Chủ đề: Ai xả hàng? Ai gom hàng?
-
13-10-2009 09:36 PM #41
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
Câu chuyện gia đình tỷ phú USD
Gia đình họ Đặng là một “hiện tượng” của nền kinh tế Việt Nam, khi nằm trong top những gia đình giàu nhất trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Đặng Thị Hoàng Yến - Cách đầu đàn
Chị cả của gia đình họ Đặng được biết đến nhiều ở cương vị Chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp Tân Tạo (ITA). Cùng với em trai là Đặng Thành Tâm, bà đã biến Tân Tạo, vùng đất nhiễm mặn của huyện Bình Chánh (TPHCM) thành một trong những khu công nghiệp kiểu mẫu đầu tiên tại Việt Nam.
Cho đến giờ câu mà bà Đặng Thị Hoàng Yến vẫn nhớ nhất là lời dặn dò của người cha: “Con là con đầu đàn, con bay về hướng nào thì các em sẽ bay theo hướng đó”. Trách nhiệm lớn lao ấy, cho đến hôm nay, những gì mà Đặng Thị Hoàng Yến đạt được đã vượt qua mong ước của thân phụ.
Tốt nghiệp Đại học Kinh tế năm 1980, Đặng Thị Hoàng Yến đã trải qua nhiều môi trường làm việc, từ doanh nghiệp tư nhân đến cơ quan nhà nước (bà từng giữ chức Giám đốc Trung tâm Xúc tiến đầu tư TPHCM), nhưng thử thách lớn nhất mà bà trải qua và cũng là tiền đề cho những thành công ngày hôm nay, là tại thị trường Mỹ.
Mười năm trước, Đặng Thị Hoàng Yến đến Mỹ bằng visa với thời hạn 6 tháng dành cho doanh nhân. Sau khi tìm hiểu cặn kẽ từ một số người môi giới nhà đất bản địa, bà quyết định đầu tư xây nhà chung cư. Mua đất ở Houston (thuộc tiểu bang Texas) xong, khi đến ngân hàng để tìm nguồn tài chính cho việc thiết kế, xây dựng, Đặng Thị Hoàng Yến nhận được câu trả lời: Không đủ điều kiện vay tiền!
Không nản, bà dồn sức lập dự án, sau đó đến thẳng chính quyền bang nhờ giúp đỡ. Những cố gắng của bà được đền đáp khi chính quyền bang Texas đồng ý giúp bà thuyết trình dự án trước lãnh đạo các ngân hàng. Và dự án của bà đã thuyết phục được các ông chủ nhà hàng Mỹ.
Lợi nhuận từ lĩnh vực đầu tư khôn khéo đã giúp bà đủ lực để xây Tập đoàn Tân Tạo với hơn mười khu công nghiệp trên cả nước.
Chủ tịch Tập đoàn Tân Tạo cho biết, hiện các dự án bất động sản tại Mỹ vẫn tiếp tục và do khủng hoảng tài chính toàn cầu, ITA quyết định triển khai chậm các dự án mới, tập trung vào bán và cho thuê nhà ở tại các khu đô thị nhằm tạo tiền mặt, chờ nền kinh tế Hoa Kỳ hồi phục dần.
Riêng các dự án mà tập đoàn Tân Tạo đang đầu tư tại Việt Nam, Đặng Thị Hoàng Yến tỏ ra rất hài lòng, vì ITA đã biết tìm ra lợi thế do chính khủng hoảng mang lại: giá thành xây dựng hạ, việc đền bù giải tỏa không bị cạnh tranh, Chính nhờ vậy, chỉ trong hai năm 2008 - 2009, ITA đã thêm được 1.200ha cho quỹ đất, sẵn sang đầu tư các khu công nghiệp, khu đô thị, nhà máy điện… trong năm 2010.
Trong cuộc sống riêng Đặng Thị Hoàng Yến nếm trải những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua. Tai nạn giao thông đã cướp đi người chồng của bà khi con gái đầu lòng mới được vài tuổi, bé thứ hai sắp chào đời.
Bà đã thực hiện đúng lời hứa trước vong linh người chồng là nuôi dạy hai con nên người. Năm 2003, cô con gái lớn đạt giải nhì kỳ thi môn văn toàn nước Anh; năm 2004, đạt giải nhì cuộc thi phim dành cho các đạo diễn đang là sinh viên ở Anh. Còn cô thứ hai cũng đã vào đại học, có khát vọng tiếp nối sứ mệnh lãnh đạo doanh nghiệp của mẹ.
Đặng Thị Hoàng Yến còn có ước mơ cháy bỏng là xây dựng một trường đại học chất lượng cao. Tháng 10/2009, bà đã sang thăm Đại học Harvard được lãnh đạo trường tiếp đón trọng thị và mời ghi vào sổ lưu niệm dành cho khách quý. Đây là chuyến đi mở đầu cho hy vọng Việt Nam có trường đại học tư nhân đầu tiên đạt chuẩn quốc tế.
Đặng Thị Hoàng Phượng - “Nốt trầm” không thể thay thế
Con gái thứ ba của gia đình họ Đặng hiện là Tổng giám đốc điều hành Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn (Saigon Invest - SGI), được giới phân tích đánh giá là cánh tay phải của Chủ tịch Tập đoàn SGI. Sức mạnh đó được xây dựng trên tính cách tổng hợp giữa sự sâu sắc, quyết liệt của người chị Đặng Thị Hoàng Yến và tính linh hoạt, nhìn xa trông rộng của anh trai Đặng Thành Tâm.
Với 40 công ty thành viên trải đều trên cả kinh doanh, sản xuất lẫn tài chính, ngoài dòng vốn lưu động chóng mặt còn là những dự án mà sự thành, bại được tính từng phút, thế nhưng Tổng giám đốc SGI vẫn thu xếp được trong một vẻ bề ngoài khá bình thản.
Nếu như tính quyết liệt của Đặng Thị Hoàng Yến và Đặng Thành Tâm được ví như những “nốt thăng” trong một bản nhạc, thì Đặng Thị Hoàng Phượng giống như một “nốt trầm”. Chưa khi nào nghe bà tuyên bố một chuyện gây chấn động, nhưng bà không giấu niềm tự hào: “Trong suốt 10 năm qua, tôi chưa trả lương cho nhân viên trễ một ngày”.
Khi anh trai Đặng Thành Tâm quyết tâm mạo hiểm với dự án Khu công nghiệp Quế Võ, Đặng Thị Hoàng Phượng - đang là Ủy viên HĐQT Tập đoàn Tân Tạo - cũng quyết định rời khỏi Tân Tạo để góp sức với anh trai.
“Quyết định để con gái còn bé bỏng lại trong Nam để ra Bắc cùng anh Tâm là sự hy sinh lớn nhất của tôi. Tất nhiên, tôi cũng vô cùng biết ơn sự rộng lượng của chồng mình”. Người rộng lượng của bà Đặng Thị Hoàng Phượng chính là ông Nguyễn Vĩnh Thọ, hiện là Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Nam Việt (Navibank).
Đặng Thành Tâm - Thuyền trưởng tài ba
Được xem là “kiến trúc sư trưởng” xây dựng nên Khu công nghiệp Tân Tạo, nhưng Đặng Thành Tâm làm giới kinh doanh ngạc nhiên khi rời cương vị tổng giám đốc để về Bắc Ninh thành lập Công ty cổ phần Phát triển đô thị Kinh Bắc.
Quyết định này được cho là mạo hiểm, vì không ai nghĩ các tập đoàn quốc tế sẽ lập nhà máy ở vùng đất còn hoang sơ ấy. Hơn nữa, Đặng Thành Tâm lúc đó không đủ vốn để xây dựng một khu công nghiệp hiện đại.
Ông Tâm nhớ lại thời kỳ bức phá đầu tiên: Sau hai lần thuyết trình, dự án công ty Kinh Bắc (vốn điều lệ 20 tỷ đồng) được Chính phủ thông qua. Nhưng khi Văn phòng Thủ tướng gửi Quyết định về địa phương, chính quyền xã ở đây phản hồi: Không có công ty Kinh Bắc nào cả. Văn phòng Chính phủ lập tức triệu tập ông Tâm lên, vì cho rằng đó là “dự án ma”. Ông giải trình một sự thật: “Chúng tôi tiết kiệm nên chưa vội lập văn phòng công ty.
Rồi Khu Công nghiệp Quế Võ của tư nhân đầu tiên kéo được các tập đoàn như Canon, Nippon, MiTAC, Foxcon vào xây dựng nhà máy.
Sự mạo hiểm của Đặng Thành Tâm đã có kết quả: năm 2007, Công ty niêm yết trên sàn chứng khoán (mã KBC) với vốn điều lệ 800 tỷ đồng. Sau hai năm, vốn chủ sở hữu đã là trên 3.000 tỷ đồng, tổng tài sản tăng hơn bốn lần, tương đương 8.000 tỷ đồng. Tài sản đó lan ra cả Hà Nội và TPHCM. KBC nay đứng đầu 40 doanh nghiệp thành viên của Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn (Saigon Invest - SGI) do Đặng Thành Tâm làm chủ tịch.
Có đến 40 doanh nghiệp chỉ trong thời gian ngắn, Đặng Thành Tâm cho rằng, đó là nhờ ông biết tận dụng khủng hoảng. “Tôi đã mua được nhiều dự án khi các nhà đầu tư khác phải rút lui; tiếp tục đẩy mạnh đầu tư để tận dụng nguyên liệu rẻ. Trong năm 2010, Saigon Invest sẽ xây dựng thêm hai khu công nghiệp ở Bắc Ninh, trồng thêm 2.000ha cao su ở Campuchia, xây nhà máy nhiệt điện ở Bắc Giang, nhà máy xi măng ở Nghệ An…”, ông Tâm cho biết.
Hậu phương 15 năm
Một nhiếp ảnh gia đã từng cam đoan với cánh phóng viên rằng Đặng Thành Tâm thích “chân dài”, và đưa ra bằng chứng là một tấm hình Chủ tịch Saigon Invest bên cạnh một người đẹp cao hơn ông gần… một gang tay.
Mối hoài nghi kéo dài suốt một thời gian và chỉ được “giải quyết” trong dịp kỷ niệm 15 năm ngày cưới của ông hồi đầu tháng 1/2010. Hóa ra, “chân dài” của Đặng Thành Tâm là vợ ông - bà Nguyễn Thị Kim Thanh, cũng nằm trong danh sách 100 người giàu nhất Việt Nam.
“Chuyện tình của chúng tôi như một câu chuyện cổ tích giữa người đẹp với anh chàng vừa nghèo vừa xấu trai”, Đặng Thành Tâm tự nhận mình như thế ở thời điểm 20 năm về trước.
“Một trong những thành công lớn nhất trong cuộc đời tôi là yêu và lấy được Kim Thanh. Chúng tôi đã có sáu năm yêu nhau rồi mới tiến tới hôn nhân. Tôi đi suốt, không chăm sóc được con cái, mọi việc điều giao phó cho vợ”, ông chia sẻ.
Năm 2007, số vốn một triệu USD của Đặng Thành Tâm và Đặng Thị Hoàng Yến chỉ đủ chi đền bù giải tỏa cho dự án Khu công nghiệp Tân Tạo. Gặp đúng thời kỳ khủng hoảng tài chính thế giới, Công ty hoạt động ba tháng là hết tiền trả lương.
Lúc đó, bà Kim Thanh đã phải vay tiền người chị gái. Hai tháng đầu, bà vay được mỗi tháng 10.000 USD, đưa chồng trả lương cho nhân viên, đến tháng thứ ba, chỉ còn 5.000 USD, những người quản lý Công ty đã tình nguyện chỉ lấy một nữa lương. May sao liền sau đó, một loạt doanh nghiệp người Hoa đã quyết định vào Khu công nghiệp Tân Tạo, nguy cơ phá sản mới hết!
Sau này bà Thanh mới thổ lộ, tháng thứ ba bà vẫn vay được 10.000 USD, nhưng không dám đưa hết cho chồng, bà tính nếu lỡ chồng phá sản thì còn có cái mà xoay xở cho gia đình.
Đã từng có nhiều bàn tán về mối bất hòa trong gia đình họ Đặng, khi hai em của bà Đặng Thị Hoàng Yến rời khỏi Tân Tạo. Nhưng chị cả nhà họ Đặng nói rằng: “Tân tạo hay Saigon Invest; Đặng Thị Hoàng Yến hay Đặng Thành Tâm thì cũng đều đã và đang sống hết mình để thắp sáng một cái tên chung, đó là gia đình họ Đặng.
Và chúng tôi tự hào về ba chúng tôi, về gia đình chúng tôi, nơi mỗi thành viên đều là một phần không thể thiếu và điều đó tạo nên sức mạnh cho chúng tôi, cũng như đóng góp chung vào sự phát triển của đất nước mình”.Last edited by VN1000; 24-03-2010 at 08:53 PM.
-
13-10-2009 09:58 PM #42
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
6. James Packer

