Chủ đề: Đạm PHÚ MỸ - cho mùa bội thu
Threaded View
-
12-12-2008 11:32 AM #11
- Ngày tham gia
- Nov 2008
- Bài viết
- 29
- Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi
Re: DPM - Cho mùa thất thu
Cảm ơn "Water" đã nhắc cho chúng tôi nhớ lại một quá khứ *hào hùng của Nhà Máy Đạm phú mỹ.[:'(]
Ngày đó, tôi luôn thầm cảm ơn "Đạm Phú Mỹ cho mùa bội thu"vì mua 52k bán được giá 100k.
Còn bây giờ, giận thằng "DPM- cho mùa thất thu" bởi tháng trước mua 60K tháng này còn 30K.
*(bài viết này trên báo Công nghiệp năm 2005)
[quote user="Water-Vol1"]
Xin gửi tới các bác bài viết mang tính khách quan trên Tạp chí Cộng sản trong thời điểm DPM chưa IPO. Bài viết gần như giải quyết hầu hết các câu hỏi trong diễn đàn này. Xin thưa với các Bác DPM là điểm sáng của Tập đoàn dầu khí và Tập đoàn dầu khí là điểm sáng của Đất nước Việt nam thân yêu... Điều đó không phải tranh cãi...!!! Những lời phản biện để chúng ta cùng lớn lên là rất cần thiết, song những lời bình luận mang tính bệnh hoạn không có cơ sở thì mong các bạn hãy lập một Topic riêng tránh gây phản ứng tiêu cực cho diễn đàn NHÀ MÁY ĐẠM PHÚ MỸ - ĐIỂM SÁNG
VỀ PHÁT HUY NỘI LỰC THỰC HIỆN
CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Nguyễn Xuân Dịnh *
Việt Nam là một nước có nhiều lợi thế về phát triển nông nghiệp, nhất là
trồng trọt, quanh năm cây cối xanh tốt, trong đó sản xuất lúa gạo đang chiếm tỷ
trọng lớn cả về nguồn lực lao động lẫn đất đai. Bởi vậy, cùng với việc tích cực
áp dụng các biện pháp giống, thâm canh tăng năng suất, chất lượng để bảo đảm an
ninh lương thực, đẩy mạnh xuất khẩu, thì nhu cầu phân đạm (trong đó chủ yếu là
u-rê) ngày một cao. Vào cuối những năm 90 của thế kỷ trước, tiêu thụ phân đạm
trong nước đã vượt 2 triệu tấn/năm, trong khi đó cả nước chỉ có duy nhất Nhà máy
phân đạm Hà Bắc với sản lượng gần 0,1 triệu tấn/năm, đáp ứng khoảng 5% nhu cầu.
Để đối phó với những biến động thất thường của thị trường nhập khẩu phân đạm, ổn
định sản xuất và đời sống của gần 70% dân số sinh sống chủ yếu bằng nghề nông,
hằng năm Nhà nước dành hàng trăm triệu USD dự trữ chiến lược của ngân sách cho
việc nhập khẩu phân bón.
Bên cạnh đó, từ năm 1995, dòng khí thiên nhiên (đồng hành) của mỏ dầu Bạch Hổ
đã được dẫn vào bờ. Cùng với việc sử dụng khí thiên nhiên cho phát điện và làm
chất đốt, ngành hóa chất Việt Nam đã xúc tiến đàm phán với các nhà đầu tư nước
ngoài hợp tác xây dựng nhà máy phân đạm sử dụng nguyên liệu là khí thiên nhiên.
**** và Nhà nước đã quyết định giao cho Tổng công ty Dầu khí Việt Nam đầu tư
100% xây dựng Nhà máy Đạm Phú Mỹ. Báo cáo nghiên cứu khả thi Nhà máy Đạm Phú Mỹ
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 166/QĐ-TTg, ngày
20-2-2001). Các công tác triển khai dự án lập tức được tiến hành (từ tháng
8-2001 thành lập Ban quản lý dự án, thu xếp các nguồn vốn, đàm phán Hợp đồng
thiết kế - cung ứng thiết bị vật tư - xây dựng (EPC) với nhà thầu nước ngoài,
chuẩn bị địa điểm v.v...). Sau 3 năm xây dựng, tháng 8-2004 Nhà máy Đạm Phú Mỹ
đã được hoàn thành và chính thức đi vào sản xuất.
