngang chừng… nửa mét. Chịcho biết: “3 chúng tôi phải nằm chung nhau
      trên chiếc giường này…”. Mỗi ngày lưu lại ở đây, mỗi bệnh nhân phải trả phí là
      10.000 đồng. Nhưng không phải ai cũng có tiền để trả vì đa số họ là những người
      ở thôn quê, đời sống rất khó khăn.





      Điều dưỡng Thúy cho biết thêm: “Bệnh nhân ở đây bỏ trốn để khỏi thanh
      toán viện phí là chuyện rất thường xảy ra. Biết bà con khó khăn, tất cả bác sĩ,
      y tá, điều dưỡng ở khoa đều cương quyết không nhận “phong bì” của bệnh nhân, dù
      họ tự nguyện.





      Mỗi điều dưỡng viên hiện tại cũng lâm vào tình trạng “quá tải” chung, khi
      một mình chăm sóc hơn 30 bệnh nhân”. Vậy mà, khi tiếp xúc với chúng tôi, tất cả
      những người trẻ làm công việc “từ mẫu” ấy luôn thường trực trên môi nụ
      cười. Đa số họ vẫn còn độc thân, như bác sĩ Hoàng, đã ngấp nghé 30, vẫn chưa có
      phút rảnh rỗi để tìm“một nửa” còn lại.
      Những bệnh nhân có hộ khẩu thành phố, thường hay tự điều trị tại nhà, ít khi nằm lại.





      Ở các khoa khác, tình trạng cũng không sáng sủa gì hơn. Khi đi ngang qua
      nơi chờ khám, một không khí ngột ngạt bao trùm. Hàng trăm con người với những
      gương mặt mỏi mệt, ánh mắt chờ đợi… Có
      bệnh nhân phải chờ đến nửa ngày mới tới lượt mình. Một bệnh nhân đùa : “Đừng gọi
      là bệnh viện ung bướu, phải gọi là bệnh viện quá tải mới đúng!”.





      Lãnh đạo bệnh viện nói
      gì?[/b]





      Chúng tôi nêu vấn đề này với bác sĩ Lê Hoàng Minh, Phó Giám đốc bệnh
      viện, ông đã chân thành cho biết: “Rất đau lòng, chúng tôi đang cố gắng khắc
      phục, nhưng phải chờ thêm một thời gian nữa”.





      Theo lời bác sĩ Minh, hiện nay có đến hơn 60%bệnh nhân lưu lại là hộ khẩu
      ở tỉnh bởidù đã thành lập khoa ung bướuở tỉnhnhưng điều kiện vật chấthạn hẹp, thiếu máy móc điều trị(máy xạ trị
      chẳng hạn) nên bắt buộc bệnh nhân phải được chuyển lên đây, gây nên tình trạng
      quá tải.





      Theo kế hoạch của Bộ Y Tế, bệnh viện ung bướu Gia Định có 1.100 giường
      nội trú, 3.000 giường ngoại trú nhưng hiện nay trên thực tế bệnh viện chỉ có 700 giường nội trú, 1.600
      ngoại trú. Hàng ngày, bệnh viện phải tiếp nhận khoảng 3.000 lượt người từ các
      tỉnh phía Nam đến khám, trong đó số phải nằm lại điều trị khoảng từ 500 - 600
      bệnh nhân, trong khi số bệnh nhân xuất viện thường thấp hơn sốvào viện”.






      Để giải quyết tình trạng quá tải, bác sĩ Minh cho biết: “Cần phải phát
      triển thêm cơ sở vật chất, xây dựng lại quy trình từ khâu khám bệnh và điều trị
      cho hợp lý. Trước mắt, để giải quyết tình trạng quá tải nhất thời, đối với những
      bệnh nhân ở thành phố, chúng tôi đưa vào dạng điều trị ngoại trú (khám ở bệnh
      viện, về nhà điều trị), đồng thời cử bác sĩ, chuyên viên về các tỉnh, giúp thành
      lập Khoa Ung bướu ở các bệnh viện để bà con có thể khám và điều trị tại quê,
      tránh tình trạng đổ dồn về thành phố.





      Về lâu dài, chúng tôi đang xây thêm một khu khám bệnh và phát hiện bệnh
      sớm, rất hiện đại, gồm 2 tầng hầm và 7 tầng lầu ở số 47 Nguyễn Huy Lượng (Bình
      Thạnh). Đề án này đã được trình lên sở Xây dựng thẩm định dự án và sở Kế hoạch
      và Đầu tư thành phố phê duyệt. Hy vọng khi xây xong, tình trạng quá tải sẽ được
      giải quyết. Thành ủy, Hội Đồng nhân dân TP cũng rất quan tâm về vấn đề này, cũng
      đã chỉ đạo các ban ngành, Sở Y tế, xây dựng thêm một bệnh viên ung bướu mới, có
      sức chứa 1.000 giường, tọa lạc ở Quận 9. Có lẽ, khoảng trong khoảng thời gian từ
      3-5 năm nữa, bệnh viện này sẽ ra đời…”.





      [/i]Lê Ngọc Dương
      Cầm[/b]





      [/table]

    8. #628
      Ngày tham gia
      Nov 2007
      Bài viết
      1,716
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn g.trị sổ sách.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I: DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào Bệnh Viện ...



      sao có một mình bác handsome 4T PR không mệt mỏi thế này.....yêu cầu bác cho một bài PT về nội lực cũng như các chỉ số của em nó.....còn mảng BV chưa phải thời điểm hái quả.....(^_^)

    9. #629
      Ngày tham gia
      Mar 2007
      Bài viết
      152
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn giá trị thực.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I : DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào B.Viện ...

      ALT bắtđầuđẹp rồiđây. GTSS 40 mà giácó 2x cũngđáng xem xétđểĐTưđược roài .......


      Các quý vẫn lãi đều, EPS>2k -> ĐTư chờ về GTSS chén 100% ! Tại sao ko???.


    10. #630
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn g.trị sổ sách.Giầy dép ai vứt mà đẹp thế nhỉ GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I: DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào Bệnh Viện ...



      [quote user="tristar"]

      sao có một mình bác handsome 4T PR không mệt mỏi thế này.....yêu cầu bác cho một bài PT về nội lực cũng như các chỉ số của em nó.....còn mảng BV chưa phải thời điểm hái quả.....(^_^)

      [/quote] Thế kụ kiếm đâu ra thằng rẻ hơn GTSS mà EPS ~ 3,000 chỉ tui coi [:chocque]
      Có mua mấy thằng với EPS ~ 5,000 - 20,000 thì cũng không có lợi bằng mua ALT nhé [:chocque]
      Nội lực gì cũng "không qua chênh lệch GTSS" hiện tại nhé. Cái nầy thì "chắc chắn" - " chắc ăn" - " không chạy đâu thoát" - khỏi lo dự báo thế nầy nhưng thực tế lại khác ... [:cuoibo] [:cuoibo]
      Bỏ ra 1 tỷ - Sở hữu ngay ~ 1,8 tỷ . Không cần chờ đợi ... gì ráo trọi . Có ngay cho mình xơi . Còn gì bằng . Ngân hàng thua xa .


      Hàng năm còn hưởng cổ tức ~ 20% . Thế thì hơn khối lần ngân hàng .

      1/ Lãi suất cao hơn ngân hàng .

      2/ Bỏ vào N.Hàng 1 tỷ đ = > Sở hữu 1 tỷ .

      Bỏ vào ALT 1 tỷ đ = > Sở hữu ~ 1,8 tỷ . Vừa hưởng cổ tức, vừa hưởng ~ 800 triệu . Đúng là thời suy thoái toàn cầu ( trừ VN & đa số nước Châu Á ) mới có những chuyện trong mơ như thế nầy []

      Ở VN chả ai cho không ai cái gì, cuộc sống rất khắc nghiệt ... Họ không lấy của mình là may chứ có ai cho mình bao giờ (trừ tui []) . Thế chả phải mua ALT là " sống giữa thiên đường " rồi []


      PT nội lực thì mình 0 có hứng, không mặn mà vì free mà. Vả lại vốn mình bỏ vào ALT ít thôi . Vài trăm triệu nên chả bỏ công để đi free sâu hơn .Tuy nhiên những thông tin gởi lên topic nầy cũng đã là o.k rồi . Bạn ham hố quá . Làm như tui đang quản lý 1 số tiền vài chục tỷ bỏ vào ALT hay sao mà phải thế nè [:P] []

      [url="http://www.glitter-graphics.com">[img]http://dl4.glitter-graphics.net/pub/2306/2306524lm1yq0ydj5.gif" width="506" border="0" height="354">

    11. #631
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn g.trị sổ sách.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I: DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào Bệnh Viện ..



      Chủ Nhật, 28/06/2009,11:15

      Thị trường bán lẻ thực phẩm vẫn nhiều tiềm năng


      Mạng chuyên cung cấp thông tin về nghiên cứu thị trường và tư
      liệu thị trường "Research and Markets" cho biết dù khủng hoảng kinh tế toàn cầu
      đang tác động, Việt Nam vẫn là một thị trường đầu tư đầy tiềm năng.


      Trong báo cáo mới nhất về thị trường thực phẩm và đồ uống của
      Việt Nam công bố ngày 26-6, "Research and Markets" đánh giá viễn cảnh kinh tế
      Việt Nam là khả quan, trong các năm 2009 và 2010, kinh tế Việt Nam có thể vực
      dậy nhanh hơn so với các nước khác trong khu vực và trở lại với tốc độ tăng
      trưởng nhanh vào năm 2011.