Đại gia ngành truyển thông James Packer thừa kế sự nghiệp đồ sộ từ ông và cha mình. Từng là người giàu nhất Australia, nay người đàn ông 42 tuổi này chỉ còn 3,5 tỷ USD trong tay, xếp thứ 258 trong danh sách giàu nhất thế giới. Ông hiện ở trong ngôi nhà ở Bellevue Hill, ngoại ô thành phố Sydney, do người ông nội mua năm 1935. Ảnh: Newspix
7. Steve Jobs

CEO của Apple sở hữu Jackling House, một ngôi nhà rộng 1.600 mét vuông có lịch sử lâu đời theo phong cách Tây Ban Nha. Tuy yêu thích cảnh vật ở đây nhưng ông chủ của các sản phẩm tinh vi nhỏ gọn cảm thấy tòa nhà quá to so với nhu cầu sử dụng, thậm chí khá cũ nát. Trong nhiều năm liền ông nỗ lực thuyết phục chính quyền địa phương cho phép đập bỏ để xây một căn nhỏ gọn hơn. Tuy nhiên, chính người dân địa phương đã đứng ra phản đối mạnh mẽ. Do đó, đã nhiều năm liền Jobs và gia đình không còn ngó ngàng gì đến ngôi nhà và với một tỷ phú như Steve Jobs, ông còn nhiều nơi khác để ở. Hiện Steve Jobs giàu thứ 136 trên thế giới với tài sản trị giá 5,5 tỷ USD. Celebrityhomephotos.com
8. Lev Leviev

Tuy chỉ giàu thứ 655 thế giới, nhưng tỷ phú ngành kim cương Lev Leviev tỏ ra không thua kém những đại gia khác về khoản nhà cửa. Từ Israel, ông mua một căn ở ngoại ô phía bắc thành phố London trị giá 65 triệu USD. Ngôi nhà thể hiện sở thích xa hoa của chủ nhân với 7 phòng ngủ lộng lẫy, câu lạc bộ đêm trong nhà và bể bơi dát vàng. Lev Leviev, với 1,5 tỷ USD trong tay, được xem là một trong những người Do Thái giàu nhất trên thế giới. Ảnh: Glentree International
9. Ralph Lauren

Huyền thoại ngành thời trang thế giới mua căn nhà làm từ đá và gỗ này từ năm 1981. Ngôi nhà nằm trên mảnh đất rộng 2,4 hecta, mang phong khách đồng quê, giản dị nhưng ấm cúng, ở vùng Montauk, New York. Ngôi nhà từng thuộc về huyền thoại của nhóm Beatles John Lennon cùng người vợ Yoko Ono. Ngày nay, Ralph Lauren xếp thứ 173 trong danh sách tỷ phú thế giới với tài sản 4,6 tỷ USD. Ảnh: newscom
10. George Lucas

Nhà sản xuất phim Chiến tranh giữa các vì sao George Lucas sống và làm việc trong tòa nhà Skywalker Ranch nổi tiếng của mình tại bang California. Ngôi nhà nằm trên mảnh đất rộng 2.086 hecta, rộng đến nỗi cần một đội cứu hỏa riêng và có một mảnh rừng trồng cây ô liu rộng 2 hecta. Lucas trưng bày những hình ảnh liên quan đến các bộ phim từng làm rạng danh ông như Indiana Jones trong ngôi nhà chính rộng 4.500 mét vuông. Với tài sản 3 tỷ USD, ông được Foebes xếp thứ 316 trong danh sách tỷ phú thế giới. Ảnh: CelebrityHomePhotos.com
11. Steven Spielberg

Đứng ngang hàng trong danh sách tỷ phú thế giới với nhà sản xuất phim George Lucas, đạo diễn kiêm nhà sản xuất phim Steven Spielberg cũng có trong tay 3 tỷ USD. Ngôi nhà của ông nằm trên mảnh đất rộng 4,8 hecta ở New York luôn mở rộng cửa đón chào khách, phần lớn là các người nổi tiếng, trong đó có cả gia đình cựu tổng thống Clinton. Ảnh: Newscom
12. Donald Trump

Tỷ phú ngành bất động sản Donald Trump sống trong căn hộ penthouse ở tầng cao nhất tòa nhà chọc trời do chính ông xây dựng. Hàng ngày, Donald Trump không mất nhiều thời gian đi từ nhà đến công sở như những người khác vì văn phòng công ty ở cùng tòa nhà. Căn nhà của ông được thiết kế lấy cảm hứng từ vua Louis XIV của nước Pháp. Năm nay, Donald Trump xếp thứ 488 trong danh sách giàu nhất thế giới, nhảy 2 bậc so với năm ngoái khi tài sản tăng từ 1,6 lên 2 tỷ USD. Ảnh: Getty
13. Oprah Winfrey

Bà hoàng truyền hình Mỹ đứng thứ 400 trong danh sách những tỷ phú thế giới năm nay với tài sản 2,4 tỷ USD. Hồi 2001, bà mua căn nhà mang phong cách Georgia, đặt trên khu đất rộng 2.100 mét vuông, đặt tên là "Promised Land." Ngôi nhà ở vùng Montecito, bang California có tầm nhìn tuyệt đẹp giữa một bên là núi cao và phía trước là đại dương mênh mông. Ảnh: CelebrityHomePhotos.com
14. Mukesh Ambani

Nơi ở của người giàu nhất châu Á và thứ 4 thế giới không chỉ đơn giản là một ngôi nhà, mà là hẳn một tòa nhà chọc trời. Tòa tháp sang trọng 27 tầng mang tên Antilla tại Mumbai được xây dựng trong vài năm qua và cho đến nay vẫn chưa hoàn thiện. Cả thế giới chăm chú dõi theo quá trình xây dựng vì độ xa hoa của nó, được dự báo sẽ là căn nhà đắt giá nhất hành tinh. Tòa tháp không có hai tầng nào giống nhau hoàn toàn và các căn phòng được trang hoàng bằng những vật liệu quý giá nhất. Tuy nhiên, dù đắt đến cỡ nào thì rõ ràng Mukesh Ambani cũng không hẳn vung tay quá trán vì tài sản của ông lên tới 27 tỷ USD. Ảnh: ReutersLast edited by VN1000; 24-03-2010 at 08:46 PM.
-
13-10-2009 10:06 PM #43
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
Nhà của tỷ phú
1. Warren Buffett

Người giàu thứ 3 thế giới với 47 tỷ USD trong tay có sở thích nhà cửa khá giản dị. Hàng chục năm qua ông điều hành cả một tập đoàn lớn, làm những thương vụ có giá trị tính bằng chục tỷ USD. Tuy nhiên, riêng căn nhà mua từ năm 1958 với giá vẻn vẹn 31.500 USD cho đến nay vẫn không thay đổi. Ngôi nhà màu xám có 5 phòng ngủ, có tổng diện tích 560 mét vuông ở vùng Omaha, bang Nebraska, Mỹ. Tuy đơn giản nhưng Warren Buffett không có nhu cầu chuyển nhà vì căn nhà này đáp ứng đủ mọi nhu cầu của ông, trong đó có cả một sân bóng ném để luyện tập sức khỏe. Hồi 2007, một tên trộm với khẩu súng giả đã bạo gan đột nhập vào ngôi nhà do thấy cổng không đóng và tưởng rằng an ninh lỏng lẻo. Tuy nhiên, hắn đã bị đội bảo vệ hạ đo ván ngay lập tức. Ảnh: AP
2. Bill Gates

Nhà của tỷ phú giàu thứ 2 thế giới nằm trên khu đất rộng 6.000 mét vuông, nằm giữa một bên là triền đồi và một bên là hồ Lake Washington, gần thành phố Seattle. Kể từ khi hoàn thành, ngôi nhà luôn là đối tượng bàn tán của những người hâm mộ Bill Gates do độ hoành tráng của nó. Trong nhà có đầy đủ mọi trang thiết bị tối tân hiện đại, bể bơi dài 20 mét với hệ thống âm thanh dưới nước, một phòng tập rộng 230 mét vuông và và phòng ăn rộng 100 mét vuông với bàn ăn 24 ghế. Toàn bộ căn nhà được kết nối bằng một hệ thống điều khiển trung tâm và an ninh nghiêm ngặt. Ảnh: newscom
3. Lakshmi Mittal

Hồi 2004, Mittal bỏ ra 128 triệu USD để mua căn nhà 12 phòng ngủ xây kiểu thành thị ở khu nhà giàu Kensington, thủ đô London. Hai hàng xóm của Mittal, một bên là cung điện Kensington Palace và một bên là ngôi nhà của Quốc vương nước Brunei. Ngôi nhà có phòng tắm kiểu Thổ Nhĩ Kỳ, gara chứa được 20 chiếc xe và bể bơi lợp mái. Đá cẩm thạch trang trí được lấy từ cùng khu mỏ với loại đá hảo hạng dùng trong cung điện Taj Mahal ở Ấn Độ. Tỷ phú ngành thép hiện là người giàu thứ 5 hành tinh với 28,7 tỷ USD. Ảnh: Rex-usa
4. Larry Ellison
Khu bất động sản rộng 9,3 hecta tại vùng Woodside, California của tỷ phú giàu thứ 6 thế giới khiến người ta liên tưởng đến thành phố Kyoto của Nhật Bản. Cả ngôi nhà cũng mô phỏng phong cách của một cung điện hoàng gia Nhật thời thế kỷ 16. Người ta đồn rằng Larry Ellison đã tốn khoảng 200 triệu USD để xây dựng. Khoản tiền này không thấm vào đâu so với tổng tài sản trị giá 28 tỷ USD của Larry. Ảnh: Celebrityhomephotos.com
5. Michael Dell

