Và để nói rõ hơn về luật Nhân quả, ngài pháp sư Ấn Quang - một bậc cao tăng, danh đức trong Tăng giới - đã từng nói: "... [B]Nên biết sự tu trì củ hành Nhân quả thật chí thành không giả dối thì có thể chuyển hậu báo thành hiện báo tức là chuyển báo nặng [/B]của những đới sau thành báo nhẹ ở đới này. Nười phàm mắt thịt chỉ thấy sự kiết hung trước mắt chớ đâu biết được Nhân quả đời trước, Nhân quả đời sau. Bà họ Trương (1) ấy nhiều năm tinh tu một sớm chết thảm: hoặc giả do sự khổ đó mà tiêu được ác báo Tam đồ sanh về cõi Trời. Nếu trong hiện đời bà ấy có Tín sâu và Nguyện thiết thì bà cũng có thể vãng sanh về Tây phương. Bởi chúng ta không có tha tâm, đạo nhãn nên không dám ức đoán hay quyết đoán chắc rằng bà có vãng sanh hay không.

Nhưng có một điều mà chúng ta dám quả quyết là: làm lành tất được quả lành, làm dữ phải mang quả dữ. Đây là quả báo của nghiệp ác đời trước-nếu ta làm lành mà mang quả dữ-chứ chẳng phải là quả báo của nghiệp lành đời này. Còn làm dữ mà được quả lành - đó là quả báo của nghhiệp lành đời trước; còn nghiệp ác đời này nếu hiện đời chưa trả kịp thì chắc chắn đời sau sẽ phải trả chớ có mất mát đi đâu.

Các người thấy bà lão chết khổ như thế liền nghĩ lầm rằng: việc lành không dám làm, bởi làm lành chẳng những không được phước mà lại còn mang lấy khổ. Nghĩ như thê các người mới nghi ngờ, sợ hãi. Sự nhận thức đó đâu có khác gì các người chưa nghe, chưa hiểu Phật pháp. Nếu các người tin lời Phật dạy, quyết các người không vì việc ấy mà tỏ vẻ sững sốt kinh hoàng.

Việc Nhân quả trùng trùng điệp điệp không ngừng, có khi Nhân này chưa trả mà quả nọ đã chín muồi; ví như gieo giống sớm thì gặt lúa sớm, nhưng lại thiếu nợ, chủ nợ nào mạnh thì lôi kéo con nợ trước nhứt..." (Lá thơ Tịnh Độ - Ấn Quang pháp sư).

Vậy nếu tỏ rõ được lý thì dù cho cảnh ngộ có ra sao đi nữa là quyết không nghi ngờ rằng Nhân quả sai lầm, lời Phật hư dối. Ngày xưa, vua Nghiêu là vị vua hiền đức lại sanh ra con hun dữ nên mới tìm ông Thuần để nhường ngôi và ông Thuầ là một đại hiền, một đại hiếu chi tử mà lạ là con của một kẻ bất Nhân là ông Cổ Tẩu.Thật là:

"Cổ Tẩu mấy hiền mà sanh đại hiền chi tử, vua Nghiêu mấy dữ mà sanh bất hiếu chi nhi: có khi cây đăng lá the mà trổ sanh hoa thơm trái ngọt!"

Thật thế! Về nguồn gốc hay ngọn ngành của Nhân, của quả chỉ có Phật mới biết được mà thôi; ngoài ra, chẳng có ai biết nổi kể cả bực Đẳng giác Bồ Tát.

Căn cứ vào những sự tích do Phật kể ra về tiền thân của Phật hoặc của các đệ tử Phật hoặc của những người đồng thời có dịp gặp Phật trong những kinh như là: Soạn tập bá duyên kinh, kinh Vị tăng hữu, kinh Hiền ..v..v..thì luật Nhân quả không có ứng nghiệm trong sự khấu trừ ác và thiện như một số người thường nghĩ; họ cho rằng có thể "hối lộ" được Phật, Trời, Thánh, Thần nên cùng một lúc vừa làm ác vừa làm lành như cho vay ăn lời "cắt cổ"; làm nghề sát sanh mạng vật, mua cân già bán cân non, tham nhũng... rồi lấy đồng tiền đó đi cúng chùa, cất miếu tưởng rằng làm như vậy sẽ được hết tội vì lành dữ bù qua chế lại. Nếu không hiểu còn có chỗ giảm chế; bằng như đã hiểu rồi nếu muốn thật sự tu hành để Giải thoát thì Nhân ác cần phải giảm thiểu dần dần Nhân lành tăng gia mãi mãi và phải thật sự ăn năn sám hối. Sám hối không phải là lễ lạy, tụng kinh, trì chú vào những đêm 15 hay 30. Đích thực của sám hối là ăn năn tội trước, lánh ngừa tội sau.

Phật có nói: "Chỉ có hai hạng người quân tử: một là hạng người không bao giờ lầm lỗi (Thánh Nhân) hai là những người đã lầm lổi rồi nay biết ăn năn sám hối".

Và thiết tưởng đối với chúng ta - những người con Phật - nếu đã thấu triệt luật Nhân quả thì dù cho trong hiện đời có một đại bất hạnh nào xảy ra, ta vẫn an nhiên tự tại, không nên buồn rầu, thối thất đạo tâm nên lấy đó làm một đề mục để minh quán xét: hễ là nợ, nếu trả được món nào thì mừng món đó chẳng khác nào rút được một trong vô số những mũi kim ra khỏi người và bởi vì điều bất hạnh ấy đáng lý ra là trọng báo của những đời sau nhưng nay nó chuyển ra thành khinh báo ở đời này; đó là do chỗ ta chơn thành, chí kính và tha thiết tụ niệm nên mới được "dồn quả" như vậy.