Từ thành công của Dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ, bước đầu chúng tôi rút ra một số
nội dung như sau:
- Nhà máy Đạm Phú Mỹ là dự án dựa vào nội lực là chính và đã phát huy nội lực
một cách hiệu quả.
Để xây dựng Nhà máy Đạm Phú Mỹ Chính phủ quyết định đầu tư xây dựng khoảng
380 triệu USD từ các nguồn vốn trong nước (vốn tự có của Tổng công ty Dầu khí
Việt Nam và vốn vay từ các ngân hàng trong nước). Nhân lực trong bộ máy quản lý
dự án và bộ máy quản lý và vận hành nhà máy đều là người Việt Nam. Việc đào tạo
theo một chương trình công phu kết hợp với sử dụng tư vấn trợ giúp quản lý và tư
vấn trợ giúp vận hành trong thời gian hợp lý đã phát huy tối đa năng lực của đội
ngũ nhân lực Việt Nam trong việc nắm bắt và làm chủ công nghệ quản lý và công
nghệ sản xuất của thế giới ở trình độ cao. Nguyên liệu của nhà máy là khí thiên
nhiên Bạch Hổ và các nguồn khí thiên nhiên khác khai thác ở thềm lục địa phía
Nam. Qua việc sử dụng khí thiên nhiên để sản xuất phân đạm đã làm cho giá trị sử
dụng của nó tăng lên khoảng 5 - 6 lần. Đồng thời, việc sử dụng khí thiên nhiên
đã được đa dạng hóa; trước đây khí thiên nhiên ở nước ta chỉ được dùng làm nhiên
liệu phát điện, nay đã có thêm 3 sản phảm từ khí thiên nhiên: a-mô-ni-ắc, u-rê
và khí các-bon-níc.
- Sản phẩm của nhà máy đạt chất lượng tốt, tham gia điều tiết thị trường ngay
từ đầu. Trong quá trình chạy thử và sản xuất thử, sản phẩm của nhà máy
đã đạt tiêu chuẩn thiết kế. Những tấn phân đạm đầu tiên đã được bán ra thị
trường nội địa vào tháng 8-2004. Đến hết năm 2004 Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã sản xuất
được 285.000 tấn sản phẩm. Sản phẩm của nhà máy lập tức tham gia thị trường, bảo
đảm một nguồn cung cấp quan trọng, bình ổn giá cả và cung cầu. Trong năm 2005,
thị trường phân đạm thế giới tiếp tục "sốt" với giá cao, luôn ở mức trên 200
USD/tấn, thì Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã sản xuất được 646.000 tấn u-rê và 24.987 tấn
a-mô-ni-ắc thương phẩm. Toàn bộ sản phẩm của nhà máy được tiêu thụ trên thị
trường nội địa, chiếm trên 30% thị phần. Nhà nước đã có trong tay một lượng phân
u-rê đủ lớn để giúp Chính phủ điều tiết, ổn định thị trường phân đạm. Không
những thế, bắt đầu từ năm 2005 Chính phủ không dành mấy trăm triệu USD để nhập
phân bón dự trữ chiến lược.
- Dự án sớm đạt được hiệu quả kinh tế cao. Kể từ khi hợp đồng chìa
khóa trao tay về thiết kế - xây dựng Nhà máy Đạm Phú Mỹ có hiệu lực, nhà máy đã
sớm hoàn thành giai đoạn chạy thử và bàn giao đưa vào sản xuất chính thức. Trong
thời gian chạy thử, tính đến ngày 21-9-2004, nhà máy đã sản xuất được 76.000 tấn
u-rê và gần 19.754 tấn a-mô-ni-ắc trị giá trên 300 tỉ đồng, đạt tiêu chuẩn chất
lượng và được khách hàng chấp nhận. Từ khi bắt đầu chạy thử đến ngày 31-12-2004,
Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã sản xuất được 285.000 tấn u-rê và hơn 15.000 tấn
a-mô-ni-ắc thương phẩm, trị giá gần 900 tỉ đồng. Năm 2005, nhà máy sản xuất được
hơn 640.000 tấn u-rê và gần 30.000 tấn a-mô-ni-ắc thương phẩm, đạt doanh thu
2.650 tỉ đồng, nộp ngân sách nhà nước 65,5 tỉ đồng, lãi 900 tỉ đồng. Sản phẩm
u-rê của nhà máy có giá bán luôn thấp hơn u-rê nhập khẩu khoảng 5%.