Được xây từ năm 1997, ngôi nhà có diện tích 3.000 mét vuông của ông chủ công ty máy tính Dell nằm trên triền đồi, không xa trụ sở hãng tại bang Texas. Ngôi nhà có 8 phòng ngủ, một phòng hội nghị, bể bơi trong nhà lẫn ngoài trời. Như đa số những người lắm tiền nhiều của khác, Dell trang bị cho căn nhà một hệ thống an ninh kiên cố và những bức tường bao quanh cao vút. Hiện Michael Dell xếp thứ 37 trong danh sách tỷ phú thế giới với 13,5 tỷ USD. Ảnh: Getty
Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 09:04 PM.
-
13-10-2009 10:28 PM #44
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
ROA là tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (Return on total assets)
ROA đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của công ty.
Công thức:ROA = Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường Tổng tài sảnROA cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư (hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau.Tài sản của một công ty được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn.Ví dụ nếu công ty A có thu nhập ròng là 1 triệu USD, tổng tài sản là 5 triệu USD, khi đó ROA là 20%. Tuy nhiên nếu công ty B cũng có khoản thu nhập tương tự trên tổng tài sản là 10 triệu USD, ROA của B sẽ là 10%. Như vậy công ty A hiệu quả hơn trong việc biến đầu tư thành lợi nhuận.Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỷ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ. Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà chi cho các hoạt động đầu tư, đó không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời.
ROE là tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (Return on common equyty)
ROE là tỷ số quan trọng nhất đối với các cổ đông, tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đông thường.Công thức:ROE = Lợi nhuận ròng dành cho cổ đông thường Vốn cổ phần thườngChỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích lũy tạo ra bao nhiêu đồng lời. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào.Tỷ lệ ROE càng cao càng chứng tỏ công ty sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông, có nghĩa là công ty đã cân đối một cách hài hòa giữa vốn cổ đông với vốn đi vay để khai thác lợi thế cạnh tranh của mình trong quá trình huy động vốn, mở rộng quy mô. Cho nên hệ số ROE càng cao thì các cổ phiếu càng hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.Khi tính toán được tỷ lệ này, các nhà đầu tư có thể đánh giá ở các góc độ cụ thể như sau:- ROE nhỏ hơn hoặc bằng lãi vay ngân hàng, vậy nếu công ty có khoản vay ngân hàng tương đương hoặc cao hơn vốn cổ đông, thì lợi nhuận tạo ra cũng chỉ để trả lãi vay ngân hàng.- ROE cao hơn lãi vay ngân hàng thì phải đánh giá xem công ty đã vay ngân hàng và khai thác hết lợi thế cạnh tranh trên thị trường chưa để có thể đánh giá công ty này có thể tăng tỷ lệ ROE trong tương lai hay không.Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 08:16 PM.
-
13-10-2009 10:31 PM #45
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
EPS (Earning Per Share) là lợi nhuận (thu nhập) trên mỗi cổ phiếu.
Đây là phần lợi nhuận mà công ty phân bổ cho mỗi cổ phần thông thường đang được lưu hành trên thị trường. EPS được sử dụng như một chỉ số thể hiện khả năng kiếm lợi nhuận của doanh nghiệp, được tính bởi công thức:
EPS = (Thu nhập ròng - cổ tức cổ phiếu ưu đãi) / lượng cổ phiếu bình quân đang lưu thông.
Trong việc tính toán EPS, sẽ chính xác hơn nếu sử dụng lượng cổ phiếu lưu hành bình quân trong kỳ để tính toán vì lượng cổ phiếu thường xuyên thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên trên thực tế người ta thường hay đơn giản hoá việc tính toán bằng cách sử dụng số cổ phiếu đang lưu hành vào thời điểm cuối kỳ. Có thể làm giảm EPS dựa trên công thức cũ bằng cách tính thêm cả các cổ phiếu chuyển đổi, các bảo chứng (warrant) vào lượng cổ phiếu đang lưu thông.
EPS thường được coi là biến số quan trọng duy nhất trong việc tính toán giá cổ phiếu. Đây cũng chính là bộ phận chủ yếu cấu thành nên tỉ lệ P/E. Một khía cạnh rất quan trọng của EPS thường hay bị bỏ qua là lượng vốn cần thiết để tạo ra thu nhập ròng (net income) trong công thức tính trên.
Hai doanh nghiệp có thể có cùng tỷ lệ EPS nhưng một trong hai có thể có ít cổ phần hơn tức là doanh nghiệp này sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nếu như các yếu tố khác là cân bằng thì rõ ràng doanh nghiệp này tốt hơn doanh nghiệp còn lại. Vì doanh nghiệp có thể lợi dụng các kỹ thuật tính toán để đưa ra con số EPS hấp dẫn nên các nhà đầu tư cũng cần hiểu rõ cách tính của từng doanh nghiệp để đảm bảo "chất lượng" của tỉ lệ này. Tốt hơn hết là không nên dựa vào một thước đo tài chính duy nhất mà nên kết hợp với các bản phân tích tài chính và các chỉ số khác.
Hệ số giá trên thu nhập (P/E) là một trong những chỉ số phân tích quan trọng trong quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư. Thu nhập từ cổ phiếu sẽ có ảnh hưởng quyết định đến giá thị trường của cổ phiếu đó. Hệ số P/E đo lường mối quan hệ giữa giá thị trường (Market Price - P) và thu nhập của mỗi cổ phiếu (Earning Per Share - EPS) và được tính như sau: P/E = P/EPS
Trong đó giá thị trường P của cổ phiếu là giá mà tại đó cổ phiếu đang được mua bán ở thời điểm hiện tại; thu nhập của mỗi cổ phiếu EPS là phần lợi nhuận ròng sau thuế mà công ty chia cho các cổ đông thường trong năm tài chính gần nhất.
P/E cho thấy giá cổ phiếu hiện tại cao hơn thu nhập từ cổ phiếu đó bao nhiêu lần, hay nhà đầu tư phải trả giá cho một đồng thu nhập bao nhiêu. P/E được tính cho từng cổ phiếu một và tính trung bình cho tất cả các cổ phiếu và hệ số này thường được công bố trên báo chí.
Nếu hệ số P/E cao thì điều đó có nghĩa là người đầu tư dự kiến tốc độ tăng cổ tức cao trong tương lai; cổ phiếu có rủi ro thấp nên người đầu tư thoả mãn với tỷ suất vốn hoá thị trường thấp; dự đoán công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình và sẽ trả cổ tức cao.
Hệ số P/E rất có ích cho việc định giá cổ phiếu. Giả sử người đầu tư có cổ phiếu AAA không được giao dịch sôi động trên thị trường, vậy cổ phiếu đó có giá bao nhiêu là hợp lý? Lúc đó cần nhìn vào hệ số P/E được công bố đối với nhóm các loại cổ phiếu tương tự với cổ phiếu AAA, sau đó nhân thu nhập của công ty với hệ số P/E sẽ cho chúng ta giá của loại cổ phiếu AAA.
Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 08:20 PM.
-
13-10-2009 10:59 PM #46
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
P/B
Chỉ số P/B (Price-to-Book ratio – Giá/Giá trị sổ sách) là tỷ lệ được sử dụng để so sánh giá của một cổ phiếu so với giá trị ghi sổ của cổ phiếu đó. Tỷ lệ này được tính toán bằng cách lấy giá đóng cửa hiện tại của cổ phiếu chia cho giá trị ghi sổ tại quý gần nhất của cổ phiếu đó.
Công thức tính như sau:
P/B = Giá cổ phiếu / (Tổng giá trị tài sản – giá trị tài sản vô hình – nợ)
Ví dụ: Giả sử một công ty có giá trị tài sản ghi nhận trên bảng cân đối kế toán là 200 tỷ VND, tổng nợ 150 tỷ VND, như vậy giá trị ghi sổ của công ty là 50 tỷ . Hiện tại công ty có 2 triệu cổ phiếu đang lưu hành, như vậy giá trị ghi sổ của mỗi cổ phiếu là 25.000 VND. Nếu giá thị trường của cổ phiếu đang là 75.000 VND, thì P/B của cổ phiếu được tính như sau:
P/B = 75.000/25.000 = 3
Đối với các nhà đầu tư, P/B là công cụ giúp họ tìm kiếm các cổ phiếu có giá thấp mà phần lớn thị trường bỏ qua.
Nếu một doanh nghiệp đang bán cổ phần với mức giá thấp hơn giá trị ghi sổ của nó (tức là có tỷ lệ P/B nhỏ hơn 1), khi đó có hai trường hợp sẽ xảy ra: hoặc là thị trường đang nghĩ rằng giá trị tài sản của công ty đã bị thổi phồng quá mức, hoặc là thu nhập trên tài sản của công ty là quá thấp.
Nếu như điều kiện đầu tiên xảy ra, các nhà đầu tư nên tránh xa các cổ phiếu này bởi vì giá trị tài sản của công ty sẽ nhanh chóng được thị trường điều chỉnh về đúng giá trị thật.
Còn nếu điều thứ hai đúng, thì có khả năng lãnh đạo mới của công ty hoặc các điều kiện kinh doanh mới sẽ đem lại những triển vọng kinh doanh cho công ty, tạo dòng thu nhập dương và tăng lợi nhuận cho các cổ đông.
Ngược lại, nếu một công ty có giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá trị ghi sổ thì đây thường là dấu hiệu cho thấy công ty làm ăn khá tốt, thu nhập trên tài sản cao.
Chỉ số P/B chỉ thực sự có ích khi nhà đầu tư xem xét các doanh nghiệp có mức độ tập trung vốn cao hoặc các công ty tài chính, bởi giá trị tài sản của các công ty này tương đối lớn.
Vì công tác kế toán phải tuân thủ những tiêu chuẩn ngặt nghèo, nên giá trị ghi sổ của tài sản hoàn toàn không tính tới các tài sản vô hình như thương hiệu, nhãn hiệu, uy tín, bằng sáng chế và các tài sản trí tuệ khác do công ty tạo ra. Giá trị ghi sổ không có ý nghĩa nhiều lắm với các công ty dịch vụ vì giá trị tài sản hữu hình của họ không lớn.
Hệ số Beta
Beta hay còn gọi là hệ số beta, đây là hệ số đo lường mức độ biến động hay còn gọi là thước đo rủi ro hệ thống của một chứng khoán hay một danh mục đầu tư trong tương quan với toàn bộ thị trường. Hệ số beta là một tham số quan trọng trong mô hình định giá tài sản vốn (CAPM). Beta được tính toán dựa trên phân tích hồi quy, và bạn có thể nghĩ về beta giống như khuynh hướng và mức độ phản ứng của chứng khoán đối với sự biến động của thị trường.
Một chứng khoán có beta bằng 1, muốn ám chỉ rằng giá chứng khoán đó sẽ di chuyển cùng bước đi với thị trường. Một chứng khoán có beta nhỏ hơn 1 có nghĩa là chứng khoán đó sẽ có mức thay đổi ít hơn mức thay đổi của thị trường. Và ngược lại, beta lớn hơn 1 sẽ chúng ra biết giá chứng khoán sẽ thay đổi nhiều hơn mức dao động của thị trường.
Nhiều cổ phiếu thuộc các ngành cung cấp dịch vụ công ích có beta nhỏ hơn 1. Ngược lại, hầu hết các cổ phiếu dựa trên kỹ thuật công nghệ cao có beta lớn hơn 1, thể hiện khả năng tạo được một tỷ suất sinh lợi cao hơn, những cũng đồng thời tiềm ẩn rủi ro cao hơn.
Hệ số thanh khoản
Hệ số thanh khoản được tính dựa trên khối lượng giao dịch trung bình 13 tuần của 1 cổ phiếu so với khối lượng đang lưu hành của cổ phiếu đó, và khối lượng giao dịch trung bình 13 tuần của cố phiếu đó so với giao dịch của những cổ phiếu còn khác.
Công thức
A = (Khối lượng giao dịch trung bình 13 tuần)/khối lượng đang lưu hành
B = So sách Khối lượng giao dịch trung bình 13 tuần của tất cả các cổ phiếu và sắp xếp theo thứ tự tăng dần.
Hệ số thanh khoản = (A + Bx2)/3Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 08:21 PM.
-
13-10-2009 11:02 PM #47
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
Dải Bollinger (Bollinger Bands)
Giới thiệu
Được John Bollinger phát triển, Bollinger Bands là một công cụ cho phép người sử dụng so sánh độ bất ổn định và các mức giá liên quan theo một khoảng thời gian. Công cụ này bao gồm 03 đường được thiết kế để bao quanh phần lớn hoạt động của giá một cổ phiếu.
- Một đường trung bình ở giữa
- Một đường bên trên (SMA cộng 2 standard deviations)
- Một đường bên dưới (SMA trừ 2 standard deviations)