      Báo cáo dự đoán thị trường bán lẻ thực phẩm của Việt Nam có thể
      tăng 81% vào năm 2013, và còn nêu rõ thị trường bán lẻ thực phẩm đóng hộp của
      Việt Nam có nhiều cải thiện trong quí 2-2009.


      Tháng 4-2009, nhà phân phối bán lẻ FamilyMart của Nhật Bản đã
      công bố kế hoạch đặt đại lý tại TPHCM vào tháng 9 tới. Trong khi đó, Saigon
      Co-op cũng đặt mục tiêu mở rộng hệ thống siêu thị của mình từ 35 lên khoảng 50
      siêu thị từ nay cho đến cuối năm. Doanh số của các siêu thị được dự đoán sẽ tăng
      97,4% đến năm 2014.


      Vietnam+





    12. #632
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn g.trị sổ sách.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I: DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào Bệnh Viện ..



      TTCK Châu Á : bao trùm 1 màu xanh .
      [table]

      Asia Region



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      S&P ASIA 50 INDEX CME | 2,457.50 | 42.05 | 1.74% | 22:38 |



      MSCI ASIA APEX 50 | 634.91 | 11.07 | 1.77% | 22:37 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Japan



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      TOPIX INDEX (TOKYO) | 929.64 | 14.32 | 1.56% | 22:00 |



      TOPIX CORE 30 IDX (TSE) | 523.35 | 7.62 | 1.48% | 22:00 |



      TOPIX LARGE 70 IDX (TSE) | 850.68 | 16.31 | 1.95% | 22:00 |



      TOPIX 500 INDEX (TSE) | 733.08 | 11.85 | 1.64% | 22:00 |



      TOPIX SMALL INDEX (TSE) | 961.75 | 7.69 | 0.81% | 22:00 |



      TOPIX MID 400 INDX (TSE) | 971.07 | 15.01 | 1.57% | 22:00 |



      TOPIX 100 INDEX (TSE) | 636.70 | 10.52 | 1.68% | 22:00 |



      TSE2 TOPIX 2ND SECT INDX | 2,206.01 | 12.01 | 0.55% | 22:00 |



      NIKKEI 225 | 9,968.04 | 184.57 | 1.89% | 22:00 |



      NIKKEI 300 INDEX | 186.88 | 3.11 | 1.69% | 22:00 |



      NIKKEI 500 | 848.14 | 12.28 | 1.47% | 22:00 |



      JASDAQ: STOCK INDEX | 48.11 | 0.64 | 1.35% | 22:01 |



      NIKKEI JASDAQ | 1,197.75 | 6.81 | 0.57% | 22:18 |



      TSE REIT INDEX | 990.24 | 14.17 | 1.45% | 22:00 |



      TSE MOTHERS INDEX | 439.74 | 0.66 | 0.15% | 22:00 |



      OSAKA SE HERCULES INDEX | 647.42 | 1.54 | 0.24% | 22:01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Hong Kong



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      HANG SENG INDEX | 18,801.53 | 273.02 | 1.47% | 22:22 |



      HANG SENG COMPOSITE INDX | 2,656.11 | 33.62 | 1.28% | 22:22 |



      S&P/HKEx LargeCap Index | 22,217.60 | 344.48 | 1.57% | 22:23 |



      S&P/HKEx GEM Index | 588.22 | -2.27 | -0.38% | 22:23 |



      HS FREEFLOAT COMP INDEX | 2,779.76 | 35.65 | 1.30% | 22:22 |



      HANG SENG HK FREEFLT IX | 1,972.99 | 21.38 | 1.10% | 22:22 |



      HANG SENG CHINA ENT INDX | 11,192.67 | 205.10 | 1.87% | 22:22 |



      HANG SENG CHINA AFF.CRP | 3,950.26 | 56.56 | 1.45% | 22:22 |



      HS MAINLAND FREEFLOAT IX | 6,074.65 | 85.69 | 1.43% | 22:22 |



      HANG SENG 50 INDEX | 2,637.88 | 37.98 | 1.46% | 22:22 |



      HANG SENG HK 25 INDEX | 1,872.69 | 20.92 | 1.13% | 22:22 |



      HANG SENG MAINLAND25 IX | 6,894.37 | 117.28 | 1.73% | 22:22 |



      HANG SENG H-FINANCIALS | 15,161.07 | 283.02 | 1.90% | 22:22 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      China



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      CSI 300 INDEX | 3,183.79 | 3.82 | 0.12% | 22:22 |



      SHANGHAI SE A SHARE INDX | 3,131.58 | 8.12 | 0.26% | 22:38 |



      SHANGHAI SE B SHARE INDX | 190.41 | 1.10 | 0.58% | 22:37 |



      SHENZHEN SE A SHARE INDX | 1,017.62 | 0.62 | 0.06% | 22:22 |



      SHENZHEN SE B SHARE INDX | 499.61 | 0.30 | 0.06% | 22:23 |



      SHANGHAI SE COMPOSITE IX | 2,982.77 | 7.46 | 0.25% | 22:37 |



      SHENZHEN SE COMPOSITE IX | 969.13 | 0.59 | 0.06% | 22:22 |



      SHANGHAI SE 180 A SHR IX | 7,106.83 | 9.60 | 0.14% | 22:37 |



      SHANGHAI SE 50 A-SHR IDX | 2,390.67 | -0.40 | -0.02% | 22:38 |



      SHENZHEN G-SHARES | 4,207.06 | 5.05 | 0.12% | 22:23 |



      SHANGHAI G-SHARES | 2,531.44 | 6.22 | 0.25% | 22:37 |



      SSE COMPONENT STOCK IX | 11,646.85 | 41.33 | 0.36% | 22:22 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Taiwan



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      TAIWAN TAIEX INDEX | 6,478.23 | 87.08 | 1.36% | 22:37 |



      TAIWAN GRE TAI EXCHANGE | 99.60 | -0.27 | -0.27% | 22:18 |



      TSEC TAIWAN 50 INDEX | 4,499.15 | 72.20 | 1.63% | 22:23 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      South Korea



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      KRX 100 INDEX | 2,908.05 | 30.15 | 1.05% | 22:18 |



      KOSPI INDEX | 1,400.05 | 11.60 | 0.84% | 22:17 |



      KOSPI 200 INDEX | 180.62 | 1.81 | 1.01% | 22:18 |



      KOREA KOSPI 100 INDEX | 1,338.82 | 13.53 | 1.02% | 22:18 |



      KOREA KOSPI 50 INDEX | 1,182.63 | 13.21 | 1.13% | 22:18 |



      KOSDAQ INDEX | 486.72 | -4.92 | -1.00% | 22:18 |



      KOSDAQ STAR INDEX | 1,161.19 | -10.20 | -0.87% | 22:18 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Australia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      S&P/ASX 200 INDEX | 3,947.40 | 60.50 | 1.56% | 22:37 |



      S&P/ASX 300 INDEX | 3,941.80 | 59.60 | 1.54% | 22:37 |



      ALL ORDINARIES INDX | 3,940.60 | 57.90 | 1.49% | 22:37 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      New Zealand



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      NZX 50 INDEX | 2,774.82 | -0.30 | -0.01% | 22:17 |



      NZX TOP 10 INDEX | 780.36 | -2.03 | -0.26% | 22:17 |



      NZX 15 GROSS INDEX | 5,099.59 | -14.20 | -0.28% | 22:17 |



      NZX ALL INDEX | 692.55 | -1.71 | -0.25% | 22:09 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Pakistan



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      KARACHI 100 INDEX | 7,206.17 | 43.13 | 0.60% | 06/29 |



      KARACHI 30 INDEX | 7,640.24 | 37.16 | 0.49% | 06/29 |



      KARACHI ALL SHARE INDEX | 5,154.60 | 28.45 | 0.56% | 06/29 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Sri Lanka



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      SRI LANKA COLOMBO ALL SH | 2,439.87 | -12.14 | -0.50% | 06/29 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Thailand



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      STOCK EXCH OF THAI INDEX | 601.60 | 5.80 | 0.97% | 06/29 |



      THAI SET 50 INDEX | 433.98 | 4.55 | 1.06% | 06/29 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Indonesia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      JAKARTA COMPOSITE INDEX | 2,055.87 | 22.15 | 1.09% | 22:38 |



      JAKARTA LQ-45 INDEX | 398.99 | 4.54 | 1.15% | 22:37 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      India



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      BSE SENSEX 30 INDEX | 14,785.74 | 21.10 | 0.14% | 06/29 |



      NSE S&P CNX NIFTY INDEX | 4,390.95 | 15.45 | 0.35% | 06/29 |



      BOMBAY STOCK EX 500 IDX | 5,630.55 | 44.22 | 0.79% | 10:29 |



      BOMBAY STOCK EX 200 IDX | 1,811.79 | 13.22 | 0.74% | 10:29 |



      BOMBAY STOCK EX 100 IDX | 7,761.93 | 50.96 | 0.66% | 10:29 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Singapore



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      STRAITS TIMES INDEX | 2,346.57 | 29.40 | 1.27% | 22:22 |



      FTSE ST ALL SHARE INDEX | 571.42 | 6.30 | 1.11% | 22:23 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Malaysia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      KUALA LUMPUR COMP INDEX | 1,081.45 | 5.61 | 0.52% | 22:37 |



      FTSE MALAYSIA EMASINDEX | 7,260.90 | 42.15 | 0.58% | 22:23 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Philippines



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      PSEi - PHILIPPINE SE IDX | 2,448.05 | -20.00 | -0.81% | 22:36 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Vietnam



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      HO CHI MINH STOCK INDEX | 451.56 | -8.86 | -1.92% | 22:37 |



      HNX INDEX | 150.90 | -2.90 | -1.89% | 22:31 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Bangladesh



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      DSE General Index DGEN | 2,952.63 | 61.58 | 2.13% | 06/29 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]

      [table]
      |









      Mongolia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      MSE Top 20 Index | 4,899.46 | 51.46 | 1.06% | 06/29
      [/table]
      [/table]
      [/table]

      [table]


      [table]
      [/table]
      [h1]ĐBSCL: Bệnh nhân sốt xuất huyết tăng, bệnh viện quá tải[/h1]

      Cập nhật: 18/06/2008 -
      10:13 - Nguồn:
      news_source(6);
      DanTri.com.vn






      (Dân trí) - Bệnh sốt xuất huyết đang
      lan rộng tại các tỉnh ĐBSCL và có nguy cơ trở thành dịch nếu không được ngăn
      chặn.