- Tiến độ thực hiện dự án nhanh. Ngay từ đầu, chủ đầu tư đã phối hợp
chặt chẽ với tổng thầu kiểm soát được tiến độ. Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Ban
Quản lý khu công nghiệp Phú Mỹ 1 đã tích cực hoàn tất việc giải phóng và bàn
giao mặt bằng kịp thời đợt 1 vào giữa tháng 9-2001 và toàn bộ mặt bằng 63 ha vào
đầu tháng 11-2001. Tổng thầu áp dụng chương trình phần mềm đặc dụng để lập và
kiểm soát tiến độ của từng công việc, từng hạng mục công trình và của toàn dự
án. Tình hình thực hiện được cập nhật, đối chiếu với tổng tiến độ và báo cáo
hằng tuần, hằng tháng về tất cả các khâu công việc từ khảo sát, san lấp, thiết
kế, đặt hàng mua sắm thiết bị, xây lắp, chạy thử đến bàn giao nhà máy. Ban Quản
lý dự án tiến hành lập và kiểm soát tiến độ của các hạng mục công trình ngoài
hàng rào, các công việc tuyển dụng, đào tạo đội ngũ quản lý vận hành nhà máy
cũng như các công tác chuẩn bị sản xuất khác. Tùy theo tình hình thực tế, các
cuộc họp giao ban phối hợp điều hành được tổ chức hằng tuần, hằng tháng ở cấp
giám đốc dự án tại công trường hoặc ở cấp tổng giám đốc để tháo gỡ các khó khăn,
vướng mắc.
Nhìn lại tổng thể, trong vòng 3 năm, trên một mảnh đất sình lầy đã mọc lên
một nhà máy đồ sộ và hiện đại. Đó là thành quả của sự chỉ đạo, phối hợp sát sao
ở cấp nhà nước (hoạt động của hội đồng nghiệm thu công trình cấp nhà nước, thủ
tục giải quyết các vấn đề tài chính, thuế, hải quan, các loại giấy phép của các
ngành, các bộ liên quan...); của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, giải quyết kịp thời
việc đền bù giải phóng mặt bằng; của ngành Dầu khí trong việc thực hiện vai trò
của chủ đầu tư; cũng như sự hợp tác chặt chẽ giữa Ban Quản lý dự án và tổng thầu
suốt thời gian thực hiện dự án.
- Sử dụng công nghệ tiên tiến, tổ chức chuyển giao công nghệ bước đầu thành
công. Dây chuyền công nghệ sản xuất phân đạm u-rê từ khí thiên nhiên ở
Nhà máy Đạm Phú Mỹ bao gồm 2 công đoạn chính:
+ Sản xuất a-mô-ni-ắc, khí các-bon-níc từ hỗn hợp nguyên liệu gồm khí thiên
nhiên, không khí, và hơi nước theo tỷ lệ thích hợp (gọi là xưởng sản xuất
a-mô-ni-ắc). Xưởng này có công suất thiết kế 1.350 tấn/ngày, sử dụng công nghệ
bản quyền của hãng Haldor Topsoe A/S (Đan Mạch), trong đó phân đoạn tách và thu
hồi khí các-bon-níc sử dụng công nghệ bản quyền của hãng BASF (Đức).
+ Tổng hợp a-mô-ni-ắc và khí các-bon-níc thành u-rê (gọi là xưởng sản xuất
u-rê). Xưởng u-rê có công suất thiết kế 2.200 tấn/ngày, sử dụng công nghệ bản
quyền của hãng Snamprogetti Spa (I-ta-li-a).