Sử dụng
Ngoài việc xác định quan hệ giữa các mức giá và độ bất ổn định, đường Bollinger Bands có thể kết hợp với biến động giá và các công cụ khác để đưa ra tín hiệu và dự báo các biến động quan trọng.
Đường giá xuống dải Bollinger dưới: tín hiệu mua được hình thành khi đường giá xuống và chạm dải Bollinger dưới thì khả năng bật lên lại của đường giá sẽ có thể xuất hiện.
Đường giá lên dải Bollinger trên: tín hiệu bán được hình thành khi đường giá lên và chạm dải Bollinger trên thì khả năng bật xuống lại của đường giá sẽ có thể xuất hiện.
Double tín hiệu mua : một tín hiệu Double Bottom Buy được tạo thành khi giá vượt qua đường bollinger dưới và nằm bên trên đường bollinger dưới sau khi tạo tiếp mức giá thấp tiếp theo. Mức giá thấp có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với mức giá thấp trước đó. Điều quan trọng là mức thấp thứ hai phải nằm trên đường bollinger dưới. Giá chuyển sang xu hướng lên được xác định khi giá di chuyển lên trên đường bollinger giữa.
Double tín hiệu bán : Một tín hiệu Double Top Sell được tạo thành khi giá vượt qua đường bollinger trên và đỉnh của đợt tăng giá kế tiếp không vượt qua được đường bollinger trên. Giá chuyển sang xu hướng xuống được xác định khi giá di chuyển xuống bên dưới đường bollinger giữa.
Việc thay đổi giá đột ngột có thể xảy ra sau khi dãy bollinger thu hẹp lại và sự bất ổn định thấp. Trong ví dụ này, đường bollinger không đưa ra bất kỳ tín hiệu nào về xu hướng của giá trong thời gian tới. Xu hướng phải được xác định bằng cách sử dụng các công cụ phân tích kỹ thuật khác. Nhiều cổ phiếu chuyển sang biến động mạnh sau một khoảng thời gian biến động ít. Việc sử dụng đường bollinger có thể xác định mức độ biến động dễ dàng bằng quan sát đồ thị. Dãy băng hẹp cho biết thị trường ít biến động và dãy băng rộng cho biết thị trường biến động mạnh. Độ biến động có thể quan trọng với những người chơi “options” bởi vì giá của “options” sẽ rẻ hơn khi độ biến động thấp.
Dải Bollinger thu hẹp: dãy băng bollinger thu hẹp trước khi có biến động mạnh
Kết luận
Mặc dù đường Bollinger có thể giúp tạo các tín hiệu mua và bán, nhưng đường bollinger không được thiết kế để xác định xu hướng trong tương lai. Đường Bollinger được thiết kế để bổ sung cho việc phân tích kỹ thuật và các công cụ khác. Bản thân đường Bollinger đáp ứng 02 chức năng chính :
- Xác định các khoảng thời gian độ biến động cao hoặc thấp
- Xác định các khoảng thời gian giá đang ở mức kháng cự hay hỗ trợ.
Hãy nhớ rằng tín hiệu mua và bán không được đưa ra khi giá chạm đường bollinger trên và dưới. Các mức này chỉ cho biết giá đang ở mức cao hoặc thấp trên một nền tảng tương đối.Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 08:22 PM.
-
13-10-2009 11:05 PM #48
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
Đường trung bình (Moving Averages)
Một đường trung bình là cách làm phẳng hoạt động biến động giá theo thời gian. Nghĩa là bạn lấy giá trị trung bình của giá đóng trong một khoảng thời gian “x”.

Giống như mọi công cụ, nó được sử dụng để hỗ trợ chúng ta tiên đoán giá trong tương lai. Nhìn vào độ dốc của đường trung bình bạn có thể đoán giá sẽ biến đổi như thế nào.
Như tôi đã nói, đường trung bình làm phẳng hoạt động của giá. Có nhiều kiểu đường trung bình khác nhau, và mỗi kiểu có các mức làm phẳng riêng. Nói chung, đường trung bình phẳng hơn thì phản ánh sự biến động giá chậm hơn. Đường trung bình nhấp nhô hơn thì phản ánh sự biến động giá nhanh hơn.
5.1 Đường trung bình đơn giản (Simple Moving Average - SMA)
Một đường trung bình đơn giản là kiểu đường trung bình đơn giản nhất. Một cách cơ bản, một đường trung bình đơn giản được tính bằng cách tính tổng các giá đóng trong số khoảng thời gian “x” và chia cho “x”. Có lầm lẫn không? Cho phép tôi giải thích. Nếu bạn vẽ một đường trung bình đơn giản cho số khoảng thời gian là 5 trên một biểu đồ 1 giờ, bạn sẽ cộng giá đóng của 5 giờ và chia cho 5 và như vậy bạn có một đường trung bình đơn giản.
Nếu bạn vẽ đường trung bình đơn giản cho khoảng thời gian là 5 trên một biểu đồ 10 phút, bạn sẽ cộng giá đóng của 50 phút và sau đó chia cho 5.
Hầu hết các công cụ vẽ đồ thị sẽ thực hiện tất cả việc tính toán cho bạn. Chúng ta phải biết cách tính toán một đường trung bình đơn giản bởi vì điều này quan trọng để bạn hiểu các một đường trung bình được tính toán. Nếu bạn hiểu cách mỗi đường trung bình được tính toán, bạn có thể đưa ra quyết định của riêng bạn nên chọn kiểu nào thì tốt hơn.
Giống như bất kỳ công cụ khác, các đường trung bình hoạt động như một bộ delay (làm trễ). Bởi vì bạn đang lấy giá trị trung bình của giá, bạn thực sự chỉ đang xem dự báo giá tương lai và không phải là một cái nhìn chắc chắn của tương lai.

Đây là một ví dụ về cách các đường trung bình làm phẳng hoạt động giá cả. Trên đồ thị trên, bạn có thể thấy 03 đường SMA khác nhau. Như bạn nhìn thấy, đường SMA cho khoảng thời gian dài hơn là đường chậm trễ hơn so với giá. Chú ý rằng đường 62SMA cách xa hơn giá hiện thời so với các đường 30 và 5 SMA. Bởi vì với đường 62 SMA bạn tính tổng giá đóng của 62 khoảng thời gian và chia cho 62. Việc bạn sử dụng số khoảng thời gian cao hơn làm việc phản ánh sự biến động giá chậm hơn.
Đường SMA trong đồ thị này hiển thị cho bạn cảm nhận chung về thị trường theo thời gian. Thay vì chỉ nhìn vào giá hiện tại của thị trường, đường trung bình cho chúng ta một các nhìn rộng hơn và chúng ta có thể đưa ra dự đoán giá tương lai.
5.2 Đường trung bình lũy thừa (Exponential Moving Average - EMA)
Mặc dù đường SMA là một công cụ tuyệt vời nhưng có một điểm khuyết lớn. Đừơng SMA rất dễ bị vô hiệu hóa. Hãy để tôi đưa một ví dụ về điều này :
Chúng ta vẽ một đường SMA với thời gian là 5 trên đồ thị ngày của EUR/USD và các giá đóng của 5 ngày vừa qua như sau :
Day 1: 1.2345
Day 2: 1.2350
Day 3: 1.2360
Day 4: 1.2365
Day 5: 1.2370
Đường SMA sẽ được tính như sau :
(1.2345+1.2350+1.2360+1.2365+1.2370)/5= 1.2358
Đủ chính xác không? việc gì nếu giá ngày thứ 2 là 1.2300? Kết quả của đường SMA sẽ thấp hơn một ít và điều này mang đến cho bạn ý nghĩ giá đang đi xuống, trong khi đó thực tế ngày 2 có thể chỉ là một sự kiện tại một thời gian.
Với điều này, tôi đang cố gắng nói rằng đôi khi đường SMA có thể quá đơn giản. Nếu có một cách khác để bạn có thể loại bỏ xung nhọn để bạn sẽ không sai lầm. Có một cách, nó được gọi là đường trung bình lũy thừa (EMA)
Đường EMA chịu ảnh hưởng nhiều hơn đối với các khoảng thời gian mới nhất. Trong ví dụ trên, đường EMA sẽ đặt nặng vào ngày 3 đến ngày 5, nghĩa là xung nhọn của ngày 2 sẽ ít giá trị hơn và sẽ không ảnh hưởng đường trung bình nhiều. Đường EMA chú trọng hơn vào hành động hiện giờ của những người giao dịch.

Khi giao dịch, nhìn xem những người giao dịch đang làm gì quan trọng hơn là xem họ đã làm gì trong tuần qua hoặc tháng qua.
5.3 Cái nào tốt hơn : SMA hay EMA?
Trước tiên hãy bắt đầu với một đường EMA. Khi bạn muốn một đường trung bình phản ánh hoạt động giá nhanh hơn thì một đường EMA với số khoảng thời gian ngắn là cách tốt nhất. Điều này có thể giúp bạn nắm bắt xu hướng giá rất sớm và kết quả là lợi nhuận cao hơn.
Thực vậy, bạn nắm bắt một xu hướng sớm hơn, bạn có thể giao dịch trên xu hướng đó dài hơn và thu vào nhiều lợi nhuận! Mặt trái đối với một đường trung bình biến động nhấp nhô là bạn có thể bị đánh lừa, bởi vì đường trung bình phản ánh quá nhanh đối với giá cả và bạn có thể nghĩ rằng một xu hướng mới đang hình thành nhưng thực tế nó có thể chỉ là một xung nhọn.
Với một đường SMA, khi bạn muốn một đường trung bình phẳng hơn và phản ánh chậm hơn hoạt động giá cả, thì một SMA với số khoảng thời gian dài hơn là cách tốt nhất. Mặc dù nó chậm phản ánh hoạt động giá, nó sẽ giúp bạn không bị sai lầm. Mặt trái là nó có thể làm bạn quá chậm và bạn có thể lỡ mất một cơ hội giao dịch tốt.
EMAƯu:Hiển thị một đồ thị loại trừ các dấu hiệu giảBiến động nhanh, tốt để hiển thị các đảo giá vừa xảy raKhuyết:Biến đổi chậm, điều này có thể mang đến các báo hiệu mua hoặc bán trễDễ đưa ra các dấu hiệu giả hơn và đưa ra các báo hiệu sai lầm.Vậy thì cái nào tốt hơn? Thật khó để bạn quyết định. Nhiều người giao dịch vẽ nhiều đường trung bình khác nhau để có một cái nhìn tổng quát. Họ có thể sử dụng đường SMA với số khoảng thời gian dài để tìm xu hướng bao quát và sau đó sử dụng đường EMA với số khoảng thời gian ngắn để xác định thời điểm tốt để giao dịch.
Thực tế, nhiều hệ thống giao dịch được xây dựng dựa trên “Các giao chéo đừơng trung bình”. Sau phần này, chúng ta sẽ xem một ví dụ về cách sử dụng các đường trung bình như là một phần của hệ thống giao dịch.
Tóm tắt:
- Một đừơng trung bình là cách làm phẳng hoạt động giá cả
- Có nhiều kiểu đường trung bình. Hai kiểu thông dụng nhất là SMA và EMA
- SMA là dạng đường trung bình đơn giản nhất, nhưng dễ bị ảnh hưởng (tổn thương) đối với các xung nhọn.
- Đừơng EMA đặt nặng đối với giá mới xảy ra và do đó chỉ cho chúng ta thấy những người giao dịch hiện đang làm gì.
- Biết được những người giao dịch hiện đang làm gì quan trọng hơn là biết họ đã làm gì tuần qua hoặc tháng qua.
- Các đường SMA phẳng hơn so với các đường EMA
- Các đường trung bình với số khoảng thời gian dài hơn thì phẳng hơn so với số khoảng thời gian ngắn
- Các đường trung bình nhấp nhô thì phản ánh hoạt động giá nhanh hơn và có thể nắm bắt các xu hướng sớm. Tuy nhiên, bởi vì chúng phản ánh nhanh nên chúng có thể dễ bị ảnh hưởng đối với các xung và có thể đánh lừa bạn.
- Các đường trung bình phẳng phản ánh hoạt động giá chậm hơn nhưng sẽ giúp bạn tránh các xung và không sai lầm. Tuy nhiên, bởi vì chúng phản ánh chậm nên có thể làm bạn giao dịch chậm và bỏ lỡ các cơ hội tốt.
- Cách tốt nhất để sử dụng các đường trung bình là vẽ nhiều kiểu khác nhau trên một đồ thị để bạn có thể thấy cả biến đổi theo khoảng thời gian dài và biến đổi theo khoảng thời gian ngắn.
Tín hiệu mua: tín hiệu mua xảy ra khi đường ngắn hạn vượt lên đường dài hạn.
- Đường Giá vượt lên đường SMA20
- Đường Giá vượt lên đường SMA50
- Đường SMA20 vượt lên SMA50 (tín hiệu dài hạn xác định xu hướng tăng trong dài hạn)
- Đường Giá vượt lên đường SMA20 và đường SMA20 vượt lên SMA50 (xu hướng tăng giá thể hiện rõ khi 3 đường chạm nhau và hướng lên)

