Trích dẫn Gửi bởi Khổng Minh_GCL Xem bài viết
Chào những người bạn của Khổng Minh

Giai đoạn đầu tháng 5 tới cuối tháng 5 gần như hội đủ các yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa để TT tăng trưởng từng bước vững chắc. Dự báo mốc 550-560 nhiều khả năg sẽ bị cán. Chúng ta thử điểm qua các yếu tố tài chính - tiền tệ vĩ mô đang hỗ trợ cho sự tăng trưởng này:

Theo đúng như dự báo của Khổng Minh, Tỷ giá của đồng ngoại tệ phố biến nhất được sử dụng trong nền kinh tế VN là đồng USD đã hạ nhiệt, trái ngược hoàn toàn với các dự báo của một số cá nhân và cả các chuyên gia bi quan đưa ra vào đầu tháng 11/2009, khi SBV điều chỉnh chính sách tiền tệ theo hướng tăng phá giá nhẹ đồng nội tệ.
Có thể nói SBV đã đưa ra một chính sách đúng đắn, đã có tác dụng bước đầu thu hẹp thâm hụt cán cân thương mại, và đã có tác dụng kích thích giảm nhập siêu do trong 3 tháng đầu năm 2010.
Bên cạnh đó, mặc dù chỉ số CPI trong 3 tháng đầu năm còn khá cao, vượt mức dự báo của CP trong 3 tháng đầu năm, nhưng chính sách hạ lãi suất tiền gửi của các tổ chức kinh tế lớn xuống 1% đã bước đầu được áp dụng thành công, có tác dụng tích cực hút nguồn tiền gửi ngoại tệ của các tổ chức và cá nhân chuyển sang nắm giữ đồng VN, thay cho nắm giữ USD. Sự chênh lệch ls tiền gửi và vay của đồng VN với USD khá cao, cao hơn 10%/năm, đã thúc đẩy nhiều DN chuyển sang vay USD, bán ra thị trường để lấy VND đã có tác dụng thu hút một nguồn ngoại tệ lớn ước chừng trên 2 tỷ Đôla cho dự trữ ngoại tệ quốc gia. Đây là một thành công lớn của SBV trong việc giảm tình trạng Đôla hoá của nền kinh tế, và điều này sẽ có tác dụng tích cực trong thời gian tới, giảm được áp lực kỳ vọng mất giá của đồng nội tệ.
Ngoài ra, chính sách tỷ giá và ls này đã có tác dụng tốt thứ hai cũng khá lớn, đó là việc tạo nên một áp lực lớn giảm ls huy động và cho vay tiền VND cho hệ thống Bank trong thời gian tới. Nếu điều này được duy trì tốt trong thời gian tới, ls huy động và cho vay VND được kỳ vọng sẽ giảm mạnh trong 1-2 tháng tới. Qua khảo sát của chúng tôi, có khoảng gần 70% các CTNY đủ sức hoạt động có lãi, ngay cả trong điều kiện ls cay VND vẫn đang ở mức khá cao hiện nay (15% đối với SXKD). Đây là một tín hiệu rất tốt, là nhân tố chính thúc đẩy TTCK tăng trưởng trong thời gian tới. Dấu hiệu của hịêu ứng này khá rõ, trên TT tiền tệ OMO trong 1-2 tuần qua, khi ls qua đêm và kỳ hạn 28 ngày được duy trì ở mức khá thấp, 7-7.5%, chứng tỏ hệ thống banks đang dư thừa tiền mặt, tuy mới chỉ ở các kỳ hạn ngắn. Trong 3-4 tuần tới, khi ls này tiếp tục được duy trì ở mức thấp trên OMO, và xuất hiện ở các kỳ hạn dài hơn 3-5 tháng, thì đường cong ls sẽ trở lại tình trạng lành mạnh, khi ls huy động và cho vay ở các kỳ hạn 3-6 tháng cao hơn ls không kỳ hạn (hiện ls huy động không kỳ hạn còn khá cao, ở mức xấp xỉ 9%/năm, còn 1 năm ở mức trên 12%), thì khi đó TT tiền tệ mới thực sự có tác dụng hỗ trợ cho TTCK tăng trưởng mạnh. Tuy nhiên, giờ còn quá sớm để dự báo liệu điều này có trở thành hiện thực hay không. Nhưng ít nhất chúng ta đã có cơ sở để hy vọng vào một điều tốt đẹp hơn sẽ đến trong thời gian với nền kinh tế VN.