      Thông tin từ các Sở Y tế trong
      khu vực cho biết đến ngày 17/6 đã có hơn 5.000 ca mắc bệnh SXH.





      Các tỉnh Tiền Giang, Cà Mau, Bạc
      Liêu, số ca bị SXH liên tục tăng, TT Y tế dự phòng Cà Mau cho biết: 6 tháng đầu
      năm, tỉnh này có hơn 1.000 ca SXH, tăng hơn gấp đôi so với cùng kỳ năm
      ngoái.





      Phó Giám đốc TT Y tế dự phòng Cà
      Mau, bác sĩ Trần Hải Đăng, nhận định: Do mới đầu mùa mưa, loăng quăng và muỗi
      phát triển nhanh đột biến nên bệnh SXH có khả năng lây lan mạnh trong vài tuần
      tới. Tại các huyện Trần Văn Thời, Năm Căn, Cái Nước số ca mắc bệnh SXH tăng
      nhanh đến mức quá tải.





      Ở Tiền Giang số ca SXH ở các
      huyện Gò Công Đông, thị xã Gò Công, TP Mỹ Tho, các huyện Cai Lậy, Chợ Gạo đã có
      hơn 1.000 ca SXH, trong đó có hơn 130 ca sốt ở độ 3, độ 4.(Phạm Tâm)[/b]





      Bùng phát dịch sốt xuất
      huyết tại huyện Quế Sơn






      Ngày 17/6, TT Y tế dự phòng huyện
      Quế Sơn (Quảng Nam) cho biết: Một ổ dịch sốt xuất huyết đang bùng phát dữ dội
      tại thị trấn Đông Phú, huyện Quế Sơn trong những ngày qua.





      Đã có gần 60 ca mắc bệnh phải đưa
      đi nhập viện. Ngoài ra, khoảng 100 người, trong đó chủ yếu là trẻ em bị sốt nhẹ
      được điều trị tại nhà bằng các phương thuốc dân gian.





      Hiện TT Y tế dự phòng Quế Sơn đã
      lấy 6 mẫu máu gửi xét nghiệm Mac Enliza, đồng thời tổ chức phun thuốc khử trùng,
      thuốc diệt muỗi và vận động nhân dân giữ vệ sinh khu vực dân cư.





      Cách đây hơn 2 tháng cũng tại địa
      phương này đã bùng phát dịch sốt xuất huyết với hàng trăm ca mắc bệnh.





      Theo các chuyên gia nhận định,
      nhiều khả năng do chưa phun thuốc diệt trùng tận gốc nên dịch đã quay trở
      lại.





      Tường Vy[/b]





      [/table]

    13. #633
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn g.trị sổ sách.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I: DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào Bệnh Viện ...





      http://forum.vietstock.com.vn/forums/t/7428.aspx

      [quote user="tanvosjs"]19/12-----------77.500
      20/12-----------81.000
      21/12-----------85.000
      22/12-----------89.000
      Em thấy ALT làm cho cổ đông sung sướng quá đi thôi ,mãn nguyện lắm đấy.[img]http://forum.vietstock.com.vn/emoticons/emotion-49.gif" alt="Cake">Tôi

    14. #634
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn g.trị sổ sách.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I: DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào Bệnh Viện ...

      [h1]Kinh tế 6 tháng đầu năm trên đà thoát đáy
      [/h1]

      Thứ 3, 30/06/2009, 09:41

      Nếu tăng trưởng kinh tế quý 1 được coi là mức đáy thì quý 2 đã có dấu hiệu thoát đáy vượt dốc đi...


      Các
      con số thống kê chính thức từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư về tổng quan tình
      hình kinh tế 6 tháng đầu năm 2009 cho thấy nhiều vấn đề đáng suy nghĩ.

      Thứ nhất, tăng trưởng của một số chỉ tiêu kinh tế quan trọng có sự suy giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước
      (cùng kỳ năm trước, GDP tăng 6,5%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng
      16,5%, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp - thuỷ sản tăng 4,5%, GDI thực
      hiện 4,9 tỷ USD, xuất khẩu 30,7 tỷ USD, nhập khẩu 44,5 tỷ USD...). Thứ hai, nếu tăng trưởng kinh tế quý 1 được coi là mức đáy thì quý 2 đã có dấu hiệu thoát đáy vượt dốc đi lên, khi tốc độ tăng của một số chỉ tiêu chủ yếu quý 2 nói riêng và 6 tháng nói chung cao lên.


      Giá
      trị sản xuất công nghiệp tháng 6 đã tăng 8,2%, 6 tháng tăng 4,8%. Giá
      trị sản xuất nông, lâm nghiệp- thuỷ sản 6 tháng tăng 2,6%, đặc biệt sản
      lượng lúa đông xuân tăng khá (ước đạt 18,6 triệu tấn, tăng 322 nghìn
      tấn so với đông xuân trước).

      Ngành
      xây dựng năm trước giảm, năm nay tăng mạnh khi giá vật liệu xây dựng
      năm trước tăng cao, sang năm nay giảm. Đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm
      mạnh về số đăng ký mới, nhưng đã tăng khá về số vốn bổ sung; đầu tư
      trong nước tăng khá. Ngành dịch vụ tăng cao hơn tốc độ tăng chung (5,5%
      so với 3,9%), trong đó nổi bật là thương mại trong nước.

      Thương
      mại trong nước nếu loại trừ yếu tố tăng giá đã tăng lên qua các tháng
      (tháng 1 tăng 4%, 2 tháng tăng 5%, 3 tháng tăng 6%, 4 tháng tăng 7,4%,
      5 tháng tăng 8,4%, 6 tháng tăng 8,8%, cao gấp hơn 2 lần tốc độ tăng
      trưởng GDP) và đây là động lực của việc thoát đáy, vượt dốc đi lên.

      Nhập
      siêu tăng trở lại trong 3 tháng nay, nhưng tính chung 6 tháng đã giảm
      mạnh so với cùng kỳ. Nhiều mặt hàng xuất khẩu tăng khá về lượng (như
      dầu thô, gạo, cà phê...). Giá tiêu dùng tháng 6 tăng cao hơn mấy tháng
      trước, nhưng tính chung 6 tháng đã tăng thấp hơn nhiều so với tốc độ
      tăng 18,44% của cùng kỳ năm trước.

      Thứ ba, quý 1 là đáy, nhưng tính chung 6 tháng đầu năm vẫn là đáy của nhiều năm qua. Mặc dù đang có dấu hiệu thoát đáy vượt dốc đi lên, nhưng vẫn còn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức.

      Khó
      khăn lớn nhất là tiêu thụ và nhập siêu. Tiêu thụ trong nước khá lên là
      so với các tháng gần đây, còn so với cùng kỳ năm trước thì vẫn còn
      thấp. Đặc biệt là xuất khẩu vẫn tiếp tục gặp khó khăn cả về thị trường,
      cả về giá cả, cả về thanh toán..., nếu các nước bạn hàng chưa thoát đáy
      hồi phục, thì việc đạt mục tiêu xuất khẩu tăng 3% là không dễ đạt được.

      Trong
      khi xuất khẩu giảm, thì nhập siêu lại gia tăng và các nguồn ngoại tệ
      vào Việt Nam vẫn gặp khó khăn, nên sẽ tác động đến cán cân thanh toán,
      tỷ giá...

      Khó
      khăn khác là nguy cơ tái lạm phát. Tái lạm phát tuy chưa đến ngay trong
      vài ba tháng tới, nhưng có thể cao lên vào những tháng cuối năm nay và
      đầu năm sau, khi có sự “cộng hưởng” của nhiều yếu tố. Ở trong nước là
      sự điều độ về liều lượng giữa tăng trưởng kinh tế và kiềm chế lạm phát
      không dễ dàng: nếu nghiêng mạnh về tăng trưởng thì dễ lơi lỏng lạm
      phát, nếu nghiêng mạnh về kiềm chế lạm phát thì kinh tế khó thoát đáy
      vượt dốc đi lên.

      Khi
      kích cầu, nới lỏng thì việc kiểm soát các điều kiện được sử dụng để
      tăng hiệu quả đầu tư cũng dễ bị lơi lỏng và đây là nguyên nhân sâu xa
      của lạm phát. Bên cạnh đó còn có tác động bởi yếu tố nhu cầu sản xuất
      kinh doanh được đẩy mạnh để hoàn thành kế hoạch vào cuối năm cộng hưởng
      với nhu cầu tiêu dùng đang tăng lên và cao hơn vào dịp cuối năm, nhất
      là trong dịp Tết Nguyên đán.

      Một
      khó khăn nữa là công ăn việc làm - lĩnh vực thường bị tác động muộn hơn
      nhưng lại chậm thoát ra hơn khi bị tác động của khủng hoảng. Khi tăng
      trưởng kinh tế bị giảm xuống hai năm liền (2008, 2009), thì công ăn
      việc làm cũng sẽ bị co lại gần như tương ứng.