Tín hiệu bán: tín hiệu mua xảy ra khi đường ngắn hạn xuống lên đường dài hạn.- Đường Giá vượt xuống đường SMA20
- Đường Giá vượt xuống đường SMA50
- Đường SMA20 vượt xuống SMA50 (tín hiệu dài hạn xác định xu hướng giảm trong dài hạn)
- Đường Giá vượt xuống đường SMA20 và đường SMA20 vượt xuống SMA50 (xu hướng giảm giá thể hiện rõ khi 3 đường chạm nhau và hướng xuống)

Chú ý: nên bỏ qua những tín hiệu sai (không xác định xu hướng) khi 2 đường chạm nhau lên xuống liên tục.Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 08:23 PM.
-
13-10-2009 11:07 PM #49
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
Biểu đồ hình thành dạng 2 đáy/ 2 đỉnh
Double bottom (Mô hình hai đáy)
Mô hình hai đáy hình thành khi giá tạo thành hai điểm đáy liên tiếp trên cùng một đồ thị. Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá tăng vượt qua điểm bắt đầu hình thành đáy thứ hai (tức là vượt qua đường Neckline sau khi đã chạm đến đáy thứ hai). Mô hình hai đáy là thời kỳ chuyển đổi xu thế giảm giá thành xu thế tăng giá, nó mang tính đảo chiều. Có điều là mô hình này tương đối dễ nhận ra nên cũng rất dễ nhầm do đó nhà đầu tư nên cẩn thận khi quyết định tham gia trong thời kỳ này. Thực tế thống kê cho thấy nếu nhà đầu tư nóng vội tham gia ngay từ đầu thì xác xuất thất bại là 64% còn nếu họ cố gắng đợi đến khi xuất hiện "breakout" (đảo chiều) thật sự thì xác xuất thất bại chỉ còn 3%.
Để có thể nhận diện chính xác mô hình, nhà đầu tư nên chú ý đến một số vấn đề: đáy thứ hai không nên xuống vượt quá đáy thứ nhất; khoảng thời gian giữa hai đáy cũng là một dấu hiệu quan trọng-thời gian càng dài thì độ chính xác càng cao-ít nhất phải là một tháng và có thể kéo dài nhiều tháng.
Double top (Mô hình hai đỉnh)
Mô hình hai đỉnh hình thành khi đường biểu diễn sự biến động của giá vàng hình thành hai đỉnh trên biểu đồ. Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá chứng vàng rơi xuống dưới mức đáy (điểm dưới cùng của đáy) của toàn mô hình. Mô hình hai dỉnh là mô hình thể hiện sự đảo ngược của xu hướng tăng giá vàng– nó đánh dấu quá trình chuẩn bị cho xu hướng đi xuống của xu hướng tăng giá trong hiện tại (nó báo hiệu cho một thị trường giảm giá). Vì đây là mô hình rất hay thường gặp và rất dễ nhận ra nên khi nhận định về thị trường chúng ta nên xem xét một cách cẩn then. Bolkowski ước tính mức thất bại của mô hình này là 65% nếu nhà đầu tư đợi đến mức đột biến giá (Breakout) mới tiến hành giao dịch thì mức rủi ro giảm xuống còn 17%.
Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 08:25 PM.
-
13-10-2009 11:09 PM #50
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
PSAR
PSAR là một chỉ số cho biết rất sớm (rất nhạy) sự xuất hiện của trend. Nhược điểm của nó là chỉ báo up hay down. Nó không thể hiện tình trạng non-trend của thị trường. Tiếc thay, trạng thái này lại chiếm thời lượng khá lớn.
- PSAR đảo chiều vượt dưới đường giá (tín hiệu mua)
- PSAR đảo chiều vượt trên đường giá (tín hiệu bán)

PSAR là một chỉ số cho biết rất sớm (rất nhạy) sự xuất hiện của trend. Nhược điểm của nó là chỉ báo up hay down. Nó không thể hiện tình trạng non-trend của thị trường. Tiếc thay, trạng thái này lại chiếm thời lượng khá lớn.
Vì vậy, đã có rất nhiều bài viết về cách phối hợp ADX cùng với PSAR để sử dụng ưu điểm của cả 2 chỉ số, loại bỏ nhược điểm của cả 2. John Murphy nổi tiếng cũng đã từng gợi ý về cách dùng DMI (ADX, +/-DI) với PSAR. Tuy vậy, việc xác định ranh giới giữa up, down và sideway vẫn còn rất mơ hồ, khó nắm bắt. (ADX và PSAR)

Chúng ta phải luôn bám sát PSAR vì PSAR là nhạy nhất. Nó sẽ cảnh báo sự thay đổi của trend đầu tiên.
Khi PSAR đột ngột đảo chiều, câu hỏi là trend đã thực sự thay đổi chưa? Nếu đã, thì là up (trong trường hợp đang down), down (trong trường hợp đang up) hay sideway? Thường thì sau một trend, thị trường phải sideway, rồi mới chuyển sang trend ngược lại, hoặc tiếp tục trend cũ. Vấn đề là sideway kéo dài bao lâu? Có thể chỉ một vài phiên để retest, khẳng định mốc mới; có thể là lâu hơn.
Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 09:00 PM.
-
13-10-2009 11:11 PM #51
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
KQKD Q3 khả quan với nhiều DN lợi nhuận vượt kỳ vọng nâng bước VNI vượt 600
Đặc điểm chung của các phương pháp đầu tư CK
Tâm lý: Giữ tinh thần vững vàng, quyết định đầu tư không bị chi phối bởi tình cảm, không bị chi phối, ảnh hưởng bởi tâm lý của đám đông hay nói cách khác, phải có cái đầu lạnh với những diễn biến của thị trường.
Lựa chọn CP: Các tiêu chí về một DN tốt luôn được đưa ra như khả năng tăng trưởng mạnh, ngành nghề hoạt động có nhiều tiềm năng phát triểDÃY SỐ FIBONACCI - XÁC ĐỊNH MỨC KHÁNG CỰ / HỖ TRỢ
Dãy số nổi tiếng của Fibonacci đã được ứng dụng phổ biến trong việc kinh doanh tài chính. Fibonacci là công cụ sử dụng những tỷ lệ đặc biệt xảy ra trong tự nhiên để giúp chúng ta dự báo hay đoán trước được các điểm hỗ trợ hay kháng cự.
Dãy Fibonacci xuất hiện ở khắp nơi trong thiên nhiên. Những chiếc lá trên một nhành cây mọc cách nhau những khoảng tương ứng với dãy số Fibonacci. Các số Fibonacci xuất hiện trong những bông hoa. Hầu hết các bông hoa có số cánh hoa là một trong các số: 3,5,8,13,21,34,55 hoặc 89. Hoa loa kèn có 3 cánh, hoa mao lương vàng có 5 cánh, hoa phi yến thường có 8 cánh, hoa vạn cúc thọ có 13 cánh, hoa cúc tây có 21 cánh, hoa cúc thường có 34, hoặc 55 hoặc 89 cánh. Các số Fibonacci cũng xuất hiện trong các bông hoa hướng duơng. Những nụ nhỏ sẽ kết thành hạt ở đầu bông hoa hướng dương được xếp thành hai tập các đường xoắn ốc: một tập cuộn theo chiều kim đồng hộ, còn tập kia cuộn ngược theo chiều kim đồng hồ. Số các đường xoắn ốc hướng thuận chiều kim đồng hồ thường là 34 còn ngược chiều kim đồng hồ là 55. Đôi khi các số này là 55 và 89, và thậm chí là 89 và 144. Tất ca các số này đều là các số Fibonacci kết tiếp nhau( tỷ số của chúng tiến tới tỷ số vàng).
Ứng dụng trên biểu đồ.
Thông thường 1 cổ phiếu lên hoặc xuống sẽ dừng lại tại những mức hỗ trợ hoặc kháng cự 0%, 23.6%, 38.2, 50%, 61.8%, 100%...
Mức kháng cự là mức kỳ vọng giá cổ phiếu sẽ đặt đến. Ví dụ giá cổ phiếu STB hiện tại đang là 30 thì mức kháng cự kế tiếp cổ phiếu tăng là 35, nếu vượt qua mức 35 thì mức kháng cự kế tiếp là 40...
Mực hỗ trợ là mức là kỳ vọng giá cổ phiếu sẽ không giảm qua mức này. Ví dụ giá cổ phiếu STB hiện tại là 30 thì mức hỗ trợ để cổ phiếu giảm dừng lại ở 25.
Xác định mức độ hỗ trợ/kháng cự CÁC MỨC GIẢM % sau khi đã đạt mức ĐỈNH.
Sau khi xác định được mức ĐÁY và ĐỈNH trong 1 khoảng thời gian, DÃY FIBONACCI sẽ xuất hiện tương ứng với các vị trí hỗ trợ, kháng cự 23.6%, 38.2, 61.8%, 50%...
Ví dụ cổ phiếu STB sau khi đã xác định Đáy ngày 20/02/2009 (giá 10.4) Đỉnh 12/06/2009 (giá 32.6) dãy fibonacci sẽ xuất hiện những % hỗ trợ và kháng cự tương ứng với Đáy và Đỉnh đã chọn.
Sau khi xác định đỉnh cổ phiếu STB rớt hiệu mức hỗ trợ 23.6% và bật lên trên mức đỉnh cũ. Đến ngày 20/11/2009 STB vượt xuống mức hỗ trợ 23.6% khi đó mức hỗ trợ tiếp theo là 38.2% và mức 23.6% trở thành mức kháng cự.