Tuy nhiên, cái gì cũng có mặt trái của nó, hay còn gọi là mặt trái của tấm huy chương. Các hệ lụy tiêu cực của điều này cũng vậy. Điều có thể nhìn thấy trước, đó chính là đa số các hợp đồng vay ngoại tệ của các DN có kỳ hạn ước chừng nằm trong khoảng 3-6 tháng. Do đó, điều có thể dự báo trước, đó là khi kết thúc kỳ hạn vay ngoại tệ, các DN sẽ phải mua ngoại tệ để trả lại cho NH hoặc các DN có ngoại tệ. Đối với các DN xuất khẩu thì không rủi ro lớn lắm, nếu họ đã có hợp đồng XK. Nhưng còn các DN không XK hoặc chưa có hợp đồng XK, thì đến kỳ hạn trả nợ, cầu USD cao trên thị trường sẽ có khả năng tạo nên một cú shock hoặc áp lực tăng tỷ giá ngoại tệ trên thị trường. Điều này có nghĩa, ước chừng vào cuối tháng 6 đến tháng 9/2010, khi các hợp đồng vay ngoại tệ đến kỳ hạn, cộng với thâm hụt thương mại – căn bệnh kinh niên của nền kinh tế VN, đã tích lũy đến mức đủ lớn, sẽ là tác động kép gây nên áp lực phá giá đồng VN.
Tuy nhiên, không hoàn toàn bi quan như thoạt nghĩ, vì ls huy động ngoại tệ cao hiện nay ở VN cũng có tác dụng kích thích luồng kiều hối chảy mạnh về VN, bên cạnh kíchh thích tốc độ giải ngân ODA và FDI. Chưa kể, một hiệu ứng cần tính đến của hiệu ứng ls cao huy động USD tại Việt Nam cũng có tác dụng hút mạnh luồng vốn FII chảy sang Việt Nam. Tuy nhiên, cần đánh giá đúng mức độ ảnh hưởng của dòng vốn FII này, dưới góc độ chiến lược của các nhà đầu tư nước ngoài, đó là dòng vốn đầu cơ ngắn hạn sẽ chiếm ưu thế, chủ yếu là các dòng Pnotes và ETF, thay cho dòng vốn FII vốn được hiểu là quỹ đóng. Do đó TTCK sẽ mang tính đầu cơ nhiều hơn. Trong thời gian qua, các NDT chứng khoán cũng đã được chứng kiến hai dòng vốn này mang tính đầu cơ khá cao, vô cùng linh họat và họ đã chứng tỏ là những NDT có tầm nhìn, khi tính toán thời điểm vào ra TT rất tốt, đúng timing hơn nhiều so với các NDT nội. Tuy nhiên, dù sao điều này cũng là có vai trò tích cực nhất định hỗ trợ cho TTCK cất cánh trong thời gian tới. Điều không thể phủ nhận, là việc các dòng vốn giải ngân ODA, FDI, FII và kiều hối sẽ có tác dụng bù dắp tích cực cho cán cân thanh toán BOP của Việt Nam, và do đó, triển vọng mất giá đồng nội tệ - nguyên nhân chủ yếu do thâm hụt thương mại, nếu Bộ Công Thương và Tài chính có chính sách điều tiết hạn chế nhập khẩu tốt - sẽ được bù đắp phần lớn bởi các luồng vốn này.

Tuy nhiên, dù sao cũng cần nhìn nhận chung cho thời gian tới như sau: các yếu tố tiền tệ vĩ mô sẽ hỗ trợ tôt cho TTCK cho thời gian tới.

Hy vọng các phân tích và suy nghĩ của Khổng Minh cũng trùng hợp với nhiều NDT. Chúc các bác thành công và có quyết định đúng đắn.

Thân chào các bạn
Tôi tìm thấy bài phân tích này của bác vào ngày 24.4.2010, có mâu thuẫn quá không khi viết mỗi time lại một giọng điệu vậy bác?