Đây là những công nghệ tiên tiến được sử dụng phổ biến trên thế giới. Các
công nghệ này bảo đảm sản xuất u-rê với dây chuyền liên tục, liên hợp khép kín,
suất tiêu hao nguyên liệu, năng lượng tính trên mỗi tấn sản phẩm rất thấp, môi
trường sạch. Các hãng bản quyền công nghệ có trách nhiệm cung cấp thiết kế công
nghệ cho tổng thầu là tổ hợp nhà thầu Technip Italy (I-ta-li-a)/Samsung
Engineering (Hàn Quốc) để triển khai thiết kế cơ sở và thiết kế chi tiết. Đồng
thời họ cung cấp các loại chất xúc tác, đào tạo chuyển giao công nghệ, giám sát
chạy thử và cam kết bảo đảm công suất, chất lượng sản phẩm, tỷ lệ tiêu hao
nguyên liệu, năng lượng trên mỗi tấn sản phẩm.
Khi nhà máy chuẩn bị chạy thử, các chuyên gia của các hãng cung cấp bản quyền
Haldor Topsoe/Snamprogetti và nhà thầu Technip Italy/Samsung Engineering tổ chức
đào tạo cho đội ngũ vận hành của nhà máy kỹ năng khởi động, vận hành, dừng, xử
lý sự cố trên dây chuyền sản xuất bằng phần mềm mô phỏng trên máy tính điện tử
và đối chiếu với thực tế tại hiện trường. Sau đó đội ngũ vận hành/bảo dưỡng của
nhà máy đã trực tiếp tham gia việc chạy thử và sản xuất thử dưới sự kèm cặp,
điều hành của tổng thầu. Với các biện pháp như vậy, việc tiếp nhận chuyển giao
công nghệ từ nhà cung cấp bản quyền và nhà thầu bước đầu đã thành công. Đội ngũ
vận hành của nhà máy trên 400 người, với sự trợ giúp của một số chuyên gia nước
ngoài, đã tiếp quản nhà máy từ nhà thầu và vận hành nó an toàn từ tháng 9-2004
đến nay. Nhà máy hoạt động luôn đạt 90% công suất thiết kế. Rất ít nhà máy phân
đạm mới xây dựng trên thế giới có thể đạt được mức đó. Sự thành công trong việc
tổ chức tiếp nhận chuyển giao công nghệ bước đầu như vậy rất đáng tự hào.
- Quản lý chất lượng tốt. Ngay từ khi xác định phạm vi công việc
trong hợp đồng EPC với tổng thầu Technip Italy/Samsung Engineering, chất lượng
công trình đã được quan tâm đúng mức. Tổng thầu phải có chứng chỉ chất lượng ISO
- 9001/2000, có chính sách chất lượng của công ty và có tổ chức, nhân sự cụ thể
bảo đảm và kiểm soát chất lượng dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ. Hệ thống các tiêu
chuẩn kỹ thuật áp dụng cho dự án được tuân thủ nghiêm ngặt cho tất cả công việc
trong các khâu khảo sát, thiết kế, chế tạo thiết bị, xây lắp và chạy thử. Trong
quá trình thực hiện dự án, tất cả các nhà thầu phụ, các nhà chế tạo, các nhà
cung cấp dịch vụ đều phải lập kế hoạch, lập tổ chức, bố trí nhân lực bảo đảm và
kiểm soát chất lượng đối với công việc của mình phù hợp với kế hoạch và yêu cầu
đảm bảo chất lượng của tổng thầu. Tất cả các công việc chế tạo, thi công xây
lắp, chạy thử đều phải thực hiện theo các quy trình kỹ thuật đã được duyệt (204
quy trình các loại), và theo các kế hoạch/quy trình kiểm tra thử nghiệm (261 quy
trình các loại). Các sản phẩm nhà máy thiết kế, chế tạo đều được cấp chứng chỉ
chất lượng do cơ quan cấp chứng chỉ quốc tế là Bereau Veritas cấp (80 chứng chỉ
các loại). Việc kiểm định an toàn thiết bị, đường ống áp lực và thiết bị nâng
chuyển đã được thực hiện phù hợp với qui định của Việt Nam.