Xác định mức độ hỗ trợ/kháng cự CÁC MỨC TĂNG % sau khi đã đạt mức ĐÁY.
Sau khi xác định được mức ĐỈNH và ĐÁY trong 1 khoảng thời gian, DÃY FIBONACCI sẽ xuất hiện tương ứng với các vị trí hỗ trợ, kháng cự 0%, 23.6%, 38.2, 50%, 61.8%, 100%...
Ví dụ cổ phiếu ITA sau khi đã xác định Đỉnh 100%( giá 53) và Đáy ngày 0% (giá 9.6) dãy fibonacci sẽ xuất hiện những đường % hỗ trợ và kháng cự tương ứng với Đáy và Đỉnh đã chọn.
ITA sau khi đã vượt mức kháng cự 61.8% (giá 36.4) thì mức kỳ vọng kết tiếp sẽ vượt đến mức kháng cự 100%.

Kết Luận:
- Fibonacci chỉ ra những mức hỗ trợ và kháng cự giúp xác định rõ hơn mức tăng hoặc giảm kế tiếp.
- Mức kháng cự sẽ trở thành mức hỗ trợ khi đường giá vượt lên mức kháng cự đó.
- Mức hỗ trợ sẽ trở thành mức kháng cự khi đường giá vượt xuống mức hỗ trợ đó.
- Chúng ta nên giao dịch tại những mức hỗ trợ/ kháng cự của Fibonacci
Cách thức đầu tư: Các nhà chiến thuật không có sự thống nhất về cách thức đầu tư (mua - bán) mà chia thành hai nhóm rõ rệt:
1). Năng động trong mua bán để tận dụng lãi biên dù nhỏ nhất mà cơ hội thị trường tạo ra.
2). Lựa chọn CP tốt để mua và đón chờ giá trị tương lai rất lớn mà DN có thể tạo ra.
Chỉ báo của thị trường, của CP: Đây cũng là một trong các chỉ tiêu hình thành chiến lược đầu tư. Các NĐT dài hạn thường nhìn về các chỉ tiêu của DN như EPS, ROE, ROA và các chỉ số như PE, PEG, P/BV...; trong khi đó, các NĐT ngắn hạn, những người luôn tìm cách "lướt sóng" thì sự chuyển động của giá CP, số lượng giao dịch mới là điều cần quan tâm.
Quản lý rủi ro: Cũng chia thành hai trường phái chính là "ngại rủi ro" và "chống chọi với rủi ro". Trường phái "ngại rủi ro" thiên về xu hướng đa dạng hoá danh mục đầu tư vào các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, nhằm đảm bảo lợi nhuận mục tiêu trên cơ sở mức rủi ro chấp nhận được. Trường phái "chống chọi với rủi ro" chủ trương thị trường như chiến trường, sẵn sàng "ra trận" và thu về những chiến lợi phẩm tốt nhất.
Cơ hội vẫn chia đều
Thị trường đang xuất hiện rất nhiều các điều kiện mà NĐT - dù không thiên về một trường phái đầu tư nào - đều có thể áp dụng.
Thứ nhất: Đối với những người chuyên đầu cơ, lướt sóng thì rõ ràng vẫn có những đợt sóng "đẹp" và "đủ cao" để lướt như trường hợp của KDC liên tục dao động trong phạm vi giá từ 220 -250 ngàn đồng/CP; hay như trường hợp HAP, UNI và nhiều trường hợp khác (BBT, LAF, IMP, DHG...) với những bước sóng lên tới nhiều lần 5% thì việc "tiên đoán" và chộp lấy cơ hội đầu tư có thể đem lại lợi nhuận khá cao trong điều kiện thị trường chưa có chuyển biến mạnh.
Thứ hai: Đối với những NĐT nhỏ lẻ thì vẫn còn rất nhiều cơ hội với các CP có đặc điểm chung:
1) DN hoạt động tốt và đang đà tăng trưởng
2) Các chỉ số tài chính đều rất đẹp như ROE>=20%; Div >=10%; EPS từ 40-70% mệnh giá; g>=25%/năm; PE<=20... Lựa chọn đúng các cơ hội đầu tư sẽ đem lại cho NĐT nhỏ những khoản lãi lớn trong tương lai.
Thứ ba: Đối với những NĐT chuyên nghiệp, rõ ràng giai đoạn này là một giai đoạn tốt để giải ngân do:
1) Hàng hóa tốt và rẻ tương đối được bán với khối lượng lớn do nhiều lý do khác nhau như: Trả nợ; giảm lỗ (cut loss); ghi nhận lợi nhuận thực; cơ cấu lại danh mục đầu tư...
2) Nguồn vốn tập trung sau một thời gian huy động từ cổ đông, người uỷ thác và các nguồn vốn huy động khác.
3) TTCK sẽ "đến hẹn lại lên" khi các DN đã đi hết 1/2 quãng đường của năm 2007 với kết quả kinh doanh khả quan.
4) Lợi thế của người đi trước hay "trâu chậm uống nước đục" (First come first serve)...
Do vậy, có thể khẳng định cơ hội vẫn còn rất tiềm năng và việc lựa chọn đúng chiến lược đầu tư phù hợp với hoàn cảnh thị trường hiện nay sẽ đem lại cho các NĐT những khoản lợi nhuận lớn trong thời gian tới, khi mà dòng vốn đầu tư vào được khơi thông đối với NĐTTN cũng như nước ngoài.Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 08:26 PM.
-
13-10-2009 11:12 PM #52
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
KQKD Q3 khả quan với nhiều DN lợi nhuận vượt kỳ vọng nâng bước VNI vượt 600
Phương pháp tiếp cận CK từ trên xuống
Với phương pháp này, nhà đầu tư chuyên nghiệp sẽ có sự phân tích vĩ mô từ bức tranh kinh tế tổng thể của thế giới, khu vực và lựa chọn những quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế nhanh, chính trị ổn định... Sau đó đánh giá xu thế của thị trường chứng khoán thông qua các chỉ số tiêu biểu trên biểu đồ dài hạn, như ở Việt Nam là VN-Index... Xu thế thị trường tăng giá sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư hơn cả.
Tiếp theo là phân tích sâu về nền kinh tế: Lãi suất, lạm phát và tỉ lệ thất nghiệp... Trong đó, việc tìm ra những ngành có tốc độ phát triển cao của nền kinh tế giúp nhà đầu tư tập trung thời gian và công sức vào mục tiêu hơn. Trong điều kiện kinh tế Việt Nam hiện nay, một số ngành được coi là có nhiều tiềm năng phát triển cao hơn như tài chính ngân hàng (45%/năm), bất động sản, thủy sản, dầu khí, dược...
Bước cuối cùng, chính là việc giới hạn sự quan tâm vào ngành đã chọn, tìm kiếm những công ty hoạt động tốt trong ngành và tiến hành những phân tích cơ bản. Những tiêu chí vẫn được các nhà đầu tư quan tâm nhiều là tốc độ tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận, tỉ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỉ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và một số chỉ tiêu đặc thù tuỳ theo ngành.
Cần phải lưu ý rằng giữa điều kiện kinh tế và các chỉ số chứng khoán không phải bao giờ cũng trùng khớp với nhau, theo kinh nghiệm thì thị trường chứng khoán thường đi trước nền kinh tế, tức là nó mang tính dự báo. Do đó việc phân tích các hệ số giá/thu nhập (P/E), hệ số giá/doanh thu (P/S), cổ tức/giá (Dividend Yield) so với quá khứ giúp nhà đầu tư đánh giá được phần nào thị trường đang mua hay bán quá mức.
Nếu đánh giá tổng quan về thị trường cổ phiếu là tốt thì nhà đầu tư nên dành phần lớn tài sản của mình cho thị trường này, nếu không thì có chiến lược phân bổ tài sản hợp lý vào những công cụ có thu nhập ổn định (trái phiếu) hay thị trường tiền tệ.
Phương pháp tiếp cận CK từ dưới lên
Phương pháp này, ngược lại, gần như bỏ qua các điều kiện kinh tế vĩ mô và ngành, chỉ chú trọng tới việc tìm kiếm doanh nghiệp hoạt động tốt. Phương pháp này dựa trên quan điểm cho rằng bất kỳ ngành nào, kể cả đang trong chu kỳ suy thoái hay kém hoạt động đều có những doanh nghiệp tốt nhất. Các nhà đầu tư sẽ tiến hành so sánh các chỉ tiêu cơ bản của các công ty dựa trên những báo cáo tài chính để lựa chọn một công ty tốt.
Những chỉ tiêu cần đánh giá:
1) Quy mô thị trường tiềm năng - là chỉ tiêu khó đánh giá và hiện còn thiếu thông tin thống kê, tuy nhiên cố gắng nắm bắt được thị trường tiềm năng cho sản phẩm dịch vụ sẽ giúp chúng ta có ước tính được về lợi nhuận của công ty.
2) Doanh thu và lợi nhuận cao - hiện tại và tiềm năng.
3) Bảng cân đối kế toán "sạch" - thể hiện được hiệu quả quản lý và sử dụng vốn một cách đáng tin cậy, những công ty nợ nần chồng chất và quản lý dòng tiền kém sẽ bị loại ra.
4) Dòng tiền - dòng tiền tự do nhiều thể hiện khả năng tự tài trợ cho các hoạt động của mình mà không phải tăng nợ hay cũng chính là tiền đề tăng cổ tức chi trả trong tương lai.
5) Thị phần - những công ty tốt liên tục tăng thị phần và mở rộng sang cả những thị trường mới với tốc độ tăng trưởng vững chắc.
Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 03:00 PM.
-
13-10-2009 11:14 PM #53
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
KQKD Q3 khả quan với nhiều DN lợi nhuận vượt kỳ vọng nâng bước VNI vượt 600
RSI CHỈ SỐ SỨC MẠNH TƯƠNG ĐỐI RELATIVE STRENGTH INDEX
Biểu đồ chỉ số RSI (Relative Strength Indicator) - Sức mạnh tương đối
Chỉ số RSI dùng để đo sức mạnh hoặc độ yếu tương đối của một loại chứng khoán khi nó tự so sánh với chính nó trong một khoảng thời gian nhất định (thường dùng là 14 ngày). RSI là một công cụ đo dao động (oscillator) có biên trên và biên dưới dao động 0-100 (Phần dưới cùng của biểu đồ trên: RSI – 14 ngày). Đường trung bình nằm giữa màu xám 50. Biểu đồ RSI có các đường chính đáng chú ý sau:
Đường 50 ở giữa, là một dấu hiệu nhận biết chứng khoán sắp tăng giá hay giảm giá. Nếu đường RSI tăng vượt qua đường này, đó là dấu hiệu giá của loại chứng khoán đó có kỳ vọng tăng giá (Bullish). Ngược lại, nếu đường RSI giảm xuống dưới đường này, đó là dấu hiệu giá của loại chứng khoán đó có kỳ vọng giảm giá (Bearish).
Ở đây ta nhấn mạnh là kỳ vọng vì biểu đồ thể hiện quá khứ của cổ phiếu. Khi xác lập xu thế mới sẽ làm cho các nhà đầu tư tin tưởng tăng (hoặc giảm).
Đường 70 phía trên được coi là ngưỡng lỗ mua (overbought) nghĩa là đã mua lỗ quá nhiều so với mức cân bằng của thị trường. Khi đó, nhà đầu tư sẽ bán bớt ra để trở về mức cân bằng làm cho giá giảm xuống). Thường khi đường RSI rớt xuống dưới ngưỡng 70, đó là dấu hiệu giá chứng khoán đó sắp giảm.
Đường 30 ở dưới được coi là ngưỡng lỗ bán (oversold) nghĩa là lượng bán ra quá nhiều làm giá giảm xuống thấp hơn so với giá cân bằng. Nhà đàu tư sẽ mua thêm để đẩy giá lên). Thường khi đường RSI từ dưới lên và vượt ngưỡng 30, đó là dấu hiệu giá chứng khoán đó sắp tăng.