      Việc
      thống kê trực tiếp con số thất nghiệp và thiếu việc làm một cách chính
      xác, đầy đủ, kịp thời là rất khó khăn. Nhưng, nếu tính gián tiếp từ tốc
      độ tăng trưởng kinh tế tương ứng với tốc độ tăng số lao động làm việc,
      thì có thể suy ra tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm (để tăng 1%
      số làm động làm việc, kinh tế phải tăng khoảng 4%, nay tốc độ tăng
      trưởng kinh tế giảm đi 3,5% so với 2007 thì số lao động tăng thêm cũng
      sẽ giảm đi khoảng 0,9%; 0,9% của tổng số 45 triệu lao động sẽ tương
      đương với khoảng trên 400 nghìn lao động là con số có thể tham chiếu
      được). Theo Dương Ngọc Vnconomy[h1]Ông Lê Đức Thúy: "Quý I đã là đáy khủng hoảng"[/h1]






      Thứ ba, 07 Tháng tư 2009, 16:39 GMT+7 Trao đổi với VnExpress.net sáng nay sau sự kiện Chính phủ công bố gói kích cầu thứ hai , nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước Lê Đức Thúy tỏ ra lạc quan hơn so với gì đã phát biểu cách đây một tháng.


      Trước khi Chính phủ quyết định hỗ trợ lãi suất vốn
      vay trung và dài hạn cho các hoạt động đầu tư mới để phát triển sản
      xuất kinh doanh, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (do ông Lê Đức Thúy
      làm Chủ tịch) đã kiến nghị nên hỗ trợ tất cả các khoản vay đầu tư kinh
      doanh từ nay đến hết 2010. Ông cũng dự báo kinh tế Việt Nam năm nay khó
      tăng trưởng trên 5%.


      - Ông nhận xét như thế nào về gói kích thích kinh tế thứ hai do Chính phủ vừa công bố?


      - Nếu gói kích cầu thứ nhất mới giới hạn ở các đối
      tượng vay vốn lưu động trong ngắn hạn để sản xuất kinh doanh thì gói
      thứ hai tập trung nhiều hơn cho các tổ chức, cá nhân thực hiện đầu tư
      mới để phát triển sản xuất kinh doanh, kết cấu hạ tầng. Thời gian hỗ
      trợ cũng dài hơn hơn, trong vòng 2 năm. Đã nói tới kích thích kinh tế,
      nếu không kích cầu đầu tư sẽ khó có thể đạt hiệu quả như mong muốn.


      Gói kích cầu đầu tư này do các bộ ngành tham mưu
      cho Chính phủ, và đã được thống nhất về chủ trương. Cách thức triển
      khai cũng đã rõ ràng và có thể tiếp thu kinh nghiệm từ gói thứ nhất.
      Song các giải pháp cụ thể còn phải chờ thiết kế của bộ, ngành có liên
      quan, để xem những đối tượng nào được hưởng ưu đãi cũng như các quy
      định có liên quan.


      - Ông tiên liệu đến bao giờ các gói kích thích kinh tế bắt đầu phát huy tác dụng?


      - Bắt đầu có kết quả rồi đấy chứ, nếu ta nhìn vào
      tình hình kinh tế quý I. Tháng 1 tình hình rất khó khăn, xuất khẩu và
      thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đều sụt giảm, sản xuất công nghiệp
      tăng trưởng thấp. Nhưng tới tháng 2 và tháng 3 tình hình bắt đầu tốt
      lên. Tăng trưởng công nghiệp trong tháng 2 đã có sự chuyển biến khá so
      với bình quân của năm 2008, tiêu thụ trên thị trường nội địa cũng khởi
      sắc, hoạt động mua bán trên thị trường bất động sản cũng không phải là
      quá vắng vẻ. Số người mất việc làm không tăng lên. Kết quả có thể phản
      ánh rõ nét hơn trong quý II, chúng ta sẽ chờ xem.


      - Gần đây có nhiều nhận định Việt Nam sẽ thoát khủng hoảng ngay cuối năm nay. Quan điểm của ông thế nào?


      - Thực tế Việt Nam không lâm vào khủng hoảng, mà
      chỉ là suy giảm kinh tế. Có thể nói quý I đã là điểm đáy, sau đó sẽ
      nhúc nhích đi lên. Chính phủ đã điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng cả năm
      ở mức 5%, quý I là 3,1% thì các quý sau khó lòng thấp hơn thế.


      - Cuối tháng 2, phát biểu trên báo chí, ông
      vẫn rất thận trọng khi nhận định tình hình kinh tế đến cuối năm, nhưng
      nay đã theo chiều hướng tích cực hơn. Lý do nào khiến ông có thể lạc
      quan hơn trước, ngoài những số liệu thống kê trong nước?



      - Thế giới đang chuyển biến tích cực. Các đánh giá
      tiêu cực kiểu như khủng hoảng chưa thấy đáy, hay khủng hoảng hiện nay
      tệ hại nhất trong nhiều tập kỷ qua... gần đây không còn thấy xuất hiện.
      Giờ đây kể cả chính quyền tổng thống Mỹ, cùng đội ngũ cố vấn của ông
      Obama đều đã lạc quan hơn trước. Thực tế các chỉ số kinh tế Mỹ bắt đầu
      tích cực hơn, doanh số bán nhà mới xây tăng, chứng khoán đi lên trong
      đó cổ phiếu ngân hàng đang tăng giá trở lại.


      Như vậy đang có dấu hiệu tích cực cho thấy khả
      năng phục hồi. Tín hiệu này mạnh nhất ở Mỹ, ở EU và các nước khác nhẹ
      hơn, song cũng có thể tác động tới các khu vực còn lại trên thế giới.
      Trung Quốc cũng đang chứng tỏ nỗ lực phục hồi ngay năm nay.


      Đón nhận những tín hiệu tích cực đó, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng đã tăng mạnh trong những phiên gần đây.


      - Nhưng có ý kiến cho rằng thị trường chứng
      khoán trong nước tăng mạnh do giới đầu tư đón đầu thông tin Chính phủ
      công bố gói kích thích kinh tế thứ hai, chứ không phải niềm tin vào khả
      năng phục hồi trong dài hạn?



      - Kế hoạch hỗ trợ lãi suất thứ hai được thông qua
      trong vài ngày gần đây. Tại phiên họp thường kỳ Chính phủ cuối tháng 3,
      Thủ tướng đã kết luận về vấn đề này, sau khi có sự tham mưu của các bộ
      ngành. Có thể thông tin này đã tạo hiệu ứng tâm lý tích cực trên thị
      trường chứng khoán. Song sự kỳ vọng của giới đầu tư còn bắt nguồn từ
      những thông tin, nhận định, đánh giá tích cực thời gian gần đây của
      Chính phủ cũng như các chuyên gia trong và ngoài nước.


      - Tạp chí The Economist mới đây có bài phân
      tích trong đó cho rằng Việt Nam quá lạc quan về tình hình kinh tế. Cơ
      quan này thậm chí còn dự báo Việt Nam chỉ tăng trưởng 0,3% trong năm
      nay. Ông nói gì về những nhận định này?



      - Đúng là dự báo của mình hơi lạc quan, khi đề ra
      chỉ tiêu tăng trưởng năm nay phải bằng năm ngoái. Trong báo cáo gần đây
      nhất, mình còn đề xuất ở mức 6,2%. Nay Chính phủ đã nhìn nhận khả năng
      đó không hiện thực và điều chỉnh lại. Thực tế không chỉ Việt Nam, mà cả
      thế giới đều phải thường xuyên cập nhật tình hình và điều chỉnh các chỉ
      tiêu cho phù hợp. Các tổ chức uy tín như World Bank, ADB hay IMF cũng
      làm như vậy.


      Tuy nhiên, dự báo tăng trưởng của The Economist
      lại không hiện thực theo hướng quá bi quan về tình hình kinh tế Việt
      Nam. Họ chỉ căn cứ vào các tác động bên ngoài, tức là suy giảm xuất
      khẩu và đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà không xét tới các yếu tố nội
      tại của nền kinh tế. Ngoài những dấu hiệu tích cực từ lĩnh vực công
      nghiệp, nông nghiệp cũng góp phần quan trọng vào GDP. Hiện nông nghiệp
      chiếm 20% GDP của Việt Nam và năm nay có thể đóng góp khoảng 0,5-0,6%
      vào tốc độ tăng trưởng chung.


      Dự báo của ngân hàng Standard Charted hay World
      Bank, IMF và ADB gần đây đều dao động trong khoảng 4,5-5,5%. Mục tiêu
      tăng trưởng 5% mà Chính phủ vừa đưa ra không quá vênh so với dự báo của
      các tổ chức.


      Song Linh

      Việt Báo
      //
      (Theo_VnExpress.net)





    15. #635
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn g.trị sổ sách.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I: DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào Bệnh Viện ... Giá đỉnh ~ 120,000đ/cp



      Thứ Bảy, 02/05/2009,10:14


      Quý II/ 2009: Nền kinh tế dần lấy lại đà tăng trưởng


      (ANTĐ) - Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia,
      Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa đưa ra dự báo đầy khả quan về tình hình kinh tế quý
      II/2009 dựa trên một số tín hiệu lắng dịu của khủng hoảng tài chính toàn cầu và
      những dấu hiệu phục hồi, khả quan hơn của tình hình kinh tế trong nước tháng
      4/2009 và nhất là triển vọng thực hiện các giải pháp ngăn chặn đà suy giảm kinh
      tế của Chính phủ.