Ban Quản lý dự án lập kế hoạch/quy trình quản lý, kiểm soát chất lượng công
trình, các quy trình giám sát thiết kế, kiểm soát vật tư, quy trình hoạt động
của hội đồng nghiệm thu cơ sở và có một tổ quản lý chất lượng để phối hợp với tư
vấn quốc tế SNC - Lavalin kiểm soát chất lượng các công việc của tổng thầu từ
khâu khảo sát, thiết kế đến khâu chạy thử, nghiệm thu công trình. Theo quy định,
Ban Quản lý dự án đã thực hiện báo cáo định kỳ về công tác quản lý chất lượng
của dự án cho Cục giám định chất lượng - Bộ Xây dựng, chủ đầu tư và Bộ Công
nghiệp. Hội đồng nghiệm thu cấp nhà nước và Cục giám định chất lượng công trình
cũng cử các đoàn công tác định kỳ đến kiểm tra công tác quản lý chất lượng tại
công trường, kịp thời có những hướng dẫn cần thiết cho Ban Quản lý dự án và tổng
thầu thực hiện các yêu cầu bảo đảm chất lượng phù hợp với các tiêu chuẩn và quy
định của Việt Nam.
Sau khi hoàn thành xây lắp và chạy thử đạt kết quả tốt, Nhà máy Đạm Phú Mỹ đã
được cơ quan cấp chứng chỉ quốc tế (Beareau Veritas) cấp chứng chỉ chất lượng
cho toàn bộ nhà máy và được Hội đồng nghiệm thu cấp nhà nước chính thức nghiệm
thu ngày 3-10-2004.
- Quản trị dự án tốt nên tiết kiệm được khoảng 100 triệu USD so với hạn mức
đầu tư, thực hiện quyết toán nhanh. Dự án Nhà máy Đạm Phú Mỹ được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi theo Quyết định số
166/QĐ-TTg, ngày 20-2-2001, với hạn mức đầu tư là 486 triệu USD. Sau khi chủ đầu
tư cùng tổng thầu xác định giá trị hợp đồng EPC khoán gọn, chìa khóa trao tay,
cũng như phạm vi công việc của các công trình ngoài hàng rào và sơ đồ tài chính
đầu tư 100% bằng nguồn vốn trong nước, thì giá trị tổng dự toán là 445 triệu
USD. Tổng dự toán công trình đã giảm được 41 triệu USD so với hạn mức đầu tư.
Bản quyết toán đầu tư của dự án đã được hoàn tất cuối năm 2005 và đang được
trình duyệt với giá trị khoảng 380 triệu USD (tính tròn). Như vậy, giá trị quyết
toán của dự án thấp hơn tổng dự toán khoảng 65 triệu USD và thấp hơn hạn mức đầu
tư khoảng 100 triệu USD. Đây thực sự là một thành công lớn trong công tác quản
lý dự toán của dự án, là thành quả tuyệt vời do quyết định sáng suốt của Thủ
tướng Chính phủ và các ngành, các bộ liên quan như Bộ Kế hoạch - Đầu tư; Bộ Tài
chính; Ngân hàng; Bộ Công nghiệp; Bộ Xây dựng và Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
trong việc chọn phương thức đầu tư bằng nguồn vốn trong nước 100% cùng những cơ
chế phù hợp bảo đảm cho dự án thực hiện suôn sẻ. Bên cạnh đó, Tổng công ty Dầu
khí Việt Nam và Ban Quản lý dự án đã kiểm soát chặt chẽ dự toán từng hạng mục,
phối hợp tốt với các nhà thầu trong nước thực hiện các hạng mục ngoài hàng rào
và tổng thầu nước ngoài thực hiện nghiêm túc hợp đồng đã cam kết, thực hành
nghiêm ngặt chế độ tiết kiệm chi phí, nên hầu như không có mục chi phí nào vượt
dự toán.
- Công tác an toàn và bảo vệ môi trường được chú trọng ngay từ đầu.