Nguyên tắc mở giao dịch : BUY khi đường RSI cắt xuống dưới 30, hình thành đáy và sau đó quay lên cắt qua 30. Ngược lại, SELL khi đường RSI cắt lên trên 70, tạo thành đỉnh và sau đó quay xuống cắt qua 70.
Ưu điểm : RSI là một công cụ rất tốt để dựa vào đó bạn có thể xác nhận tín hiệu mở giao dịch của bất kỳ hệ thống giao dịch đơn giản hay phức tạp. RSI cho bạn tín hiệu mở giao dịch tốt nhưng cơ hội giao dịch không thường xuyên.
Khuyết điểm : cần phải quan sát theo dõi, vẫn có tín hiệu lỗi. Đề nghị sử dụng cùng các công cụ khác.

RSI vượt xuống 50 xuất hiện mô hình Đỉnh Cầu Vai
Tín hiệu bán khi RSI vượt xuống 50
Tín hiệu mua khi RSI vượt lên 50
Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 08:27 PM.
-
13-10-2009 11:15 PM #54
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
KQKD Q3 khả quan với nhiều DN lợi nhuận vượt kỳ vọng nâng bước VNI vượt 600
10 thành phố giàu nhất thế giới
New York chiếm vị trí đầu bảng về tổng thể. Tính riêng các tiêu chí, thành phố này nhất về kinh tế và khả năng nghiên cứu, nhưng mức sống đứng thứ 8.
London, trung tâm tài chính của thế giới, chiếm vị trí thứ nhì trong bảng xếp hạng.
Kinh đô ánh sáng Paris của Pháp xếp thứ ba.
Thành phố giàu nhất châu Á là Tokyo, đứng thứ tư trên thế giới.
Tiếp theo là Los Angeles của Mỹ.
Thủ đô Brussels của Bỉ đứng thứ 6. Thành phố này là trung tâm chính trị của châu Âu, nơi có trụ sở của Liên
minh
Một thành phố nữa của châu Á là Singapore cũng góp mặt trong top 10 đô thị giàu có nhất. Quốc đảo sư tử nhận vị trí thứ 7.
Berlin đứng thứ 8 trong bảng tổng sắp, nhưng dẫn đầu về mức sống của cư dân.
Thủ đô Trung Quốc - Bắc Kinh - đứng thứ 9.
Cuối cùng trong top 10 là Toronto của Canada.Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 09:18 PM.
-
13-10-2009 11:17 PM #55
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
KQKD Q3 khả quan với nhiều DN lợi nhuận vượt kỳ vọng nâng bước VNI vượt 600
PVF: 9 tháng đầu năm đạt 762 tỷ đồng LNTT, đạt 191% kế hoạch
Chiều nay (12/10), PVFC vừa công bố đạt 762 tỷ đồng LNTT, bằng 191% kế hoạch năm (400 tỷ đồng). Doanh thu đạt 4034 tỷ đồng, bằng 103,4% kế hoạch năm (3900 tỷ đồng).
Tổng tài sản của Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC- mã PVF) tính đến ngày 30/9 là 59.248 tỷ đồng.
Về hoạt động đầu tư ngắn hạn: Tỷ suất lợi nhuận trung bình các khoản giải ngân trong quý III/2009 đạt trên 20%.
Đầu tư dài hạn, tỷ suất lợi nhuận trung bình các khoản giải ngân trong quý III đạt trên 11%. Dịch vụ đầu tư, kết hợp cho vay ngắn hạn với lãi suất trung bình trong quý III/2009 là 12%.
Về công tác tín dụng, dư nợ tính đến ngày 31/09, đạt 27.228 tỷ đồng, đóng góp trên 40% tổng doanh thu. Tỷ lệ cho vay trong ngành dầu khí hơn 50% tổng dư nợ tập trung vào các dự án trọng điểm quốc gia giao cho Tập đoàn dầu khí. 9 tháng đầu năm PVF ký hợp đồng thu xếp vốn trị giá trên 22.000 tỷ đồng cho các dự án Tàu chở dầu PVTrans 150 triệu USD, kho nổi chứa dầu thô FPSO sáo 252 triệu USD, đường ống dẫn khí lô B-Ô môn 500 triệu USD...
Kế hoạch thực hiện quý IV/2009 của PVFC là tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và phấn đấu năm 2009 đạt 5.000 tỷ đồng doanh thu và 1.000 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế.
Ông Tống Quốc Trường, Tổng giám đốc PVFC cho biết, hướng tới 10 năm thành lập (19/6/2000-19/6/2010) PVFC dự kiến giảm phần vốn nhà nước xuống còn 60%; phấn đấu doanh thu tăng trưởng 15% so với thực hiện năm 2009. Tỷ lệ cổ tức từ 12% tới 18%.
Về vấn đề niêm yết cổ phiếu tại Singapore, ông Trường cho biết PVF và đối tác chiến lược Morgan Stanley thực hiện cho việc này. Cổ phiếu PVFC được niêm yết chính thức trên sà Singapore năm 2010. Ngoài ra, Morgan Stanley sẽ tư vấn cụ thể hơn về thời gian niêm yết và giá.
-
13-10-2009 11:18 PM #56
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
KQKD Q3 khả quan với nhiều DN lợi nhuận vượt kỳ vọng nâng bước VNI vượt 600
LGC: Lợi nhuận quý III tăng mạnh từ BĐS
Tính đến đầu tháng 10, LGC đã bán được 102/166 căn (tương đương 61,4%).
Theo tin từ CTCP Cơ khí - Điện Lữ Gia (LGC), 12,86 tỷ đồng lợi nhuận từ việc bán chung cư trong dự án Cao ốc LUGIA Plaza đã được hạch toán trong báo cáo tài chính quý III. Chưa kể đến khoản lợi nhuận từ hoạt động sản xuất - kinh doanh chính, riêng khoản lợi nhuận trên đã bằng 112% tổng lợi nhuận lũy kế của Công ty trong 6 tháng đầu năm.
Tính đến đầu tháng 10, LGC đã bán được 102/166 căn (tương đương 61,4%). Dự kiến, lợi nhuận từ riêng việc bán căn hộ sẽ mang về cho LGC khoảng 120 tỷ đồng, chưa kể đến việc Công ty có thu nhập từ việc khai thác dịch vụ văn phòng và trung tâm thương mại khi cao ốc hoàn thiện.
LGC dự kiến, sẽ phân bổ khoản lợi nhuận này trong khoảng từ 2 - 3 năm. Trong đó, năm 2009, Công ty dự kiến sẽ hạch toán tối thiểu từ 26 - 27 tỷ đồng. Do tình hình thị trường BĐS ấm lại, với các căn hộ chưa bán, LGC đang dự kiến sẽ điều chỉnh tăng giá. Theo thông lệ, vào cuối năm lợi nhuận từ hoạt động sản xuất - kinh doanh chính của LGC sẽ tăng mạnh do các công trình - dự án được nghiệm thu, quyết toán.
-
13-10-2009 11:20 PM #57
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
KQKD Q3 khả quan với nhiều DN lợi nhuận vượt kỳ vọng nâng bước VNI vượt 600
VCS: 9 tháng đạt hơn 69 tỷ đồng lợi nhuận sau thuế
Tính đến hết tháng 9, Công ty cổ phần Đá ốp lát cao cấp Vinaconex (Mã CK: VCS) đã hoàn thành 78% kế hoạch doanh thu và 74% kế hoạch lợi nhuận đã đề ra.
Công ty cổ phần Đá ốp lát cao cấp Vinaconex (Mã CK: VCS) thông báo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh quý III/2009 hợp nhất.
Tính riêng trong quý III, doanh thu của VCS đạt 130,74 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế của công ty đạt 28,43 tỷ đồng trong đó lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ đạt tới 28,35 tỷ đồng.
Lãi cơ bản trên cổ phiếu lưu hành bình quân trong quý III đạt 1.599 đồng. Lũy kế 9 tháng đầu năm, lãi cơ bản trên cổ phiếu đã đạt 4.292 đồng.
Theo báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ của VCS, kết thúc 6 tháng đầu năm, doanh thu của công ty đạt 237,95 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế thu nhập của doanh nghiệp đạt 40,99 tỷ đồng trong đó, lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ là 42,09 tỷ đồng còn lợi nhuận sau thuế của cổ đông thiểu số âm 1,11 tỷ đồng.
Như vậy, tính chung 9 tháng đầu năm 2009, doanh thu và lợi nhuận sau thuế của VCS đã đạt 368,32 tỷ đồng và 69,23 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế của cổ đông công ty mẹ là 70,26 tỷ đồng.
Theo kế hoạch đầu năm 2009, Vinastone sẽ đạt 475 tỷ đồng doanh thu và đạt 93 tỷ đồng lợi nhuận. Như vậy, tính đến hết tháng 9, VCS đã hoàn thành 78% kế hoạch doanh thu và 74% kế hoạch lợi nhuận đã đề ra.
Qúy III/2009, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên nguồn vốn chủ sở hữu của VCS là 7,91%, nợ phảu trả trên tổng nguồn vốn của công ty là 43,48%.
-
13-10-2009 11:21 PM #58
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
KQKD Q3 khả quan với nhiều DN lợi nhuận vượt kỳ vọng nâng bước VNI vượt 600
SD6: Lợi nhuận dự kiến đạt trên 22 tỷ đồng trong 9 tháng
Ước tính, SD6 đạt trên 22 tỷ đồng lợi nhuận trong 9 tháng, bằng khoảng 87% so với kế hoạch cả năm. SD6 đặt kế hoạch lợi nhuận cả năm đạt 25,31 tỷ đồng.
Được biết, CTCP Sông Đà 6 (SD6) đang có kế hoạch phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ? Vậy kế hoạch cụ thể như thế nào?
Đại diện SD6: Đúng là Công ty có kế hoạch phát hành 6 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ 60 tỷ đồng lên 120 tỷ đồng và đang chờ sự chấp thuận của UBCK. Công ty sẽ phát hành theo hình thức bán cho cổ đông hiện hữu với tỷ lệ 1:1. Về giá phát hành, hiện Công ty đang có 3 phương án, Hội đồng quản trị sẽ tiến hành họp vào ngày 15/10 để đưa ra phương án cuối cùng.
Xin được hỏi, kết quả kinh doanh 9 tháng đầu năm 2009 của SD6 có khả quan không? Những dự án mà Công ty đang và sẽ triển khai?
Hiện nay, Công ty vẫn đang làm báo cáo tài chính hợp nhất 9 tháng đầu năm. Nhưng ước tính, SD6 đạt trên 22 tỷ đồng lợi nhuận trong 9 tháng, bằng khoảng 87% so với kế hoạch cả năm. SD6 đặt kế hoạch lợi nhuận cả năm đạt 25,31 tỷ đồng, cổ tức dự kiến trả 18% bằng tiền mặt. Hiện Công ty đang tiến hành bàn giao 2 dự án nhà ở Văn Khê, Hà Đông, Hà Nội.
Ngoài ra, Công ty cũng đang chờ Tổng công ty Sông Đà chấp thuận để triển khai dự án Nam An Khánh, Hà Đông, Hà Nội. Trong những năm tới, Công ty sẽ tập trung thi công một số công trình được Tổng công ty Sông Đà giao, như dự án Thủy điện Sê San 4, Thủy điện Sơn La, Thủy điện Nậm Chiến, Thủy điện Sêkaman 1, Thủy điện Sêkaman 3...
Bên canh đó, Công ty tìm kiếm đầu tư các dự án và liên doanh xây dựng thủy điện có công suất từ 10 – 30 MW ở khu vực miền Bắc, miền Trung và Tây Nguyên. Năm 2010, Công ty dự kiến đạt tổng giá trị sản xuất - kinh doanh 590 tỷ đồng; tổng doanh thu 503 tỷ đồng và lợi nhuận dự kiến đạt 30 tỷ đồng…
-
13-10-2009 11:24 PM #59
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