      [table]





      Nền kinh tế đang có tín hiệu
      mừng
      [/table]
      Số liệu kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2009 của Tổng
      cục Thống kê cho thấy, giá trị sản xuất công nghiệp của một số sản phẩm giảm
      trong tháng 3 nhưng đến tháng 4 đã duy trì và tăng trưởng trở lại.


      Giá trị sản xuất công nghiệp tháng 4/2009 theo giá so sánh 1994
      ước tính tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn các mức tăng của 3 tháng
      đầu năm.


      Một số sản phẩm chủ yếu có sản lượng tăng cao gồm kính thủy tinh
      tăng 61,8%, khí hóa lỏng tăng 33%; xà phòng giặt tăng 26%; dầu thô khai thác
      tăng 21,9%; vải dệt từ sợi tổng hợp tăng 11,1%; phân hóa học tăng 10,6%.


      Đây là dấu hiệu khả quan cho thấy các chủ trương, chính sách đồng
      bộ và kịp thời của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ các doanh nghiệp
      trong thời gian qua đã và đang phát huy tác dụng tích cực.


      Bên cạnh đó, trong 4 tháng đầu năm 2009, sản lượng thuỷ sản khai
      thác của nước ta đạt 802,5 nghìn tấn, tăng 8,8%, mức tăng cao nhất trong nhiều
      năm trở lại đây, chủ yếu do khai thác biển tăng khá, đạt 741,7 nghìn tấn, tăng
      9,6% so với cùng kỳ năm trước.


      Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng
      đầu năm 2009 ước tính đạt 360,4 nghìn tỷ đồng, tăng 21,5% so với cùng kỳ năm
      2008


      Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 4/2009 ước tính đạt 4,5 tỷ
      USD, giảm 15,3% so với tháng trước và giảm 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Tuy
      nhiên đang có dấu hiệu tích cực với nhiều mặt hàng chủ lực tăng hơn tháng trước
      như điện tử máy tính tăng 28 triệu USD, giày dép tăng 21 triệu USD, thuỷ sản
      tăng 17 triệu USD, hàng dệt may tăng 11 triệu USD do nhu cầu tiêu thụ những mặt
      hàng này ở các thị trường chủ lực như Mỹ, EU, Nhật Bản vẫn ổn định.


      Với một phần kết quả tăng trưởng kinh tế - xã hội khả quan của
      tháng 4/2009, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế - xã hội Quốc gia dự báo tốc
      độ tăng trưởng GDP của cả nước trong quý II đạt từ 3,5% – 3,8%, cao hơn quý I từ
      0,4-0,7% (tốc độ tăng trưởng GDP quý I tăng 3,1%).


      Tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp sẽ khoảng 2,1%-2,5% trong quý
      II và 3,4-3,7% trong cả năm; công nghiệp 3,8%-4,1% trong quý II và 4,6%-5,1% cả
      năm; dịch vụ 4,0% - 4,2% trong quý II và 4,9% - 5,5% cả năm.


      Về công tác chỉ đạo điều hành, Trung tâm này khuyến nghị, cần đề
      phòng những khả năng và tình huống xấu hơn để chủ động đối phó. Trong tháng 5 và
      quý II, phải có những chính sách mạnh mẽ hơn để chủ động đối phó với ảnh hưởng
      của suy thoái kinh tế toàn cầu, chặn đà suy giảm kinh tế. Cụ thể, cần thường
      xuyên cập nhật thông tin, chuẩn xác các số liệu cập nhật để chỉ đạo sát sao, bám
      sát tình hình thực hiện các biện pháp đề ra.


      Các gói kích cầu đảm bảo thực hiện đúng mục đích, thủ tục cho vay
      nhanh, có sự kiểm tra kiểm soát thường xuyên liên tục các dự án cho vay; đẩy
      mạnh giải ngân vốn xây dựng cơ bản, đặc biệt là vốn năm 2009 đồng thời xem xét
      ngay các điều kiện để ứng vốn năm 2010 khẩn trương đẩy mạnh việc nghiên cứu và
      mở rộng thị trường xuất khẩu sang các thị trường mới cùng với những biện pháp
      kích thích thị trường trong nước, chống hàng lậu, hàng giả và gian lận thương
      mại...


      Các phương án cơ cấu lại nền kinh tế cần được khẩn trương nghiên
      cứu và triển khai dần, đặc biệt là đổi mới và hoàn thiện thể chế, chuyển đổi cơ
      cấu sản xuất, đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực. Rà soát lại và lành mạnh hóa hệ
      thống tài chính, ngân hàng và tiếp tục theo dõi diễn biến của khủng hoảng tài
      chính toàn cầu, nhất là các nước trong khu vực và các nước có nhiều quan hệ kinh
      tế với nước ta.



      Vũ Thu - Theo Chinhphu



      Ngành bán lẻ hấp dẫn nhất hiện nay


      Thứ tư, 13/05/2009, 02:08 GMT+7






      70% số đơn vị
      tham gia khảo sát cho rằng kinh doanh bán lẻ là ngành hấp dẫn nhất hiện nay,
      đứng thứ nhì là ngành chăm sóc sức khỏe và công nghệ sinh
      học.







      st1:*{behavior:url(#ieooui) }



      Hôm qua 12/5, Grant Thornton Việt
      Nam công bố kết quả khảo
      sát lĩnh vực tư nhân về môi trường đầu tư và triển vọng phát triển tại Việt
      Nam.






      Khảo sát thực hiện trên gần 170 đơn vị trong và ngoài
      nước.





      Ngành du lịch khách
      sạn và ngành sản xuất là kém hấp dẫn nhất, chỉ có khoảng 23%-26% cho rằng hấp
      dẫn.



      Đặc biệt, có đến 88% cho rằng gặp khó khăn khi làm
      thủ tục hành chính và 85% cho rằng hệ thống pháp luật là trở ngại đáng kể cho
      các nhà đầu tư.





      Khảo sát này được tiến hành hồi tháng 3 vừa
      qua.






      Theo Q. Như
      PLTPHCM



      George Soros: Kinh tế thế giới đã trải qua thời kỳ tồi tệ nhất



      Thứ tư, 13/05/2009, 02:05 GMT+7


    16. #636
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn g.trị sổ sách.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I: DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào Bệnh Viện ... Giá đỉnh ~ 120,000đ/cp

      “Mánh” kéo khách của các siêu thị


      Thứ ba, 30/06/2009, 02:14 GMT+7






      Hai yếu tố quan trọng
      nhất giúp các siêu thị giữ được khách, đẩy doanh số tăng là khuyến mãi bằng giá
      và khả năng kềm hãm các đợt tăng giá của nhà cung cấp .





      Trái ngược với
      tình hình chợ ế (khách mua giảm khoảng 10 - 20% so với năm ngoái, theo thống kê
      từ BQL chợ Bến Thành, An Đông, Bình Tây, Soái Kình Lâm…), 6 tháng đầu năm 2009
      doanh thu và lượng khách mua sắm của các siêu thị đều tăng khá mạnh.



      Cụ thể, doanh số của hệ thống siêu thị Co.opmart tăng
      gần 35% so cùng kỳ và thu hút trên 150 ngàn lượt khách mỗi ngày. Lượng khách đến
      Big C, Maximark cũng tăng khoảng 30 - 40%. Còn các hệ thống khác như Citimart,
      Wellcome, Fivimart… doanh thu tăng ít hơn, nhưng vẫn khá tốt với mức tăng khoảng
      5- 20% so cùng kỳ năm ngoái tùy từng điểm bán khác nhau.


      Hai yếu tố quan trọng nhất giúp các siêu thị giữ được
      sức mua của người tiêu dùng và đẩy doanh số tăng là khuyến mãi bằng giá và khả
      năng kềm hãm các đợt tăng giá của nhà cung cấp.


      So với năm ngoái, chi phí cho khuyến mãi tiếp thị ở
      các hệ thống bán lẻ đều tăng khá, ước ngân sách tiếp thị năm 2009 của một số hệ
      thống siêu thị tăng từ 30 - 80% so năm ngoái, có nơi lên đến 280 tỉ đồng so với
      180 tỉ của năm ngoái. Ngoài ra còn các khoản chiết khấu, giảm giá trực tiếp trên
      hàng bán mà siêu thị và nhà cung cấp cùng thực hiện.


      Bà Bùi Thị Hạnh Thu, phó tổng giám đốc phụ trách kinh
      doanh của hệ thống Coopmart phân tích: “Trước đây các hình thức khuyến mãi còn
      đa dạng như bốc thăm may mắn, xố số trúng thưởng, tặng vé du lịch tham quan…
      Hiện nay Coopmart cũng như các hệ thống siêu thị khác đều cắt giảm các khoản chi
      cho quảng cáo, tổ chức sự kiện… mà dồn vào việc giảm giá cho người tiêu
      dùng.”


      Báo cáo tổng kết nội bộ của hệ thống Big C cũng xác
      định chiến lược kinh doanh cho năm 2009 là giá rẻ cho mọi nhà.


      Riêng ở mặt kềm hãm tăng giá, trong vai trò nhà thu
      mua hàng lớn, các siêu thị đã thể hiện khả năng "từ chối tăng giá" của nhà cung
      cấp trước các đợt tăng giá sữa, đường, dầu ăn, thịt ***... từ đầu năm đến nay.
      Việc kềm hãm tăng giá các mặt hàng này đã kéo thêm khách vào siêu thị trong mỗi
      lần chợ hay cửa hàng buộc thay đổi giá theo thị trường.


      Hầu hết các siêu thị chấp nhận bán lỗ, bán không lãi
      cho nhóm mặt hàng tiêu dùng thiết yếu để thu lãi từ mặt hàng khác. Đó là điểm
      mạnh của siêu thị mà các tiểu thương không thể cạnh tranh
      được.