Đối với các nhà máy hóa chất nói chung và nhà máy phân đạm nói riêng, vấn đề an
toàn và bảo vệ môi trường hết sức quan trọng. Phạm vi công việc của hợp đồng EPC
đã xác định những yêu cầu tổng thầu phải bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt những tiêu
chuẩn an toàn và môi trường trên thế giới cũng như của Việt Nam đối với công
trình loại này. Trong quá trình thiết kế và xây lắp, các bên thường xuyên giám
sát và định kỳ tổ chức các đợt kiểm tra về công tác an toàn và bảo vệ môi
trường. Tổng thầu thường xuyên theo dõi, cập nhật và báo cáo tình hình an toàn
lao động trên công trường theo số ngày công không có tai nạn và theo thời gian
tiến độ thi công. Trong quá trình chạy thử, nếu có phát hiện trục trặc, dù nhỏ,
nhà thầu cũng lập tức xác định nguyên nhân và có biện pháp xử lý kịp thời. Đồng
thời Ban Quản lý dự án đã yêu cầu nhà thầu thuê Trung tâm an toàn môi trường dầu
khí lập 3 trạm quan trắc tại khu dân cư và khu công nghiệp xung quanh để kịp
thời phát hiện và khắc phục ngay các nguy cơ ô nhiễm môi trường. Ngay trong nhà
máy, đã lắp đặt 2 trạm quan trắc và quản lý môi trường không khí. Nước thải của
nhà máy được thu gom, xử lý cục bộ từng loại, sau đó xử lý tổng thể trước khi xả
vào hệ thống nước thải chung của khu công nghiệp Phú Mỹ 1. Các tiêu chuẩn và chế
độ an toàn vận hành được quán triệt ngay trong thiết kế công nghệ, thiết kế chế
tạo thiết bị, thiết kế hệ thống tự động hóa cũng như các phần mềm điều khiển tự
động, khởi động, dừng khẩn cấp từng thiết bị, từng cụm thiết bị và toàn nhà máy.
Hệ thống phòng cháy chữa cháy cũng được kết nối với hệ thống dừng khẩn cấp theo
yêu cầu an toàn ở cấp độ phù hợp. Trong quá trình chạy thử và sản xuất thử, nhà
máy đã tổ chức 3 đợt diễn tập ứng cứu sự cố khẩn cấp theo qui trình phối hợp
được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Hiệu suất khai thác trung bình trong thời gian qua đạt mức cao trên thế giới.
Chỉ tính sơ bộ, nếu tăng được sản lượng 1%, thì doanh thu của nhà máy sẽ tăng
khoảng 1,5 triệu USD mỗi năm; hoặc nếu tăng thêm một ngày sản xuất không phải
dừng thì doanh thu sẽ tăng hơn 500.000 USD. Như thế để thấy, tác hại của rủi ro,
trục trặc kỹ thuật. Bởi vậy, để duy trì năng suất cao, ổn định, một loạt giải
pháp nên áp dụng, như: tiếp tục hợp tác chặt chẽ với các nhà bản quyền công nghệ
trong việc nâng cao kỹ năng vận hành nhà máy, làm chủ công nghệ sản xuất, thường
xuyên cập nhật những kinh nghiệm của các nhà máy phân đạm tương tự trên thế
giới, tiếp nhận những cải tiến về xúc tác và thủ thuật vận hành của họ...; tiếp
tục hợp tác với các nhà chế tạo thiết bị để nâng cao trình độ và kỹ năng vận
hành và bảo dưỡng thiết bị, xử lý sự cố; tổ chức tốt và thực hiện nghiêm ngặt 4
cấp bảo dưỡng nhà máy là bảo dưỡng thường xuyên, bảo dưỡng định kỳ, bảo dưỡng
phòng ngừa và bảo dưỡng dự báo; có dự trữ hợp lý chất xúc tác và phụ tùng thay
thế; tiếp tục xây dựng đội ngũ quản lý vận hành nhà máy với trình độ tay nghề
ngày một cao, kỷ luật lao động tốt, tuyệt đối tuân thủ các qui trình kỹ thuật
kết hợp với việc sử dụng chuyên gia nước ngoài một cách hợp lý... Công tác an
toàn vận hành, an toàn lao động cần tiếp tục chú trọng trong đội ngũ vận hành,
đội ngũ bảo dưỡng và đội ngũ an toàn phòng cháy, chữa cháy. Công tác đào tạo
nâng cao tay nghề nên thường xuyên tổ chức thực hiện cho tất cả các đối tượng
làm công tác kỹ thuật sản xuất, nghiệp vụ, và quản lý của nhà máy. Đời sống và
môi trường làm việc của cán bộ, công nhân viên nhà máy cần phải được đặc biệt
quan tâm. Hy vọng Nhà máy Đạm Phú Mỹ sẽ tiếp tục là một điểm sáng của Tổng công
ty Dầu khí và của cả ngành công nghiệp Việt Nam.[/quote]
Thông tin của chủ đề
Users Browsing this Thread
Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)



Trích dẫn
Bookmarks