KQKD Q3 khả quan với nhiều DN lợi nhuận vượt kỳ vọng nâng bước VNI vượt 600
Thứ 3, 13/10/2009, 22:38
Sacombank – SBS được chấp thuận chuyển đổi thành công ty cổ phần
Sacombank – SBS sẽ công bố chính thức phương án cổ phần hóa, quy trình đấu giá,… để tổ chức đấu giá vào tháng 11/2009.
Theo thông tin từ CTCK Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank – SBS), UBCK Nhà nước đã chấp thuận nguyên tắc được chuyển đổi hình thức sở hữu thành CTCP theo công văn số 2152/UBCK –QLKD.
Sau khi hoàn tất đúng quy trình do UBCKNN yêu cầu, Sacombank –SBS sẽ công bố chính thức phương án cổ phần hóa, quy trình đấu giá,… để tổ chức đấu giá vào tháng 11/2009. Các hồ sơ Sacombank – SBS cần hoàn tất gồm: xác nhận ngân hàng hoặc tổ chức kiểm toán về khoản tăng vốn thêm, báo cáo với UBCKNN về kết quả đợt phát hành.
Theo Sacombank – SBS, mục tiêu cổ phần hóa của Công ty nhằm tăng cường năng lực vốn, nâng cao giá trị thương hiệu trên thị trường chứng khoán, vừa tạo cơ hội đầu tư mới cho nhà đầu tư.
Sacombank – SBS hiện là công ty trực thuộc 100% vốn của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (STB).
-
14-10-2009 05:54 PM #60
Gold Member
- Ngày tham gia
- Sep 2009
- Bài viết
- 1,907
- Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi
Thứ 4, 14/10/2009, 17:49
VCG: Liệu có được tăng vốn điều lệ lên 3,000 tỷ đồng?
Những khoản mục quan trọng như chênh lệch tỷ giá, vốn hóa lãi vay cơ bản đã được kiểm toán viên chấp thuận.
Theo Nghị quyết Đại hội cổ đông năm 2009, Tổng Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam - Vinaconex (HNX: VCG) sẽ tăng vốn điều lệ từ 1,850 tỷ đồng lên 3,000 tỷ đồng trong năm nay. Dự kiến số tiền thu được từ đợt phát hành này khoảng 1,132 tỷ đồng.
Mục đích của đợt phát hành là để cơ cấu lại nguồn vốn trung và dài hạn; bổ sung nguồn vốn hoạt động sản xuất kinh doanh; và đầu tư thực hiện một số dự án do VCG làm chủ đầu tư. Việc tăng vốn này gặp trở ngại do BCTC kiểm toán năm 2008 có nhiều khoản mục ngoại trừ. Trước đó, VCG được yêu cầu nộp lại 891 tỷ đồng vốn thặng dư của Nhà nước.
Thu hồi 891 tỷ đồng vốn thặng dư của Nhà nước trong đợt IPO
Theo sau Kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 222/TB-VPCP ngày 29/07/2009, Bộ trưởng Bộ Tài chính đã ban hành Quyết định số 1957/QĐ-BTC yêu cầu VCG nộp toàn bộ số tiền thặng dư thu được từ đợt phát hành thêm cổ phần ra công chúng lần đầu (IPO).
Đến ngày 31/08/2009, VCG đã chuyển về Quỹ hỗ trợ sắp xếp Trung ương toàn bộ số tiền 891 tỷ đồng thặng dư theo yêu cầu của Chính phủ. Việc hoàn trả số vốn thặng dư này được thực hiện đúng thời hạn nhờ sự hỗ trợ từ cổ đông lớn là Tổng công ty Viễn thông Quân đội (Viettel), các cổ đông chiến lược và cả chính từ cổ đông Nhà nước, cũng là cổ đông sáng lập mà đại diện là Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).
Kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 3,000 tỷ đồng
Trước đó, Đại hội cổ đông thường niên năm 2009 của VCG đã phê duyệt phương án chào bán cổ phần tăng vốn điều lệ lên 3,000 tỷ đồng. Theo Nghị quyết ngày 24/4/2009, việc tăng vốn này sẽ được thực hiện qua hai giai đoạn.
Giai đoạn 1: Chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu theo phương thức thực hiện quyền mua, với giá cổ phiếu bằng mệnh giá (10,000 đ/cp).
Tổng số lượng cổ phiếu dự kiến chào bán là 113,195,820 cổ phiếu, tương đương với giá trị theo mệnh giá xấp xỉ 1,132 tỷ đồng.
Giai đoạn 2: Chào bán cổ phiếu cho cán bộ chủ chốt theo hình thức chào bán riêng lẻ, với tổng giá trị theo mệnh giá khoảng 17 tỷ đồng.
Số tiền thu được từ đợt tăng vốn điều lệ này được dùng để cơ cấu lại nguồn vốn trung và dài hạn; bổ sung nguồn vốn hoạt động sản xuất kinh doanh; và đầu tư thực hiện một số dự án do VCG làm chủ đầu tư.
Một số dự án mà VCG đang triển khai bao gồm: dự án khu đô thị mới Bắc An Khánh (Liên danh giữa Vinaconex và Posco E&C Hàn Quốc); dự án công trình cụm nhà ở cao tầng hỗn hợp No5 thuộc Dự án Khu đô thị Đông Nam; Khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính; dự án xây dựng Tòa nhà Vinaconex ở 34 Láng Hạ; dự án xây dựng hệ thống cấp nước Sông Đà - Hà Nội, dự án Xi măng Cẩm Phả, dự án Xi măng Yên Bình (Yên Bái)…
UBCKNN yêu cầu giải trình các khoản mục ngoại trừ
Ngày 14/8/2009, VCG đã nộp hồ sơ xin cấp phép chào bán cổ phiếu ra công chúng để tăng vốn điều lệ từ 1,850 tỷ đồng lên 3,000 tỷ đồng đến Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN).
Tuy vậy, trong Công văn số 1766/UBCK-QLPH, UBCKNN đã yêu cầu có sự giải trình từ phía VCG, vì báo cáo kiểm toán năm 2008 có nhiều khoản mục ngoại trừ, không phù hợp với quy định hiện hành.
Theo quy định tại Thông tư 17/2007/TT-BTC, doanh nghiệp chỉ được tăng vốn khi: “Báo cáo tài chính năm phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán độc lập được chấp thuận. Ý kiến kiểm toán đối với các báo cáo tài chính phải thể hiện chấp nhận toàn bộ. Trường hợp ý kiến kiểm toán là chấp nhận ngoại trừ thì khoản ngoại trừ phải là không trọng yếu và phải có tài liệu giải thích hợp lý về cơ sở ngoại trừ đó".
Theo báo cáo kiểm toán do Công ty Kiểm toán và Định giá Việt Nam (VAE) thực hiện cho năm 2008, còn có nhiều khoản mục ngoại trừ liên quan đến các công ty con và cả công ty mẹ.
Một vài khoản mục ngoại trừ như công nợ phải thu phải trả, vì chưa được đối chiếu được; chi phí trả trước dài hạn và ngắn hạn chưa có những tiêu thức phân bổ chi phí rõ ràng; dự án xi măng Cẩm Phả đã hoàn thành nhưng vẫn vốn hóa lãi vay vào chi phí xây dựng dở dang; khoản lỗ chênh lệch tỷ giá do đánh giá lại các khoản vay dài hạn ngoại tệ không được hạch toán vào chi phí trong kỳ mà treo trên khoản mục Chênh lệch tỷ giá (TK 413)… Trong đó có các khoản mục mang tính trọng yếu, ảnh hưởng lớn đến báo cáo tài chính của VCG.
Vì vậy, điều kiện tối thiểu để UBCKNN đồng ý kế hoạch tăng vốn là các “vấn đề ngoại trừ” trong BCTC hợp nhất năm 2008 phải được giải thích hoặc có hướng giải quyết hợp lý.
Hầu hết các “vấn đề ngoại trừ” trong BCTC năm 2008 được xử lý, khắc phục
VCG sau đó đã làm việc với công ty kiểm toán VAE (đơn vị kiểm toán BCTC hợp nhất năm 2008). Theo công văn VAE gửi cho VCG, cho đến thời điểm hiện tại hầu hết “các vấn đề ngoại trừ” trong BCTC hợp nhất năm 2008 được xử lý, khắc phục.
Tuy vậy, vẫn còn một số ngoại trừ liên quan đến BCTC hợp nhất năm 2008 mà cho đến nay vẫn chưa được khắc phục, xử lý. Đối với vấn đề này, VCG khẳng định các khoản mục ngoại trừ còn tồn tại không ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC hợp nhất năm 2008 của Tổng công ty.
Được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3,000 tỷ đồng?
Những khoản mục quan trọng như chênh lệch tỷ giá, vốn hóa lãi vay cơ bản đã được kiểm toán viên chấp thuận. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều khoản mục chưa có cơ sở rõ ràng nên tiếp tục bị ngoại trừ. Các khoản mục này được đánh giá là không ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC hợp nhất năm 2008 của VCG.
Nếu điều chỉnh các khoản mục này theo ý kiến kiểm toán để được ý kiến chấp nhận toàn bộ, tổng tài sản và nguồn vốn bị điều chỉnh chưa đến 0.4%. Đặc biệt lợi nhuận trước thuế năm 2008 chỉ bị giảm 1.96%, và không ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả hoạt động kinh doanh, phù hợp nội dung quy định trong thông tư số 17/2007/TT-BTC.
Như vậy, với việc đã giải trình về các khoản ngoại trừ trên BCTC hợp nhất năm 2008, rất có thể VCG sẽ được UBCKNN cấp phép chào bán cổ phiếu ra công chúng để tăng vốn điều lệ lên 3,000 tỷ đồng.
Nếu việc chào bán cổ phiếu để tăng vốn được chấp thuận, vấn đề đáng quan tâm trong thời gian sắp tới có lẽ là nguồn vốn kinh doanh của VCG. Như đã đề cập ở trên, các cổ đông lớn đã hỗ trợ VCG trong việc trả lại 891 tỷ đồng vốn thặng dư của Nhà nước trong đợt IPO trước đây.
Có thể suy đoán rằng khoản tiền hỗ trợ này sẽ được cấn trừ trong đợt phát hành tăng vốn dự kiến sắp tới. Như vậy, số tiền thu được thực sự sau đợt tăng vốn này có thể chỉ còn lại khoảng 241 tỷ đồng.
Liệu VCG có thể thu xếp được dòng tiền để cơ cấu lại nguồn vốn trung và dài hạn, bổ sung nguồn vốn hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư thực hiện một số dự án như mục tiêu ban đầu đề ra trong Nghị quyết Đại hội cổ đông hay không??
Trước đó, vào ngày 01/09/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo xử lý sau thanh tra việc cổ phần hóa Vinaconex.
Các khoản mục có liên quan bao gồm: tiền lãi do sử dụng các khoản tiền chưa nộp; giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích do Vinaconex xây dựng vi phạm quy hoạch; giá trị quyền phát triển dự án Khu đô thị Bắc An Khánh; giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được giao thực hiện dự án Khu đô thị mới Trung Hòa - Nhân Chính và giá trị tài sản tầng 1 các chung cư cao tầng khi xác định giá trị doanh nghiệp để CPH...; rà soát lại danh sách các nhà đầu tư chiến lược, trường hợp không đủ điều kiện thì sẽ hủy bỏ.
Thông tin của chủ đề
Users Browsing this Thread
Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)




Bookmarks