      TheoBích
      Thủy
      SGTT



      [h2]Thái
      Lan muốn lập liên minh xuất khẩu gạo với Việt Nam
      02/03/2009 [/h2]



      Trao đổi với báo chí chiều 25/2 trước khi rời Hà Nội, Ngoại trưởng Thái Lan
      Kasit Piromya cho biết: "Dù liên tục có sự thay đổi Chính phủ thời gian qua
      nhưng về mặt chính sách, Thái Lan sẽ tiếp tục hợp tác với Việt Nam thực hiện
      sáng kiến lập một liên minh xuất khẩu gạo".


      Ngoại trưởng Thái Lan Kasit Piromya có chuyến thăm Việt Nam một ngày (25/2)
      theo thông lệ ASEAN viếng thăm các nước trong khối sau khi nhậm chức. Ông đã hội
      đàm với Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm về phương hướng và
      biện pháp nhằm làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác song phương thời gian tới.


      Hai bên nhất trí tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác đã
      có, đẩy mạnh hơn nữa đầu tư và thương mại, tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực
      du lịch, nông nghiệp, văn hóa, giáo dục, an ninh, quốc phòng; tăng cường tuần
      tra chung trên biển, tiếp tục hợp tác phòng chống tội phạm.


      Hai bên nhất trí sớm tổ chức cuộc họp Tham khảo chính trị giữa hai Bộ Ngoại
      giao, sớm họp lại Tiểu ban Thương mại để thúc đẩy thương mại giữa hai nước, đồng
      thời thúc đẩy hai Bộ Quốc phòng sớm ký biên bản thỏa thuận hợp tác.


      Hai bên cũng khẳng định kiên trì thực hiện nguyên tắc hai nước đã thỏa thuận
      không cho phép bất cứ cá nhân và tổ chức nào sử dụng lãnh thổ nước này vào hoạt
      động làm phương hại tới an ninh của nước kia.


      Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm cám ơn Chính phủ Thái Lan
      đã quan tâm, giúp đỡ cộng đồng người Việt tại Thái Lan. Phía Thái Lan khẳng định
      tiếp tục tạo thuận lợi cho kiều dân Việt Nam sinh sống ổn định và hội nhập vào
      xã hội sở tại.


      Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác cùng các nước ASEAN phấn đấu xây dựng
      thành công Cộng đồng ASEAN vững mạnh, nhất trí hợp tác chặt chẽ để Hội nghị cấp
      cao ASEAN 14 sắp tới thành công tốt đẹp vì lợi ích phát triển của ASEAN, vì hòa
      bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.


      Không cạnh tranh làm hạ giá gạo


      Cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã tiếp thân mật ông Kasit
      Piromya. Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Trần Văn Hằng cũng đã tiếp và trao đổi
      ý kiến với Ngoại trưởng Thái Lan.


      Trước khi rời Hà nội, ông Kasit Piromya có cuộc gặp gỡ báo chí. Ông khẳng
      định: "Dù liên tục có sự thay đổi Chính phủ thời gian qua nhưng về mặt chính
      sách, Thái Lan sẽ tiếp tục hợp tác với Việt Nam thực hiện sáng kiến thành lập
      một liên minh xuất khẩu gạo".


      Theo ông Kasit Piromya, các nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới như Thái
      Lan, Việt Nam cần tăng cường trao đổi thông tin. "Điều quan trọng là không để
      cạnh tranh dẫn đến việc hạ giá gạo của nhau".


      Cuối tháng 4/2008, Thái Lan đã chính thức đề xuất về việc thành lập Tổ chức
      các nước xuất khẩu gạo (OREC) để ấn định giá mặt hàng này. Nhóm này sẽ bao gồm
      một số nước như: Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Lào... Tuy nhiên, vì nhiều lý do
      khác nhau, đến nay, ý tưởng này vẫn chưa trở thành hiện thực.


      Trả lời câu hỏi của VietNamNet về việc liệu ASEAN có cần đến một quốc gia
      đóng vai trò lãnh đạo khối hay không, ông Kasit Piromya khẳng định lại nguyên
      tắc hoạt động đồng thuận. Ông cho biết đến phiên thành viên nào đảm nhận vai trò
      Chủ tịch ASEAN thì thành viên đó chắc chắn sẽ nhận được ủng hộ của khối.


      Ông Kasit đánh giá cao các hoạt động của Việt Nam trong gần 15 năm tham gia
      ASEAN với nhiều quyết tâm cũng như nhiều cải tổ để hòa nhập cùng ASEAN. Việt Nam
      sẽ đảm nhiệm vai trò nước Chủ tịch luân phiên ASEAN vào năm 2010.[table] [h1]
      Xuất khẩu gạo 6 tháng đạt 3,6 triệu tấn[/h1]
      |








      |





      ThứNăm,25/6/2009,21:00(GMT+7)
      |





































      |


      [table]




      Ngọc Lan





      [table]





      Vấn đề quan trọng nhất làđiều hành xuất khẩu gạo thật linh hoạt và thu mua lúa có lợi cho nông dân. Ảnh:TL.
      [/table](TBKTSG
      Online) -Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, tình hình đăng ký hợp đồng
      của các doanh nghiệp cho thấy xuất khẩu gạo tháng 6 đạt mức 650.000
      tấn, đưa tổng xuất khẩu 6 tháng đầu năm nay dự kiến đạt 3,6 triệu tấn
      gạo các loại.
      Theo đánh giá của một số địa phương tại cuộc họp
      trực tuyến về tình hình sản xuất và tiêu thụ lúa gạo do Phó Thủ tướng
      Hoàng Trung Hải chủ trì hồi đầu tháng 6, lượng gạo hàng hóa xuất khẩu
      năm 2009 sẽ cao hơn 1 triệu tấn so với chỉ tiêu định hướng đề ra đầu
      năm(từ 4 triệu tấn lên 5 triệu tấn) do lượng tồn kho năm 2008 chuyển
      sang, lúa từ Campuchia về nhiều, vụ đông xuân được mùa, vụ hè thu nhiều
      khả năng thu hoạch rộ và công tác xuống giống vụ thu đông thực hiện
      tốt.


      Tình hình đặt ra cho 6 tháng cuối năm là phải tiêu
      thụ thêm lượng gạo hàng hóa này. Còn hiện tại, theo tính toán của Hiệp
      hội Lương thực, kết quả xuất khẩu gạo 12 ngày đầu tháng 6 đạt mức
      328.000 tấn, tính lũy kế xuất khẩu từ đầu năm đến ngày 12-6 thì đạt
      3,28 triệu tấn, trị giá 1,35 tỉ đô la Mỹ (theo giá xuất khẩu trung bình
      đạt 412 đô la/tấn).
















      window["aa_rrP1"] = new RadRotator('aa_rrP1',1);window["aa_rrP1"].AutoAdvance = 1;window["aa_rrP1"].FrameTimeout = 10000;window["aa_rrP1"].RotatorMode = 'Slideshow';window["aa_rrP1"].NumberOfFrames = 1;window["aa_rrP1"].PauseOnMouseOver = 1;window["aa_rrP1"].HasTickers = 0;window["aa_rrP1"].FrameIdArray = new Array('aa_rrP1_frame0');window["aa_rrP1"].UseRandomSlide = 0;window["aa_rrP1"].UseTransition = 1;window["aa_rrP1"].UseRandomEffect = 1;window["aa_rrP1"].TransitionStrings = new Array('progidXImageTransform.Microsoft.Barn( motion=out,orientation=vertical)','progidXImageTransform.Microsoft.Blinds( Bands=10,direction=up)','progidXImageTransform.Microsoft.Checkerboard( Direction=right,SquaresX=2,SquaresY=2)','progidXImageTransform.Microsoft.Fade(Overlap=1.00)','pro gidXImageTransform.Microsoft.GradientWipe(GradientSiz e=0.25,wipestyle=0,motion=forward)','progidXImageTransform.Microsoft.Inset()','progidXImageTransform.Microsoft.Iris(irisstyle=PLUS,moti on=out)','progidXImageTransform.Microsoft.Pixelate(MaxSquare=50)', 'progidXImageTransform.Microsoft.RadialWipe(wipestyle=CLO CK)','progidXImageTransform.Microsoft.RandomBars()','progidXImageTransform.Microsoft.RandomDissolve()','progi dXImageTransform.Microsoft.Slide(slidestyle=HIDE,Ba nds=1)','progidXImageTransform.Microsoft.Spiral(GridSizeX=16,Grid SizeY=16)','progidXImageTransform.Microsoft.Stretch(stretchstyle=SPI N)','progidXImageTransform.Microsoft.Strips(motion=leftdown)' ,'progidXImageTransform.Microsoft.Wheel(spokes=4)','progidXImageTransform.Microsoft.Zigzag(GridSizeX=16,Grid SizeY=16)');;window["aa_rrP1"].Start();





      Cũng theo tính toán của Hiệp hội Lương thực và nhiều doanh nghiệp
      xuất khẩu, lượng gạo tồn kho của các doanh nghiệp tính đến ngày cuối
      tháng 6 khoảng trên 700.000 tấn. Để thực hiện kế hoạch xuất khẩu 5
      triệu tấn cả năm thì trong vòng 6 tháng tới, các doanh nghiệp chỉ cần
      mua thêm hơn 700.000 tấn nữa.
      Tuy nhiên, diễn biến tình hình thị trường trong nước và quốc tế những tháng cuối năm vẫn cần phải được cập nhật và theo sát.


      Theo Bộ Công Thương, dự báo diễn biến thị trường có
      thể còn chứa đựng một số yếu tố bất lợi do khả năng Thái Lan và Ấn Độ
      buộc tung lượng gạo tồn kho tương đối lớn ra bán. Điều này khiến các
      nhà nhập khẩu hiện có xu hướng chờ giảm giá, trong khi trong nước đang
      thu hoạch rộ vụ hè thu.


      Cũng theo Bộ Công Thương, hạn chế chủ yếu của công
      tác điều hành xuất khẩu gạo là hệ thống thông tin, dữ liệu về tình hình
      thực tế và về dự báo liên quan tới sản xuất, lưu thông, tiêu thụ, thị
      trường không được xử lý một cách tập trung, đồng nhất, các thao tác
      điều phối không kịp thời dẫn tới các quyết định điều hành được đưa ra
      thiếu tính linh hoạt so với tình hình thực tế.


      Để việc điều hành xuất khẩu gạo những tháng cuối năm
      thông suốt và có lợi cho người sản xuất cũng như doanh nghiệp xuất
      khẩu, Bộ Công Thương và hiệp hội tích cực phối hợp tăng cường công tác
      thông tin, dự báo về sản lượng, dịch bệnh, thị trường trong nước và
      xuất khẩu để công tác điều hành xuất khẩu những tháng cuối năm thật sát
      thực tế. Hơn nữa, Hiệp hội Lương thực sẽ đề xuất kế hoạch đăng ký hợp
      đồng và công bố giá sàn từ nay đến cuối năm để doanh nghiệp xuất khẩu
      chủ động.


      [/table]
      [/table]

    17. #637
      Ngày tham gia
      Mar 2007
      Bài viết
      152
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn giá trị thực.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I : DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào B.Viện ...

      Có tin gì ma hôm qua GDTT gần triệu Cổ vậy, GTGD 18 tỷ. Phải chăng sắp có biến?


    18. #638
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn giá trị thực.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I : DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào B.Viện ...



      1/


      Doanh nghiệp xuất khẩu uy tín năm 2007


      [img]http://www.alta.com.vn/images/news/DNXK.JPG" vspace="5" align="left" hspace="5">

    19. #639
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn giá trị thực.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I : DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào B.Viện ...

      Doanh Nghiệp Xanh




      Thuong Hieu Xanh




    20. #640
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * ALT là 1 trong 6 cổ phiếu có giá nhỏ hơn giá trị thực.GTSS ~ 40,000.EPS năm & quý I : DƯƠNG.Cổ tức + thưởng ~ 30%/ năm.Góp vốn vào B.Viện ...

      [table]

      Europe



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      BLOOMBERG EUROPEAN 500 | 148.67 | 2.59 | 1.77% | 07/01 |



      BLOOMBERG LIQUID MiFID | 1,269.36 | 24.18 | 1.94% | 07/01 |



      DJ EURO STOXX 50 € Pr | 2,449.73 | 48.04 | 2.00% | 07/01 |



      DJ STOXX 50 € PR | 2,136.00 | 37.72 | 1.80% | 07/01 |



      DJ EURO STOXX € Pr | 227.34 | 4.32 | 1.94% | 07/01 |



      DJ STOXX 600 € Pr | 209.46 | 3.63 | 1.76% | 07/01 |



      DJ STOXX EU ENLARGED 15 | 1,750.87 | 43.19 | 2.53% | 07/01 |



      DJ STOXX EU ENLARGED TMI | 161.97 | 3.43 | 2.16% | 07/01 |



      FTSE EUROTOP 100 INDEX | 1,855.03 | 33.85 | 1.86% | 07/01 |



      FTSEUROFIRST 300 INDEX | 865.66 | 15.49 | 1.82% | 07/01 |



      MSCI EURO | 726.26 | 13.82 | 1.94% | 07/01 |



      MSCI PAN-EURO | 707.74 | 12.60 | 1.81% | 07/01 |



      S&P EUROPE 350 INDEX | 866.64 | 14.56 | 1.71% | 07/01 |



      S&P EURO INDEX | 971.96 | 18.38 | 1.93% | 07/01 |



      BLOOMBERG EUR NEW MKT 50 | 214.38 | 1.95 | 0.92% | 07/01 |



      EURONEXT TOP 100 INDEX | 554.33 | 12.03 | 2.22% | 07/01 |



      EURONEXT TOP 150 INDEX | 1,096.67 | 17.56 | 1.63% | 07/01 |



      FTSEurofirst 80 Index | 3,104.69 | 61.95 | 2.04% | 07/01 |



      FTSEurofirst 100 Index | 2,763.46 | 50.37 | 1.86% | 07/01 |



      NEW EUROPE BLUE CHIP IX | 939.86 | 18.52 | 2.01% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Africa/Middle East



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      Bloomberg GCC 200 Index | 51.72 | 0.24 | 0.47% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      United Kingdom



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      FTSE 100 INDEX | 4,340.71 | 91.50 | 2.15% | 07/01 |



      FTSE 250 INDEX | 7,506.71 | 92.15 | 1.24% | 07/01 |



      FTSE 350 INDEX | 2,265.89 | 45.38 | 2.04% | 07/01 |



      FTSE SMALLCAP INDEX | 2,251.95 | 13.91 | 0.62% | 07/01 |



      FTSE ALL-SHARE INDEX | 2,215.78 | 43.70 | 2.01% | 07/01 |



      FTSE techMARK 100 INDEX | 1,355.65 | 14.71 | 1.10% | 07/01 |



      FTSE AIM ALL SHARE INDEX | 532.60 | 2.37 | 0.45% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Germany



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      DAX INDEX | 4,905.44 | 96.80 | 2.01% | 07/01 |



      GERM CDAX PERFORMANCE | 422.94 | 7.87 | 1.90% | 07/01 |



      HDAX INDEX | 2,456.21 | 47.81 | 1.99% | 07/01 |



      DAX MID-CAP INDEX | 5,878.27 | 124.26 | 2.16% | 07/01 |



      TECDAX PERFORMANCE INDEX | 634.49 | 7.60 | 1.21% | 07/01 |



      PRIME ALL SHARE PRF IDX | 1,783.70 | 33.53 | 1.92% | 07/01 |



      MIDCAP MRKT PERF INDEX | 560.03 | 10.28 | 1.87% | 07/01 |



      TECHLGY ALL SHARE PRF IX | 729.96 | 7.53 | 1.04% | 07/01 |



      CLASSIC ALL SHARE PRF IX | 1,966.46 | 31.39 | 1.62% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      France



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      CAC 40 INDEX | 3,217.00 | 76.56 | 2.44% | 07/01 |



      SBF 250 INDEX | 2,283.07 | 50.00 | 2.24% | 07/01 |



      CAC NEXT20 INDEX | 3,885.29 | 32.17 | 0.83% | 07/01 |



      CAC MID100 INDEX | 4,876.11 | 73.81 | 1.54% | 07/01 |



      NEXTCAC 70 INDEX | 2,917.83 | 66.43 | 2.33% | 07/01 |



      CAC MID & SMALL190 INDEX | 4,900.07 | 72.46 | 1.50% | 07/01 |



      CAC SMALL90 INDEX | 4,896.43 | 58.55 | 1.21% | 07/01 |



      CAC ALLSHARES INDEX | 3,335.33 | 68.03 | 2.08% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Spain



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      IBEX 35 INDEX | 9,903.70 | 115.90 | 1.18% | 07/01 |



      SPAIN MA MADRID INDEX | 1,028.96 | 12.30 | 1.21% | 07/01 |



      DJ SPAIN TITANS 30 € | 456.19 | 4.98 | 1.10% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Switzerland



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      SWISS MARKET INDEX | 5,472.94 | 68.97 | 1.28% | 07/01 |



      SPI SWISS PERFORMANCE IX | 4,714.93 | 52.29 | 1.12% | 07/01 |



      DJ SWISS TITANS 30 Sƒ | 314.19 | 3.53 | 1.14% | 07/01 |



      SPI EXTRA PRICE RETURN | 127.06 | 0.33 | 0.26% | 07/01 |



      SMIM PRICE INDEX | 1,055.46 | 0.70 | 0.07% | 07/01 |



      SLI SWISS LEADER INDEX | 819.54 | 8.87 | 1.09% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Italy



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      FTSE MIB Index | 19,443.18 | 380.06 | 1.99% | 07/01 |



      FTSE Italia All-Share | 20,165.21 | 379.92 | 1.92% | 07/01 |



      FTSE Italia Mid Cap Ind | 22,479.06 | 290.52 | 1.31% | 07/01 |



      FTSE Italia STAR Index | 10,021.24 | 105.16 | 1.06% | 07/01 |



      DJ ITALY TITANS 30 € | 2,079.33 | 39.51 | 1.94% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Portugal



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      PSI GENERAL INDEX | 2,519.88 | 39.64 | 1.60% | 07/01 |



      PSI 20 INDEX | 7,240.24 | 129.36 | 1.82% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Ireland



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      IRISH OVERALL INDEX | 2,691.41 | -14.67 | -0.54% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Iceland



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      OMX Iceland 15 Index | 263.66 | 2.36 | 0.90% | 06/30 |



      OMX Iceland All-Share PR | 456.72 | 2.39 | 0.53% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Netherlands



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      AEX-Index | 260.29 | 5.58 | 2.19% | 07/01 |



      AMSTERDAM MIDKAP INDEX | 371.81 | 7.43 | 2.04% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Belgium



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      BEL 20 INDEX | 2,073.98 | 43.00 | 2.12% | 07/01 |



      BELGIAN STK MKT RET IDX | 18,765.82 | 423.89 | 2.31% | 07/01 |



      BELGIAN VLAM-21 INDEX IN | 1,498.74 | 25.10 | 1.70% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Luxembourg



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      LUXEMBOURG LuxX INDEX | 1,122.67 | 4.35 | 0.39% | 07/01 |



      LUXEMBOURG LuxX RETURN | 1,422.45 | 5.52 | 0.39% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Denmark



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      OMX COPENHAGEN 20 INDEX | 294.56 | 3.85 | 1.33% | 07/01 |



      OMX COPENHAGEN INDEX | 262.46 | 3.05 | 1.17% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Finland



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      OMX HELSINKI INDEX | 5,717.43 | 109.75 | 1.96% | 07/01 |



      OMX HELSINKI 25 INDEX | 1,642.91 | 40.71 | 2.54% | 07/01 |



      OMXHCap | 3,109.86 | 66.68 | 2.19% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Norway



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      OBX STOCK INDEX | 260.10 | 5.64 | 2.22% | 07/01 |



      OBX PRICE INDEX | 227.14 | 4.88 | 2.20% | 07/01 |



      OSE ALL SHARE INDEX | 338.30 | 5.22 | 1.57% | 07/01 |



      OSE BENCHMARK INDEX | 288.11 | 5.76 | 2.04% | 07/01 |



      OSE MUTUAL FUND INDEX | 279.13 | 6.49 | 2.38% | 07/01 |



      OSE SMALL CAP INDEX | 454.25 | 2.98 | 0.66% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Sweden



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      OMX STOCKHOLM 30 INDEX | 813.70 | 17.90 | 2.25% | 07/01 |



      OMX STOCKHOLM BENCHMARK | 348.45 | 7.65 | 2.24% | 07/01 |



      OMX STOCKHOLM INDEX | 250.15 | 5.39 | 2.20% | 07/01 |



      DJ SWEDEN TITANS 30 SEK | 543.29 | 12.56 | 2.37% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Austria



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      AUSTRIAN TRADED ATX INDX | 2,139.67 | 41.02 | 1.95% | 07/01 |



      AUSTRIAN VIENNA STOCK EX | 783.51 | 12.48 | 1.62% | 07/01 |



      AUSTRIAN ATX PRIME INDEX | 973.14 | 17.64 | 1.85% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Greece



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      Athex Composite Share Pr | 2,236.98 | 26.99 | 1.22% | 07/01 |



      FTSE/ASE 20 INDEX | 1,135.42 | 10.95 | 0.97% | 07/01 |



      FTSE/ASE MIDCAP 40 INDEX | 2,745.80 | 29.52 | 1.09% | 07/01 |



      FTSE/ASE SMALL CAP 80 IX | 457.90 | 1.26 | 0.28% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Poland



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      WSE WIG INDEX | 30,688.73 | 269.70 | 0.89% | 07/01 |



      WSE WIG 20 INDEX | 1,883.16 | 20.80 | 1.12% | 07/01 |



      WSE sWIG80 INDEX | 9,361.85 | 41.89 | 0.45% | 07/01 |



      WSE mWIG40 INDEX | 1,776.17 | 6.70 | 0.38% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Czech Republic



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      PRAGUE STOCK EXCH INDEX | 899.00 | 0.80 | 0.09% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Russia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      MICEX INDEX | 1,012.48 | 40.93 | 4.21% | 07/01 |



      MICEX 10 INDEX | 2,137.01 | 101.40 | 4.98% | 07/01 |



      RUSSIAN RTS INDEX $ | 977.94 | -9.08 | -0.92% | 07/01 |



      RTS-2 INDEX | 860.22 | 1.70 | 0.20% | 07/01 |



      RUSSIAN TRADED INDEX | 1,542.58 | 75.83 | 5.17% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Hungary



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      BUDAPEST STOCK EXCH INDX | 15,425.98 | 105.84 | 0.69% | 07/01 |



      HUNGARIAN TRADED INDEX | 3,814.49 | 86.13 | 2.31% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Romania



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      BUCHAREST BET INDEX | 3,435.50 | 1.07 | 0.03% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Ukraine



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      PFTS Index | 411.08 | -0.12 | -0.03% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Kazakhstan



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      Kazakhstan KASE Stock Ex | 1,088.96 | 19.19 | 1.79% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Slovakia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      SLOVAK SHARE INDEX | 332.20 | -0.50 | -0.15% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Croatia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      CROATIA ZAGREB CROBEX | 1,821.81 | -74.55 | -3.93% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Slovenia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      SBI20 Slovenian Total Mt | 4,244.34 | -19.20 | -0.45% | 07/01 |



      Slovenian Blue Chip Idx | 1,033.92 | -7.88 | -0.76% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Bosnia and Herzegovina



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      Bosnia BIRS Index | 992.68 | -2.83 | -0.28% | 07/01 |



      SASE Free Market 10 Idx | 1,047.86 | 7.41 | 0.71% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Serbia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      BELEXline Index | 1,170.49 | -2.26 | -0.19% | 07/01 |



      BELEX15 INDEX | 570.34 | 1.07 | 0.19% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Montenegro



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      Montenegro Stock Exchnge | 733.82 | 3.21 | 0.44% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Estonia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      OMX TALLINN OMXT | 300.58 | 1.23 | 0.41% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Macedonia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      MBI 10 Index | 2,513.34 | -19.08 | -0.75% | 07/01 |



      MBID Index | 2,241.09 | -59.50 | -2.59% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Latvia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      OMX RIGA OMXR | 243.34 | 0.92 | 0.38% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Lithuania



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      Lithuania NSEL 30 Ns | 151.26 | -0.44 | -0.29% | 06/30 |



      OMX VILNIUS OMXV | 181.50 | 1.08 | 0.60% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Bulgaria



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      SOFIX INDEX | 356.20 | -0.53 | -0.15% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Turkey



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      ISE NATIONAL 100 INDEX | 37,245.86 | 296.66 | 0.80% | 07/01 |



      ISE NATIONAL 30 | 47,050.95 | 352.36 | 0.75% | 07/01 |



      DJ TURKEY TITANS 20 | 388.04 | 2.57 | 0.67% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Malta



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      MALTA STOCK EXCHANGE IND | 2,943.25 | 11.67 | 0.40% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      South Africa



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      FTSE/JSE AFRICA TOP40 IX | 20,469.06 | 649.54 | 3.28% | 07/01 |



      FTSE/JSE AFRICA ALL SHR | 22,710.16 | 660.74 | 3.00% | 07/01 |



      FTSE/JSE AFRICA IND25 IX | 17,636.26 | 406.75 | 2.36% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Egypt



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      EGYPT HERMES INDEX | 529.02 | 13.61 | 2.64% | 06/30 |



      EGX 30 Index | 5,702.87 | 155.86 | 2.81% | 06/30 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Morocco



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      Morocco CFG 25 Index CF | 23,525.05 | -123.17 | -0.52% | 07/01 |



      MASI Free Float Index | 11,523.65 | -64.90 | -0.56% | 07/01 |



      MADEX Free Float Index | 9,468.06 | -59.39 | -0.62% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Tunisia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      Tunis SE TUNINDEX | 3,659.12 | -18.34 | -0.50% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Namibia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      NAMIBIA OVERALL INDEX | 609.50 | 15.59 | 2.62% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Botswana



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      BOTSWANA GABORONE INDEX | 6,233.09 | 3.78 | 0.06% | 06/30 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Nigeria



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      Nigeria Stock Indices In | 27,217.59 | 968.31 | 3.69% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Tanzania



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      Tanzania All Share Index | 1,231.09 | -3.00 | -0.24% | 06/30 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Kenya



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      Nairobi NSE 20 Share Index | 3,299.69 | 5.13 | 0.16% | 07/01 |



      NAIROBI AS | 58.07 | -0.33 | -0.57% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Kuwait



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      KUWAIT SE WEIGHTED INDEX | 456.71 | 7.81 | 1.74% | 07/01 |



      KUWAIT SE PRICE INDEX | 8,098.90 | 18.60 | 0.23% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Israel



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      TEL AVIV 25 INDEX | 871.54 | 9.11 | 1.06% | 07/01 |



      TEL AVIV 100 INDEX | 811.85 | 10.59 | 1.32% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Palestine



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      PALESTINE STOCK INDEX AL | 516.06 | -8.79 | -1.67% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Lebanon



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      BLOM STOCK INDEX | 1,429.90 | 0.37 | 0.03% | 06/30 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Bahrain



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      BHSE ALL SHARE INDEX | 1,589.11 | 7.44 | 0.47% | 07/01 |



      BHSE ESTERAD INDEX | 1,605.99 | 9.90 | 0.62% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Saudi Arabia



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      TADAWUL ALL SHARE INDEX | 5,599.38 | 2.92 | 0.05% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Jordan



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      AMMAN SE GENERAL INDEX | 2,744.07 | 8.84 | 0.32% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Oman



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      MSM30 Index | 5,669.83 | 57.62 | 1.03% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]
      [table]

      |









      Qatar



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      DSM 20 Index | 6,407.32 | -84.33 | -1.30% | 07/01 |


      [/table]
      |


      [/table]
      |


      [/table]

      [table]
      |









      United Arab Emirates



      |




      [table]


      [table]



      INDEX | VALUE | CHANGE | %CHANGE | TIME |



      DFM GENERAL INDEX | 1,810.15 | 25.70 | 1.44% | 07/01 |



      ADX GENERAL INDEX | 2,628.78 | -2.54 | -0.10% | 07/01 |



      FTSE NASDAQ DUB UAE 20 | 1,509.61 | 31.66 | 2.14% | 07/01
      [/table]
      [/table]
      [/table]

    Thông tin của chủ đề

    Users Browsing this Thread

    Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)

       

    Bookmarks

    Quyền viết bài

    • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
    • Bạn Không thể Gửi trả lời
    • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
    • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình