Ai xả hàng? Ai gom hàng?
  • Thông báo


    Đóng Chủ đề
    Trang 2 của 239 Đầu tiênĐầu tiên 1 2 3 4 12 52 102 ... CuốiCuối
    Kết quả 21 đến 40 của 4766
    1. #21
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      Thế giới "cá mập" chứng khoán - Bài 4: Cần một “bàn tay sắt”!

      Với các ưu đãi đặc biệt, “cá mập” chứng khoán đã dùng “quyền lực đen” để thao túng giá cổ phiếu. Gây bức xúc cho hầu hết mọi người. Thị trường đang cần một “bàn tay sắt” để dẹp nạn này.

      Sân chơi thiếu bình đẳng

      Theo tiết lộ của một CTCK, phí môi giới của một “cá mập” cao ngất ngưởng. Có những “cá mập” mang lại 500 triệu đồng phí/tháng, cá biệt có người lên tới cả tỉ đồng. Nhờ có họ, các CTCK mới lãi to. Đó là lý do, các CTCK này luôn dành cho “cá mập” những ưu đãi đặc biệt.
      Chủ tịch HĐQT một CTCK tại Hà Nội nhận xét, do thị trường thiếu các công cụ để bán khống nên có những thời điểm bị các đại gia chứng khoán lũng đoạn, làm cho thị trường phát triển không lành mạnh. Các đặc quyền mà CTCK dành cho nhà đầu tư (NĐT) lớn đã tạo nên một sân chơi bất bình đẳng. Lãnh đạo cấp cao của CTCK Bảo Việt nói thẳng: "Khi cho đặt lệnh thiếu tiền, CTCK đã cho NĐT lớn "mượn" tiền của các NĐT nhỏ hơn. Khi cho bán T+1, T+2, T+3, CTCK đã giúp "cá lớn nuốt cá bé" vì đại gia thì chạy được sớm hơn tiểu gia". Ông này bình luận: "Thị trường đang bị các "cá mập" chứng khoán làm loạn khiến cho CTCK làm đúng quy định bị mất thị phần, NĐT nhỏ bị chèn ép. Nếu thanh tra của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước không mạnh tay thì thị trường sẽ không thể phát triển lành mạnh được".

      Đại diện CTCK Bản Việt thì nói: "Ưu đãi với các khách VIP ở mức vừa phải thì được, nhưng ưu đãi quá mức như cách một số CTCK đang làm sẽ tạo rủi ro lớn cho thị trường chứng khoán. Nếu các hành vi "ưu đãi quá mức" không được cơ quan quản lý chấn chỉnh, nó sẽ lan tràn như một "dịch bệnh" tới khắp các CTCK còn lại. "Vào lúc thị trường khủng hoảng những cái gọi là "ưu đãi dành cho khách VIP" chính là những liều thuốc độc đối với thị trường", ông này bình luận.
      Nhưng bức xúc nhất chính là các NĐT bình thường. Anh Nguyễn Hoàng Long, một NĐT tại Hà Nội kể, lúc thị trường lên, anh đặt lệnh mua liên tục nhưng không khớp, còn khi thị trường xuống mạnh thì bán mãi không được. Chỉ có khách VIP là chạy được nhanh do được bán T+1, T+2, T+3. Điều này thật quá bất công đối với các NĐT bình thường.
      Rất giận dữ, chị Lê Thị Hương, một NĐT khác nói: "TTCK lẽ ra phải là một nơi minh bạch và đem lại cơ hội công bằng cho những người tham gia nhưng hiện nay bị "cá mập" thao túng. Nếu cứ để tình trạng này tiếp diễn thì các NĐT chứng khoán nhỏ, đặc biệt là các NĐT mới sẽ bị nhụt chí".

      Khó xử lý?

      Trao đổi với Thanh Niên, một lãnh đạo có trách nhiệm của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) tâm sự: "Chúng tôi không phải là không biết có hiện tượng làm giá, thao túng đối với một số loại cổ phiếu và hiện tượng một số nơi có thông tin nội gián. Tuy nhiên, làm thế nào để có thể thanh tra và đưa ra kết luận một cách hợp lý và có chứng cứ theo quy định một cách rõ ràng, để xử lý, phạt tiền, công khai lên báo, đài để răn đe lại không phải là chuyện dễ dàng". Ông này phân tích, việc chứng minh một nhóm người thao túng giá cổ phiếu là cực khó bởi họ đều lấy lý do là thấy cổ phiếu đó tốt nên cứ đặt lệnh mua liên tục chứ không làm sai quy định...
      Một chuyên viên giám sát thị trường thuộc Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội cũng cho rằng, về mặt hiện tượng thì có thể đưa ra nhận định là một số tài khoản đang làm giá một loại cổ phiếu nào đó nhưng về mặt chứng cứ luật pháp thì “không thể kết luận như vậy được”.
      Tuy nhiên, một vị lãnh đạo cấp cao thuộc bộ phận Thanh tra của UBCKNN đưa ra quan điểm khác. Ông nói: "Thực chất thì vẫn có thể làm điểm một vài vụ để làm gương, răn đe các trường hợp thao túng giá. Tuy nhiên, việc thực hiện sẽ rất mất công và phải vạch kế hoạch kỹ, nếu không cả NĐT lẫn CTCK đều chối được thì sẽ chẳng ra làm sao".
      Ông này tiết lộ: trước đây, vụ một NĐT cỡ bự tại CTCK Sài Gòn thao túng giá của VF1 bị Thanh tra UBCKNN phát hiện. Thanh tra đã phạt tới 160 triệu đồng rồi công khai lên báo. Động thái này đã góp phần làm giảm bớt việc thao túng giá của các loại chứng khoán khác.

      "Cá mập bọc thép": Họ giữ vị trí quan trọng trong các công ty niêm yết, liên kết với các môi giới của CTCK để làm giá cổ phiếu. "Cá mập bọc thép" có lợi thế về thông tin nội bộ mà những NĐT khác không thể có. Thêm vào đó, tên của họ không bao giờ xuất hiện trong các giao dịch mua bán cổ phiếu tại các thời điểm nhạy cảm trên thị trường. Và điều quan trọng nhất, "cá mập bọc thép" luôn là người chiến thắng: "xả hàng" kịp thời trước khi giá tụt dốc.


      Last edited by VN1000; 20-03-2010 at 10:13 AM.

    2. Những thành viên sau đã cám ơn :

    3. #22
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      Xu hướng đầu tư mới: Vừa lướt sóng, vừa đầu tư giá trị



      Lướt sóng hay đầu tư giá trị cũng nhắm tới cái gọi là mức lợi nhuận kỳ vọng.
      Khi mà TT vẫn còn ưa chuộng đầu tư theo tin đồn và có cơ hội cho tin đồn, thì xem ra, trường phái dung hòa vừa lướt sóng vừa đầu tư giá trị sẽ được mở rộng.

      Cách đây 1 tháng, có thông tin trên thị trường về việc CTCP Cơ điện lạnh (REE) sẽ chia cổ phiếu thưởng theo tỷ lệ 1:1. Tuy nhiên, REE có tiếng là minh bạch thông tin, nên tin đồn ở mức nhẹ nhàng này không đủ để giá cổ phiếu REE “chạy”, dù nhìn trên bản báo cáo tài chính, thặng dư vốn của REE đủ để chia 1:1.
      Cũng 1 tháng trước đây, trên thị trường có thông tin CTCP Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Thạnh (GIL) chia thưởng 1:1, khiến cổ phiếu tăng giá từ 33.000 đồng/CP lên gần 39.000 đồng/CP, với khối lượng giao dịch tăng khá mạnh so với mức trung bình của thời gian trước đó.

      Điển hình nhất trong các cổ phiếu “đánh” theo tin đồn thời gian gần đây là cổ phiếu KDC. Thông tin KDC bán đất hạch toán lợi nhuận, hay chia cổ phiếu 20% được giới thạo tin tận dụng tạo “sóng” khá ngoạn mục, đưa giá cổ phiếu KDC từ 62.000 đồng/CP lên 72.000 đồng/CP. Giá cổ phiếu ITA của Tập đoàn Tân Tạo cũng vừa thiết lập mức giá đỉnh 40.200 đồng/CP vào ngày 15/3 khi có thông tin trả cổ tức và chia cổ phiếu, tổng cộng 70% trong năm 2010.

      Nhìn vào khối lượng giao dịch những cổ phiếu bị “làm giá” theo tin chia thưởng cổ phiếu có thể nhận thấy một đặc điểm chung là, trước khi giá các cổ phiếu này bắt đầu tăng mạnh thì khối lượng giao dịch đã tăng lên tương đối, do có một bộ phận NĐT nắm bắt được thông tin mua gom dần dần. Sau đó, thông tin được truyền lan rộng, các nhóm “đánh sóng”, “làm giá” bắt đầu vào cuộc với lượng đặt mua lớn, đẩy giá các cổ phiếu có tin đồn tăng cao.

      Theo ông Phạm Thành Thái Lĩnh, Trưởng phòng nghiên cứu thị trường và đầu tư, CTCK Bảo Việt, trong năm nay, rất nhiều DN có kế hoạch tăng vốn bằng cách chia thưởng cổ phiếu, phát hành cổ phiếu mới. NĐT rất thích những thông tin như thế và đây là lý do để thị trường “không có lý do để đi xuống”.
      Trong thời điểm hiện nay, nhiều DN có kế hoạch chia thưởng cổ phiếu đồng nghĩa với việc thị trường sẽ có nhiều tin đồn, nhất là khi không ít DN bắt đầu xây dựng kế hoạch chia thưởng cổ phiếu trình ĐHCĐ.
      Một NĐT chuyên “đánh” cổ phiếu theo tin đồn ở sàn chứng khoán Thăng Long cho biết: “Tính xác thực của thông tin có thể được kiểm chứng từ nhiều nguồn khác nhau, như từ cổ đông nội bộ công ty niêm yết, từ CTCK tư vấn kế hoạch phát hành. Nhưng nhiều khi chỉ cần có nhiều NĐT lớn mua vào thì mua theo để lướt sóng”.
      “Đánh cổ phiếu kiểu này lời thì nhanh, nhưng lỗ cũng nặng”, NĐT này nói. Nguyên nhân là trong điều kiện hiện nay của TTCK, NĐT vẫn giữ tâm lý thận trọng, luôn có tâm lý chốt lời ngắn hạn hoặc “đảo hàng” trước ngày T+4 để tránh rủi ro. Vì vậy, thông thường các cổ phiếu được làm giá theo các tin đồn chia thưởng không tăng lên được mức giá đỉnh như kỳ vọng hoặc tăng quá đà vài phiên như trong giai đoạn thị trường tăng “nóng”, mà tạo đỉnh ở mức giá thấp hơn, sau đó giảm xuống.
      Sau khi giảm, các cổ phiếu này khó lòng tạo một đỉnh giá mới, do các tin đồn không còn đủ sức hấp dẫn với thị trường. Thậm chí, một vài cổ phiếu khi tin đồn được xác thực, được công bố thông tin chính thức, thì lại quay đầu giảm giá. Dòng tiền lại chuyển sang các cổ phiếu khác có tin đồn để tối đa hóa lợi nhuận.
      Hiệp hội Các NĐT tài chính (VAFI) vừa khuyến cáo NĐT nên đầu tư giá trị trong điều kiện TTCK Việt Nam đã dần hoạt động ổn định hơn so với giai đoạn trước. Trong tương lai sẽ không có những “con sóng” lớn hoặc sẽ giảm hẳn việc đầu tư theo kiểu “phi giá trị”.
      VAFI nhận định, trường phái đầu tư theo giá trị đang dần hình thành và phát triển trong khu vực NĐT có tổ chức, cổ đông nội bộ và một bộ phận NĐT cá nhân. Thực tế, trong giai đoạn hiện nay, nếu “lướt sóng” thành công thì NĐT cũng phải dựa vào một danh mục đầu tư giá trị.

      Thực tế thị trường cho thấy, hành động lướt sóng và đầu tư giá trị không mẫu thuẫn với nhau như trước. Vấn đề là lướt sóng hay đầu tư giá trị cũng nhắm tới cái gọi là mức lợi nhuận kỳ vọng. Cả các tổ chức đầu tư cũng như cá nhân đầu tư đều sẵn sàng chốt lời khi đạt lợi nhuận kỳ vọng, sau đó mua lại cổ phiếu ở mức thấp hơn để tiếp tục quá trình đầu tư.
      Thế nên mới có chuyện CTCK SSI và tổ chức liên quan đăng ký vừa mua vừa bán một loại cổ phiếu trong cùng một khoảng thời gian.
      Khi mà thị trường vẫn còn ưa chuộng đầu tư theo tin đồn và có cơ hội cho tin đồn, thì xem ra, trường phái dung hòa vừa lướt sóng vừa đầu tư giá trị như trên sẽ được mở rộng.
      Last edited by VN1000; 20-03-2010 at 05:42 PM.

    4. Những thành viên sau đã cám ơn :

    5. #23
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      Những thông tin đáng chú ý ngày 9/10/2009 về doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
      * Ngày 7/10/2009, Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM đã chấp thuận cho Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Y tế DOMESCO (mã DMC-HOSE) được niêm yết bổ sung 4.039.337 cổ phiếu phát hành thêm với tổng giá trị niêm yết bổ sung theo mệnh giá là 40.393.370.000 đồng.

      * Ngày 12/10/2009, 16.582.600 cổ phiếu Công ty Cổ phần Đầu tư điện Tây Nguyên (mã TIC-HOSE) chính thức giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Tp.HCM với giá tham chiếu trong ngày giao dịch đầu tiên là 20.000 đồng; biên độ dao động giá trong ngày giao dịch đầu tiên là +/- 20% so với giá tham chiếu.

      * Tính đến ngày 1/10/2009, giá trị tài sản ròng trong kỳ của Quỹ đầu tư Doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam (mã VFMVF4-HOSE) là 14.579 đồng/chứng chỉ quỹ - tính trên 80.646.000 chứng chỉ quỹ.

      * Tính đến ngày 1/10/2009, giá trị tài sản ròng trong kỳ của Quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (mã VFMVF1-HOSE) là 27.912 đồng/chứng chỉ quỹ - tính trên 100.000.000 chứng chỉ quỹ.

      * Từ ngày 9/10/2009 - 31/12/2009, Công ty Cổ phần Sản xuất - Thương mại Thành Thành Công, tổ chức có liên quan đến bà Nguyễn Thị Kim Vân - thành viên Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Petrolimex (mã PIT-HOSE) đăng ký bán 27.500 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 0 cổ phiếu, nhằm cơ cấu lại danh mục đầu tư.

      * Từ ngày 4/5/2009 - 4/10/2009, bà Hồ Thị Nam Chi, vợ ông Trương Võ Văn Chính - Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Pin ắc quy miền Nam (mã PAC-HOSE) đăng ký bán 20.000 cổ phiếu, đã bán 16.890 cổ phiếu, nguyên nhân không bán hết là do lệnh bán không khớp, số cổ phiếu nắm giữ còn 48.000 cổ phiếu, chiếm 0,3% vốn điều lệ.

      * Ngày 9/10/2009, bà Hồ Thị Nam Chi, vợ ông Trương Võ Văn Chính - Phó tổng giám đốc Công ty Cổ phần Pin ắc quy miền Nam (mã PAC-HOSE) đăng ký bán tiếp 30.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 18.000 cổ phiếu, chiếm 0,1% vốn điều lệ, nhằm dùng việc riêng gia đình.

      * Từ ngày 16/10/2009 - 31/12/2009, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, cổ đông Nhà nước Công ty Cổ phần Dệt may - Đầu tư - Thương mại Thành Công (mã TCM-HOSE) đăng ký bán 1.920.000 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 4.480.000 cổ phiếu, chiếm 12,97% vốn điều lệ, nhằm cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư.

      * Từ ngày 7/10/2009 - 15/10/2009, bà Hàng Thị Diệu - Kế toán trưởng Công ty Cổ phần Nước giải khát Sài Gòn (mã TRI-HOSE) đăng ký bán 1.800 cổ phiếu, số cổ phiếu sẽ nắm giữ còn 0 cổ phiếu, nhằm chi tiêu cá nhân.

      * Từ ngày 26/5/2009 - 30/9/2009, ông Bùi Văn Nghĩa - thành viên Hội đồng Quản trị Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Thủy sản An Giang (mã AGF-HOSE) đăng ký mua 50.000 cổ phiếu, nhưng chưa mua được do chưa cân đối được nguồn tài chính, số cổ phiếu đang nắm giữ là 0 cổ phiếu.

    6. #24
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      Đoàn Nguyên Đức: Từ nông dân trở thành tỷ phú USD

      Nhân chuyện Việt Nam kinh tế ngày một phát triển, nông dân trồng rừng làm mộc mà tài sản cả tỉ đô la và tậu máy bay xịn Beechcraft King Air như ông Đoàn Nguyên Đức. Ai xả hàng? Ai gom hàng? Giới thiệu đặc tính và chức năng chiếc máy bay tư nhân đầu tiên ở Việt Nam.

      Beechcraft King Air 350 là thế hệ máy bay mới kế tiếp King Air 350, với khả năng bay lượn trên cả tuyệt vời. Có thể xem là một loại máy bay VIP hiện đại nhất đáp ứng tất cả những mong muốn của các đại gia thế giới hôm nay.

      Máy bay có 12 chỗ ngồi với nội thất ca bin thuộc hàng cao cấp nhất. Có lắp đặt các hệ thống công nghệ hàng đầu điều hòa nhiệt độ, điều áp. Khoang để hành lý khá rộng rãi.

      Thùng xăng hai bên cánh máy bay có thể đáp ứng tầm bay 3500km, như thế ông Đức có thể thoải mái ngao du với con sắt khắp vùng Đông Nam Á và Trung Quốc.

      Máy bay cũng khá cơ động khi yêu cầu đường băng cất hạ cánh chỉ khoảng 1km mà thôi (đường băng cho máy bay vận tải như Tân Sơn Nhất dài 3km), giúp nó có thể bay tới được hầu hết các địa phương miễn là có đường băng đủ dài.

      Khả năng hãm đà nhanh là do máy bay được trang bị hai động cơ chong chóng phản lực của hãng Pratt & Whitney, khi hãm đà thì chong chóng sẽ xoay góc pitch của lá cánh quạt và tạo ra lực đẩy ngược giúp máy bay ghìm lại thật nhanh khi đã đáp hạ cánh.

      Ngoài ra, cánh máy bay có các cánh tà fowler, thả ra rất sâu và dài, làm tăng tối đa lực cản khi chạy hãm đà.






      Buồng lái, trông nhiều đồng hồ thế chứ phi công sử dụng chủ yếu hai màn hình LCD lớn bên trái thôi, một cái dành cho Trạng thái bay (Primary Flight Dislay), cái dưới dành cho Dẫn đường (Navigation Display). Để lái máy bay này, dễ lắm, chỉ cần học và tập luyện một năm để lấy bằng CPL là ung dung ngồi vào ghế bên trái, bay!


      Khoang cabin của máy bay, ước mơ một này này đó ngồi vào vị trí này cũng đâu có là ghê gớm gì phải không?




      Chiếc chuyên cơ từng tốn rất nhiều giấy mực của báo chí khi trở thành máy bay tư nhân đầu tiên ở Việt Nam.

      "Bầu" Đức cho biết, tổng số tiền mà ông phải bỏ cho vụ mua bán này vào khoảng 7 triệu USD, trong đó giá trị thật của máy bay là 5,1 triệu. Số còn lại là chi phí môi giới, đào tạo phi công, bến bãi... Chiếc Beechcraft King Air 350 do hãng Beech Aircraft Corporation Mỹ chế tạo được ông Đức đặt mua cách đây 6 tháng. Máy bay có số serier FL-417, đã bay 3.000 giờ, bảo hành 3 năm. Đây là máy bay phản lực cánh quạt hai động cơ loại nhỏ, sức chở tối đa 11 người, thân dài hơn 10 m, sải cánh hơn 15 m, buồng lái có chỗ cho 2 phi công.
      Chuyện mua chiếc Beechcraft King Air 350 trị giá tới 7 triệu USD của ông Đoàn Nguyên Đức năm 2008 từng tốn nhiều giấy mực của giới báo chí khi trở thành chiếc máy bay tư nhân đầu tiên ở Việt Nam.

      Beechcraft King Air 350 là máy bay do hãng RaytheonAircraft (Mỹ) sản xuất, có 12 chỗ ngồi, trang bị động cơ Pratt & Whitney PT 6-60 A với nhiều tiện nghi hiện đại phục vụ thương gia.

      Nó có thể bay liên tục 3.500km với tốc độ nhanh nhất đạt 583 km/h.

      Đây là loại máy bay phản lực cánh quạt hai động cơ loại nhỏ. Máy bay dài hơn 10m và sải cánh hơn 15m.
      Ông Đức mua King Air 350 bằng tiền túi cá nhân, nhưng máy bay cũng sẽ phục vụ công việc kinh doanh cho công ty bên cạnh nhu cầu cá nhân du lịch, đi lại... Riêng các khoản chi phí như trả lương phi công, phí đậu sân bay, tiền xăng (một giờ bay của chiếc Beechcraft King Air B350 khoảng 350 kg xăng)... đang được tính toán, có thể sẽ do ông Đức chi trả hoặc tính vào chi phí của công ty.

      Công ty Bảo hiểm BIDV (BIC) vừa giành được hợp đồng bảo hiểm cho chiếc máy bay riêng mang hiệu BeechCraft King Air 350 của “bầu” Đức - Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai, với thời hạn bảo hiểm là 1 năm (2009-2010).

      Theo đó, BIC cung cấp các loại hình bảo hiểm cho chiếc máy bay BeechCraft King Air 350 như: Bảo hiểm mọi rủi ro đối với thân và phụ tùng máy bay; bảo hiểm mọi rủi ro chiến tranh đối với thân máy bay; bảo hiểm trách nhiệm đối với hành khách, hành lý, hàng hóa, hàng bưu chính, tư trang và người thứ ba; bảo hiểm tai nạn cá nhân đối với thành viên tổ bay....

      Tổng mức trách nhiệm bảo hiểm lên tới gần 32 triệu USD.


      Mỗi tháng, anh dành hao nhiêu tiền để "nuôi" chiếc Beechcraft King Air 350?
      - 300 triệu đồng. Giao Công ty Bay dịch vụ bàng không (VASCO) lo trọn gói.

      Tính ra, chi phí có cao hơn so với việc sử dụng máy bay công?
      - Tương đương, nhưng lợi ích nhiều mặt. Chẳng hạn, việc tôi "đáp” máy bay riêng xuống sân bay của Myanmar, Campuchia hay Lào với tư cách là nhà đầu tư, thì phải khác người đi máy bay công chứ!
      Last edited by VN1000; 22-03-2010 at 10:07 PM.

    7. #25
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      Đoàn Nguyên Đức: Tôi sẽ là tỉ phú đô la trong năm 2010!

      Đó là khẳng định của ông Đoàn Nguyên Đức (bầu Đức), Chủ tịch Hội đồng quản trị HAGL, một trong những người giàu nhất thị trường chứng khoánViệt Nam 2009.

      Bầu Đức

      Là người giàu nhất trên sàn chứng khoán VN nhưng trong túi thường không có tiền; sở hữu máy bay riêng với 2 phi công bay liên tục nhưng 20 năm nay chưa hề đi du lịch... Đó là chân dung Chủ tịch HĐQT CTCP Hoàng Anh Gia Lai (HAG) Đoàn Nguyên Đức.

      Không né tránh bất cứ câu hỏi nào, “Người giàu nhất trên sàn chứng khoán VN 2009” Đoàn Nguyên Đức tạo cho người đối diện cảm giác tin cậy dù không phải câu trả lời nào của ông cũng dễ nghe.

      Sẽ là tỉ phú đô la vào năm 2010

      * Ông biết tin mình dẫn đầu danh sách “Người giàu nhất trên sàn chứng khoán VN 2009” khi nào?

      - Ông Đoàn Nguyên Đức: Khoảng nửa tháng trước, khi có một phóng viên Báo Đất Việt gọi điện phỏng vấn tôi về việc này.

      * Cảm giác của ông lúc đó thế nào?

      - Tôi chẳng có cảm giác gì cả.

      * Tại sao vậy, tôi nghĩ đây là một thông tin đủ “nặng” với bất kỳ ai chứ?

      - Chẳng tại sao cả. Đơn giản là việc này tôi đã biết trước rồi. Việc gì đột xuất thì mới gây bất ngờ, đúng không?

      * Ông có vẻ rất tự tin về sự giàu có của mình?

      - Đúng thế. Người ngoài có thể không biết. Nhưng trong giới doanh nghiệp chúng tôi, mình thế nào, người khác thế nào chúng tôi đều biết rất rõ. Vì thế tôi biết mình sẽ vẫn giữ vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng này.

      * Nhiều tỉ phú trên thế giới đã nghèo đi do ảnh hưởng khủng hoảng kinh tế, chủ yếu do cổ phiếu mất giá, nhưng ông là một ngoại lệ. Giá trị tài sản của ông đã tăng rất mạnh so với trước đó. Ông có thể bật mí bí quyết của mình?

      - So với năm 2008, giá trị tài sản của tôi đã tăng khoảng 6.200 tỉ đồng, hiện là 12.221 tỉ đồng. Quan điểm của tôi là xây dựng một công ty phải có chiến lược dài hạn, tầm nhìn xa và nền tảng vững chắc. Chúng tôi đã phát triển HAG theo tiêu chí đó nên cuộc khủng hoảng giữa đường không thể tác động đến chúng tôi. Công ty vẫn tăng trưởng và vì thế tài sản của tôi vẫn tăng mạnh như bạn thấy.

      * Nhưng không lẽ cuộc khủng hoảng kinh tế lớn đến vậy lại không ảnh hưởng chút nào đến công ty của ông?

      - Chúng tôi cũng bị ảnh hưởng nhưng không đến mức như các công ty khác vì như tôi đã nói, chúng tôi xây dựng chiến lược phát triển với tầm nhìn hàng chục năm, nghĩa là tốc độ phát triển bền vững lâu dài chứ không phải trong 1 hay 2 năm. Có thể nói thế này cho dễ hiểu, chúng tôi có tăng trưởng nhưng mức tăng trưởng chưa đáp ứng kỳ vọng. Đó là do ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng. Hay nói cách khác, nếu không có cuộc khủng hoảng kinh tế vừa qua, tôi đã là tỉ phú đô la trong năm nay rồi chứ không phải đợi đến năm sau.

      * Nghĩa là nếu cuộc khủng hoảng kinh tế qua đi trong năm tới như dự đoán, ông sẽ trở thành tỉ phú đô la vào năm 2010?

      - Dù khủng hoảng có qua hay không qua thì chắc chắn tôi sẽ trở thành tỉ phú đô la trong năm 2010. Tôi có những con số chứng minh rất rõ điều này. Theo kế hoạch thì lợi nhuận của HAG năm 2010 sẽ vào khoảng 2.000 - 3.000 tỉ đồng, tương đương với mức tăng trưởng lợi nhuận là 60%. Với mức tăng này, VN-Index chỉ cần như hiện nay thì tôi cũng đã trở thành tỉ phú đô la rồi.

      * Ông nói rất thật và rất thẳng. Nhưng ông có ngại sự tự tin của mình sẽ khiến người khác ghét ông?

      - Hiện tại cũng có không ít người ghét tôi. Họ tung đủ các thứ tin đồn. Nhưng tôi không sợ. Tôi làm ăn đàng hoàng, mỗi năm đóng thuế cho Nhà nước hàng ngàn tỉ đồng. Tôi không làm sai pháp luật và không có gì phải sợ khi nói sự thật cả. Nếu tài sản của tôi đạt 1 tỉ USD thì tài sản của công ty sẽ là 2 tỉ USD. Ở VN, các công ty có vốn 2 tỉ USD không phải là nhiều và đây là thực tế mà ai cũng biết.

      * Ông nghĩ sao nếu mình trở thành tỉ phú đô la và có tên trong danh sách các tỉ phú trên thế giới?

      - VN chưa từng có tỉ phú đô la, doanh nhân VN cũng chưa bao giờ có tên trong câu lạc bộ các doanh nhân thế giới. Vì vậy, việc trở thành tỉ phú đô la và được xếp trong danh sách các tỉ phú của thế giới là điều vinh dự với bất kỳ ai. Không chỉ vậy, các doanh nhân trên thế giới cũng sẽ nhìn VN khác đi nếu chúng ta đứng chung với họ trong danh sách này. Cũng có nghĩa là doanh nhân VN hoàn toàn có thể làm được những gì mà thế giới làm được. Đó là mục tiêu lớn nhất mà tôi muốn làm.

      Tỉ phú không có tiền trong túi

      * Là người giàu nhất sàn chứng khoán VN, tôi tò mò không biết thường khi ra đường, trong túi của ông có bao nhiêu tiền?

      - Không có đồng nào.

      * Hẳn là ông chỉ dùng thẻ tín dụng. Nhưng ở VN, không phải lúc nào, chỗ nào cũng thanh toán bằng thẻ tín dụng được. Ông đã bao giờ rơi vào trường hợp đang đi trên đường, bỗng muốn mua một món đồ gì đó mà không có tiền trong túi không?

      - Tôi thực sự không có thời gian đi dạo hay nhìn ngó xung quanh để thích cái nọ, cái kia. Còn nếu cần mua một món đồ nào đó, ví dụ như điện thoại chẳng hạn, tôi sẽ gọi cho “lính” của tôi đi mua hộ. Cô biết đấy, Hoàng Anh Gia Lai giờ có mặt ở khắp nơi nên hầu như ở chỗ nào tôi cũng có thể “nhờ vả” kiểu này được.

      * Ông có thói quen này lâu chưa?

      - Khá lâu rồi. Đơn giản là tôi không có thời gian để nghĩ đến mua sắm hay bỏ tiền vào ví để xài. Tôi quá bận rộn. Cô có tin không, 20 năm nay tôi chưa hề đi du lịch...

      * Sở hữu máy bay riêng và đi nhiều nơi trên thế giới. Nếu chỉ xét về điều này thôi, việc 20 năm rồi ông không đi du lịch thật khó tin. Tôi từng đọc một bài phỏng vấn, trong đó nói ông không có thời gian để thư giãn hay hưởng thụ bất cứ thứ gì. Ông có nghĩ đó là sự đánh đổi để có được sự giàu có ngày hôm nay không?

      - Tôi không cho đấy là đánh đổi. Mỗi người có một sở thích, một niềm vui. Tôi vẫn biết mình đang làm việc nhiều quá mức và hy sinh nhiều vì công việc. Nhưng trong thời gian này tôi không có đủ thời gian. Chúng tôi đang nỗ lực hết mình cho các kế hoạch, chiến lược đã đề ra. Nói như vậy không có nghĩa là tôi không hài lòng với cuộc sống của mình hiện nay. Tôi làm việc gì đó thành công, tôi xem, chơi bóng đá, đó là niềm vui của tôi. Tôi hoàn toàn hài lòng và không hề so bì với người khác.

      Xây dựng thương hiệu quốc tế là chiến lược

      * Mở văn phòng đại diện ở Thái Lan, quảng bá thương hiệu trên sân của CLB Bóng đá Asernal, tiến sang thị trường Lào, có vẻ như ông đang đưa HAG vượt ra khỏi biên giới VN. Quan điểm của ông về việc xây dựng thương hiệu như thế nào?

      - Tôi nghĩ việc đầu tiên của các công ty chính là xây dựng thương hiệu. Tại VN, cái tên Hoàng Anh Gia Lai đã quá nổi tiếng. Vì vậy, mục tiêu của chúng tôi là xây dựng thương hiệu quốc tế. Việc này chúng tôi đã làm cách đây 3 năm rồi chứ không phải bây giờ mới bắt đầu. Như bạn vừa nói, chúng tôi mở văn phòng đại diện ở Thái Lan, liên kết với CLB Asernal, sang Lào... Nói chung, tôi chọn những địa điểm phù hợp với ngành nghề kinh doanh của công ty.

      * Ông đã tiến hành quốc tế hóa thương hiệu HAG 3 năm, vậy ông có thể cho biết, những kết quả đầu tiên của việc này?

      - Đã có nhiều đối tác nước ngoài biết đến HAG. Hiện tại, có 13 quỹ đầu tư nước ngoài đang đầu tư vào HAG. Đó chính là kết quả mà chúng tôi đạt được.

      * Cái tên Đoàn Nguyên Đức đã quá nổi tiếng tại VN. Liệu đến bao giờ ở ngoài biên giới VN, nói đến Đoàn Nguyên Đức người ta sẽ nghĩ ngay đến HAG?

      - 10 năm trước tôi không bao giờ nghĩ tôi có được như ngày nay. Tôi cũng không bao giờ nghĩ mình có thể trở thành tỉ phú đô la trong năm sau. Ý tôi muốn nói là, không thể nói trước 10 năm nữa điều gì sẽ xảy ra. Vì vậy, tôi không thể trả lời câu hỏi này. Hãy để thời gian trả lời. Nhưng chúng ta có thể kỳ vọng điều đó. Nếu ta nỗ lực và có chiến lược bài bản, dài hạn, điều gì cũng có thể xảy ra.

      “Tôi cho rằng những người ngại nói về sự giàu có của mình là dối lòng mình. Đã là công ty đại chúng, đã niêm yết trên sàn chứng khoán thì tất cả cần công khai, minh bạch. Làm sao dấu được mà ngại hay không. Tiền mình làm ra được pháp luật công nhận, được nhiều người biết đến. Nếu làm đúng thì chẳng có gì phải ngại”. 
      Last edited by VN1000; 22-03-2010 at 09:54 PM.

    8. #26
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      Lương, thưởng của Hội đồng quản trị

      Đối với chế độ tiền lương, tiền thưởng của thành viên Hội đồng quản trị của Doanh nghiệp Nhà nước: Theo Nghị định số 207/2004 / NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính Phủ "Quy định chế độ tiền lương, tiền thưởng và chế độ trách nhiệm đối với các thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc công ty nhà nước", thì tiền lương của các thành viên Hội đồng quản trị chuyên trách được được xếp lương chức vụ. Còn thành viên Hội đồng quản trị không chuyên trách được hưởng phụ cấp trách nhiệm.
      Tiền lương và phụ cấp trách nhiệm của thành viên Hội đồng quản trị được trả căn cứ vào việc thực hiện lợi nhuận và năng suất lao động của công ty theo nguyên tắc: lợi nhuận và năng suất lao động tăng thì tiền lương, phụ cấp tăng. Lợi nhuận và năng suất lao động giảm thì tiền lương, phụ cấp giảm. Nhưng thấp nhất bằng mức lương tính trên cơ sở hệ số lương theo hạng công ty, phụ cấp lương (nếu có) và mức lương tối thiểu chung.
      Quỹ tiền lương của thành viên Hội đồng quản trị (gồm tiền lương của thành viên chuyên trách và phụ cấp trách nhiệm của thành viên không chuyên trách Hội đồng quản trị) được xác định theo năm, hàng tháng được tạm ứng tối đa bằng 80% quỹ tiền lương kế hoạch. Phần còn lại được thanh toán vào cuối năm theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ. Quỹ tiền lương này không nằm trong đơn giá tiền lương của công ty nhưng được hạch toán vào giá thành hoặc chi phí kinh doanh.

      Thành viên Hội đồng quản trị hàng năm được thưởng từ Quỹ thưởng của Ban quản lý điều hành và từ quỹ khen thưởng của công ty. Quỹ tiền thưởng này được trích hàng năm và được trích tối đa không quá 60% để thưởng cuối năm, phần còn lại dùng để thưởng sau khi kết thúc nhiệm kỳ.
      Khi kết thúc nhiệm kỳ, nếu tổng lợi nhuận thực hiện không thấp hơn tổng lợi nhuận kế hoạch của cả nhiệm kỳ thì các thành viên Hội đồng quản trị được hưởng phần tiền thưởng còn lại, nếu tổng lợi nhuận thực hiện thấp hơn tổng lợi nhuận kế hoạch của cả nhiệm kỳ thì cứ giảm 1% tổng lợi nhuận thực hiện, phải giảm trừ 0,5% phần tiền thưởng còn lại.
      Nếu các thành viên Hội đồng quản trị để xảy ra một trong các trường hợp như mất vốn, để công ty thua lỗ, để xảy ra sai phạm về quản lý vốn, tài sản... nếu chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì không được nâng bậc lương hoặc phải hạ bậc lương, không được hưởng lương theo hệ số điều chỉnh, không được thưởng…

      Trong công ty cổ phần, khái niệm tiền lương của các thành viên Hội đồng quản trị (như doanh nghiệp Nhà nước) không được đặt ra, và đã được thay bằng chế độ thù lao công việc và tiền thưởng. Theo Điều 117 Luật doanh nghiệp năm 2005, thành viên Hội đồng quản trị được trả thù lao công việc và tiền thưởng dựa trên kết quả và hiệu quả kinh doanh của công ty (điểm a, khoản 2, Điều 117). Nếu Điều lệ công ty không có quy định khác, thì thù lao, và tiền thưởng của các thành viên Hội đồng quản trị được trả theo quy định sau đây:
      Thù lao công việc được tính theo số ngày công cần thiết hoàn thành nhiệm vụ của thành viên Hội đồng quản trị và mức thù lao mỗi ngày. Hội đồng quản trị dự tính mức thù lao cho từng thành viên theo nguyên tắc nhất trí và tổng mức thù lao sẽ được trình Đại hội đồng cổ đông quyết định tại cuộc họp thường niên.
      Thù lao của thành viên Hội đồng quản trị được tính vào cho phí doanh nghiệp theo pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp và được thể hiện thành mục riêng trong báo cáo tài chính hàng năm của công ty, phải báo cáo Đại hội đồng cổ đông tại cuộc họp thường niên (Khoản 3 Điều 117).
      Cũng theo Điều 117 Luật doanh nghiệp 2005, nếu Điều lệ công ty không có quy định khác, thì tiền thưởng cho thành viên Hội đồng quản trị được xác định dựa trên kết quả kinh doanh của công ty (mặc dù không quy định chi tiết là thưởng theo tỷ lệ bao nhiêu).
      Vì vậy, trên thực tế, các công ty dựa trên quy định này của pháp luật (và/hoặc quy định của Điều lệ Công ty không trái với quy định này) để xây dựng phương án về tiền thưởng cho phù hợp với tình hình thực tế của từng Công ty để trình Đại hội đồng cổ đông xem xét, thông qua.

      Thông thường các định mức thưởng này được xây dựng dựa trên kế hoạch kinh doanh và chỉ tiêu phát triển của công ty trong năm tiếp theo. Theo đó, hàng năm nếu tổng kết kế hoạch năm, công ty đạt hoặc vượt những chỉ tiêu kế hoạch - đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua - thì Hội đồng quản trị đương nhiên được hưởng thù lao và tiền thưởng theo tỷ lệ đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
      Ngược lại, trường hợp công ty gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh dẫn tới không đạt được chỉ tiêu theo kế hoạch đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua - thì đương nhiên Hội đồng quản trị sẽ không được hưởng mức tiền thưởng đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua trước đó .
      Với các quy định của pháp luật như trên, thông thường tiền thù lao và tiền thưởng của các thành viên cụ thể trong Hội đồng quản trị được xác định dựa trên sự nhất trí giữa các thành viên trong Hội đồng quản trị về việc phân chia một tổng mức thù lao, tiền thưởng hàng năm được áp dụng dựa trên căn cứ là các chỉ chiêu kế hoạch kinh doanh hàng năm (như phân tích trên đây). Mức thù lao, tiền thưởng này sẽ được trình Đại Hội đồng cổ đông xem xét, quyết định trong kỳ họp thường niên bằng việc thông qua báo cáo tài chính hàng năm và thông qua các mục tiêu, kế hoạch cho năm tài chính tiếp theo.

      Nhiều khi Lương, Thưởng của thành viên HĐQT không thấm vào đâu so với các thông tin nội bộ mà họ có được cụ thể hóa thành lợi nhuận...
      Last edited by VN1000; 22-03-2010 at 09:23 PM.

    9. #27
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      3. Những yếu tố ảnh hưởng đến lạm phát trong năm 2010

      Chúng ta vừa xem xét thực tế lạm phát ở Việt Nam và một số nguyên nhân chủ yếu. Sau đây chúng ta phân tích các yếu tố có thể tác động đến lạm phát trong năm 2010 dưới ba nhóm chính: (i) nguyên nhân chi phí đẩy (tăng giá xăng dầu, điện nước, điều chỉnh tỷ giá...), (ii) nguyên nhân cầu kéo (kích cầu, thâm hụt ngân sách…), (iii) nguyên nhân tiền tệ (tăng cung tiền, tăng tín dụng…).

      (1) Điều chỉnh giá điện, xăng dầu và một số hàng hóa cơ bản khác

      Sau dịp Tết Nguyên đán, giá nhiều mặt hàng cơ bản đã được điều chỉnh tăng. Giá điện tăng 6.8% từ 01/3/2010, giá xăng dầu điều chỉnh tăng 6.5% (tổng cộng 2 lần), than bán cho ngành điện tăng từ 28 – 47%. Phần lớn ý kiến đều quan ngại việc tăng giá điện và các hàng hóa cơ bản này sẽ ảnh hưởng mạnh đến giá cả hàng hóa trong toàn bộ nền kinh tế và mức tăng trưởng GDP.
      Tuy vậy, theo tính toán của Bộ Công thương việc tăng giá điện tác động trực tiếp chỉ làm CPI tăng 0.16%. Một số ngành công nghiệp với chi phí tiền điện cao (chiếm 30 - 40% giá thành) như cấp nước, điện phân… giá đầu ra sản phẩm tăng thêm khoảng 2.83 – 3.5%. Những ngành sản xuất thâm dụng năng lượng khác như cán thép, xi măng giá thành tăng thêm khoảng 0.20 – 0.69%. Tổng hợp chi phí tiêu dùng cuối cùng chỉ tăng từ 0.19 – 0.27%.
      Thực tế, ước lượng mức độ tác động thực sự của việc tăng giá hàng hóa cơ bản này đến CPI là việc làm khó khăn. Việc tăng giá điện, xăng dầu ngoài ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, còn tác động lên kỳ vọng của người tiêu dùng. Nếu kỳ vọng về mức lạm phát cao trong tương lai thì mức lạm phát thực tế càng trở nên trầm trọng. Điều này thường xảy ra đối với những nền kinh tế mà cơ chế thị trường kém hiệu quả.

      (2) Ảnh hưởng của việc điều chỉnh tỷ giá

      Ngày 10/02, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quyết định điều chỉnh tỷ giá liên ngân hàng tăng thêm 3.3%, đưa mức trần tỷ giá chính thức lên 19,100 VND/USD. Nhiều nhận định cũng quan ngại về việc điều chỉnh tỷ giá này sẽ ảnh hưởng tới đà tăng giá của hàng hóa trong nước, vì tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hiện nay đã bằng khoảng 1.5 lần GDP.
      Nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu của Việt Nam bị ảnh hưởng khá mạnh bởi tỷ giá. Vừa qua một số hàng hóa như sữa, sắt thép… cũng điều chỉnh giá bán sau khi tỷ giá được điều chỉnh. Hiện nay, nhiều nhận định còn cho rằng tỷ giá tiền đồng vẫn có khả năng tiếp tục được điều chỉnh trong thời gian tới. Do vậy, đây cũng là một trong những nguyên nhân rất đáng được quan tâm.

      (3) Hiệu ứng từ việc tăng lương tối thiểu

      Năm 2010, mức lương cơ bản được điều chỉnh tăng khoảng 10-15%, tùy từng khu vực. Việc tăng lương tối thiểu sẽ ảnh hưởng đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp và ảnh hưởng tới giá cả hàng hóa. Ngoài ra, việc tăng lương tối thiểu cũng có thể tạo ra một hiệu ứng tăng giá ăn theo trên thị trường.

      (4) Lạm phát do yếu tố cầu kéo

      Lạm phát do cầu kéo xuất phát từ sự chênh lệch cung cầu làm cho giá hàng hóa biến động mạnh. Khi nhu cầu tăng cao đột biến trong khi nguồn cung chưa kịp thay đổi hoặc ngược lại khi nguồn cung giảm xuống cầu vẫn giữ nguyên đều làm cho giá hàng hóa tăng. Trong dịp Tết Âm lịch vừa qua, giá của nhiều hàng hóa tăng một cách đột biến là do nguyên nhân cầu kéo.
      Năm 2009, các gói kích thích kinh tế và việc tăng chi tiêu của chính phủ khiến nhu cầu một số hàng hóa tăng mạnh. Hiệu ứng từ việc gia tăng nhu cầu này tiếp tục kéo dài sang năm 2010, gây sức ép lên giá cả nhiều hàng hóa. Ngoài ra, năm 2010 người dân có thể sẽ tăng cường chi tiêu khi triển vọng kinh tế khả quan hơn, tạo ra một sức cầu lớn hơn đối với nhiều loại hàng hóa.

      (5) Lạm phát từ nguyên nhân tiền tệ

      Năm 2009, chính sách tiền tệ được mở rộng, lãi suất và tỷ lệ dự trữ bắt buộc được ấn định ở mức thấp. Tăng trưởng tín dụng năm 2009 lên đến 37.74%, và là mức khá cao so với trung bình những năm vừa qua. Tăng trưởng cung tiền M2 lên mức 28.7%, mức tăng này thấp hơn so với năm 2006 và 2007, nhưng vẫn khá cao so với năm 2008 và những năm còn lại trước đó.
      Tăng trưởng tín dụng và cung tiền cao trong năm 2009 sẽ ảnh hưởng đến lạm phát trong năm 2010. Chúng ta đều biết lạm phát có quan hệ chặt chẽ với cung tiền, nhưng thường có độ trễ từ 5 – 7 tháng.
      Last edited by VN1000; 20-03-2010 at 05:53 PM.

    10. #28
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      Lạm phát trong năm 2010 có đáng lo ngại?

      Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2010 tăng CPI cao nhất trong vòng 17 tháng qua. Nhiều nhà đầu tư lo ngại về việc tăng giá dây chuyền sẽ đẩy CPI năm 2010 lên mức cao. Liệu đây có thực sự là một vấn đề đáng lo ngại hay không, và lạm phát trong năm 2010 sẽ tăng đến mức nào?

      Phần I: Thực trạng và các yếu tố tác động đến lạm phát ở Việt Nam

      Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2010 được Tổng cục Thống kê (TCTK) công bố tăng 1.96% so với tháng trước đó. Đây là mức tăng CPI cao nhất trong vòng 17 tháng qua. Số liệu thống kê này cùng với quyết định điều chỉnh tỷ giá hối đoái, giá xăng dầu, giá điện, nước, than… trong thời gian gần đây và áp lực tăng giá hàng hóa sau dịp Tết Âm lịch đã khiến cho lo ngại về lạm phát một lần nữa được nhắc đến nhiều hơn.

      Những lo ngại về việc tăng giá dây chuyền đẩy CPI năm 2010 lên mức cao không phải là không có cơ sở. Tuy vậy, liệu đây có thực sự là một vấn đề đáng lo ngại hay không, và lạm phát trong năm 2010 sẽ tăng đến mức nào?


      1. Diễn biến lạm phát ở Việt Nam thời gian qua

      Trong quá khứ Việt Nam có thời gian phải chịu lạm phát phi mã, với mức sụt giá của tiền đồng lên đỉnh hơn 700% vào năm 1987. Kể từ năm 1993, lạm phát đã được khống chế khá tốt và thường dưới 2 con số.
      Giai đoạn từ năm 1999 đến 2001 là thời kỳ lạm phát thấp nhất của Việt Nam. Trong khoảng thời gian này, CPI lần lượt chỉ ở mức 0.1%, -0.6% và 0.8%. Thời kỳ này gắn liền với giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 – 1998.
      Lạm phát ở Việt Nam bắt đầu tăng cao từ năm 2004, cùng với giai đoạn bùng nổ của kinh tế thế giới và việc tăng giá của nhiều loại hàng hóa. Năm 2007, chỉ số CPI tăng đến 12.6% và đặc biệt tăng cao vào những tháng cuối năm.
      Năm 2008 là một năm đáng nhớ đối với kinh tế vĩ mô cũng như tình hình lạm phát ở Việt Nam. CPI đã liên tục tăng cao từ đầu năm, và mức cao nhất của CPI tính theo năm của năm 2008 đã lên đến 30%. Kết thúc năm 2008, chỉ số CPI tăng 19.89%, tính theo trung bình năm tăng 22.97%.
      Năm 2009, suy thoái của kinh tế thế giới khiến sức cầu suy giảm, giá nhiều hàng hóa cũng xuống mức khá thấp, lạm phát trong nước được khống chế. CPI năm 2009 tăng 6.52%, thấp hơn đáng kể so với những năm gần đây. Tuy vậy, mức tăng này nếu so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới lại cao hơn khá nhiều.
      Năm 2010, chính phủ đặt mục tiêu kiểm soát CPI cuối kỳ khoảng 7%. Mục tiêu này có thể không được hoàn thành khi 2 tháng đầu năm CPI đã tăng 3.35%. Ngoài ra, nền kinh tế hiện nay vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể dẫn đến lạm phát cao trong những tháng sắp tới.

      2. Nguyên nhân thực sự gây ra lạm phát cao ở Việt Nam

      Có thể tóm tắt các yếu tố tác động đến lạm phát xuất phát từ 3 nguyên nhân chính: cung tiền tăng quá mức, giá hàng hóa thế giới tăng cao đột ngột, và sức cầu về hàng hóa trong nước tăng trong khi sản xuất chưa đáp ứng kịp.
      Thời gian qua, nhiều ý kiến đồng thuận cho rằng cung tiền được xem là nguyên nhân chính gây ra lạm phát ở Việt Nam. Từ năm 2000 đến năm 2009, tín dụng trong nền kinh tế tăng hơn 10 lần, cung tiền M2 tăng hơn 7 lần, trong khi đó GDP thực tế chỉ tăng hơn 1 lần. Điều này tất yếu dẫn đến đồng tiền bị mất giá. Thực tế chúng ta dễ nhận thấy là lạm phát ở Việt Nam cao hơn rất nhiều so với các quốc gia khác trong cùng thời kỳ, mặc dù cùng chịu chung cú sốc tăng giá của hàng hóa thế giới.
      Tại sao Việt Nam cần một mức tăng trưởng cung tiền cao như vậy? Nguyên nhân là do tỷ lệ đầu tư/GDP trong nền kinh tế Việt Nam khá cao, nhưng lại không tạo ra được một tốc độ tăng trưởng kinh tế tương ứng.
      Hàng năm, đầu tư trong nền kinh tế đều quanh mức 40% GDP. Tỷ lệ đầu tư lớn này đòi hỏi một mức tăng trưởng tín dụng và cung tiền cao để phục vụ nhu cầu đầu tư. Trong khi đó, tăng trưởng GDP chỉ quanh mức 7%, thậm chí năm 2008 và 2009 chỉ lần lươt đạt mức 6.19% và 5.32%. Điều này cho thấy chất lượng tăng trưởng, đầu tư và phát triển ở Việt Nam vẫn cần được tiếp tục cải thiện. Đây là nguyên nhân sâu xa khiến cho lạm phát luôn ở trong tình trạng chực chờ, ảnh hưởng đến sự ổn định kinh tế vĩ mô.
      Ngoài nguyên nhân tiền tệ kể trên, chúng ta xem xét những nguyên nhân còn lại xuất phát từ phía cầu và phía cung hàng hóa (lạm phát chi phí đẩy (cost push) và cầu kéo (demand pull)). Đây là những nguyên nhân trực tiếp và dễ thấy nhất.
      Trong năm 2007, sự bùng nổ của nhu cầu tiêu dùng trong nước đã góp phần làm lạm phát tăng tốc. Cũng trong khoảng thời gian đó, giá cả của hàng loạt nguyên nhiên liệu như xăng dầu, sắt thép, và lương thực đều tăng mạnh, kích hoạt cho một đợt tăng giá mạnh mẽ của hầu hết các hàng hóa và dịch vụ trong nước. Lạm phát cao nhất tính theo năm đã lên tới 28% vào tháng 8/2008. Cuối năm 2008, với sự lao dốc của hầu hết các hàng hóa trên thế giới, lạm phát trong nước cũng được chặn đứng. Lạm phát giảm xuống mức thấp nhất chỉ còn 1.97% (YoY) vào tháng 8/2009.
      Last edited by VN1000; 20-03-2010 at 05:59 PM.

    11. #29
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định Bắt đầu sóng CP Ngân hàng-Tài chính?

      Ông Nguyễn Duy Hưng: chứng khoán sẽ tăng trưởng khoảng 20% trong năm 2010

      Nhân vật được ví như một “cá mập lớn” trên thị trường, ông Nguyễn Duy Hưng có cái nhìn tương đối thận trọng về thị trường chứng khoán.

      Qua những câu chuyện đầu năm trên báo chí, nhiều chuyên gia kinh tế đã đưa ra những nhận định tương đối lạc quan về triển vọng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm Canh Dần.
      Tuy nhiên tại cuộc trao đổi với chúng tôi, nhân vật được ví như một “cá mập lớn” trên thị trường, ông Nguyễn Duy Hưng - Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Chứng khoán Sài Gòn (SSI) lại có cái nhìn tương đối thận trọng.

      Thưa ông, theo thông lệ vào dịp đầu xuân mọi người thường có thói quen gieo quẻ đoán thời vận. Vậy ông có thể đưa ra nhận định về thời vận của thị trường trong năm con hổ?

      Theo tôi, thông tin trên thị trường đang có tính hai mặt. Tin tốt là Chính phủ đang nỗ lực duy trì tốc độ tăng trưởng lành mạnh. Những tin xấu kèm theo là khả năng lạm phát của năm nay rất là cao, bội chi ngân sách vẫn tiếp tục, gói kích cầu thứ nhất dừng lại cũng ảnh hưởng nhiều đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp.

      Trong một môi trường, cả tin xấu và tin tốt đan xen như thế mà đưa ra dự đoán một chiều là không thể nói được. Tôi nhìn nhận, thị trường năm tới vẫn sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều từ các chính sách tiền tệ, những động thái của Chính phủ có tính quyết định đến thị trường.
      Nếu chính sách tiền tệ tiếp tục bị thắt chặt, tôi nghĩ thị trường sẽ xấu. Nhưng nếu chính sách vẫn tiếp tục bơm tiền ra để duy trì tăng trưởng thì xu hướng thị trường sẽ tốt.

      Vậy dưới góc độ phân tích kinh tế vĩ mô, ông dự đoán xu hướng cụ thể thị trường trong thời điểm nửa đầu của năm sẽ ra sao?

      Thị trường tiền tệ sẽ không có điều chỉnh lớn. Bởi cả hai yếu tố tăng trưởng và kiềm chế lạm phát đều rất quan trọng. Câu chuyện sẽ rộng hơn, có nhiều khả năng vẫn phải tiếp tục duy trì tăng trưởng nhưng chỉ tập trung vào các lĩnh vực hiệu quả, nhằm giảm bớt ICOR (Hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư - PV). Như vậy, vẫn có thể siết chính sách tiền tệ một chút để chống lạm phát nhưng vẫn không ảnh hưởng đến tăng trưởng.
      Vậy nên quý 1/2010, chính sách tiền tệ chưa thay đổi nhiều nên tôi cho rằng thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ không có biến động lớn. Một điểm khác của năm nay, thị trường sẽ khó có sự tăng trưởng 40%-50% như năm ngoái. Bởi hiện tại, xuất phát điểm đã không còn thấp như năm qua, mức tăng trưởng của thị trường khoảng 20% là hợp lý.
      Khi tỷ suất tăng trưởng của thị trường trong năm không còn cao nữa thì việc“ôm chứng” trong trung và dài hạn sẽ kém hấp dẫn, vậy chiến thuật đầu tư lướt sóng có “thịnh” hay không?
      Tôi nhắc lại, nếu ai cũng lướt sóng được thì ai sẽ là người thua. Bản thân lướt sóng không mang lại của cải vật chất, nếu người này lãi 5 tỷ đồng thì sẽ có những người khác mất 5 tỷ đồng. Việc đầu tư lướt sóng phụ thuộc rất nhiều vào “cảm định” của nhà đầu tư về thị trường lên hay xuống trong phiên, trong tuần hay trong tháng và mang yếu tố may rủi.
      Trường phái của tôi vẫn là đầu tư ổn định, trên thị trường vẫn có những cổ phiếu có thể đầu tư dài hạn khi các chỉ số tài chính rất tốt, có tăng trưởng ổn định, ngành nghề cơ bản.
      Trong năm, những cổ phiếu ngành xuất khẩu thủy sản, cao su vẫn có tính hấp dẫn. Bởi tiền đồng khó có thể đắt hơn đồng đô la theo xu hướng mất giá, do vậy xuất khẩu sẽ thu được lượng tiền đồng lớn hơn hiện tại. Còn ngành bất động sản trở thành câu chuyện trái chiều, bất động sản là kênh người Việt Nam ưa thích đầu tư nhất nhưng giá bất động sản đang quá cao, nếu đi vay tiền mua bất động sản thì bài toán kinh doanh sẽ nghiêng về phần lỗ.
      Hơn nữa, khi thị trường đã tăng trưởng ở mức giá rất cao thì sẽ không tăng trưởng được nữa. Vấn đề của thị trường bất động sản, đâu đấy cũng có những rủi ro tiềm ẩn, tuy nhiên là bao giờ cũng không thể trả lời được. Nhưng trong ngắn hạn vẫn chưa thể xảy ra vì Việt Nam không có nhiều sản phẩm đầu tư khác.

      Năm qua, SSI đã rất thành công trong kết quả kinh doanh của mình. Tuy nhiên, vị trí quán quân về môi giới đã bất ngờ bị đơn vị khác soán mất. Năm 2010, SSI có những chiến lược gì để dành lại ngôi vị trên?
      Chúng tôi hài lòng với kết quả kinh doanh của mình. Cách phát triển của SSI xác định hướng đi rõ ràng, ổn định, chúng tôi không chạy theo các chỉ tiêu bằng mọi cách. Chiến lược năm 2010, SSI sẽ tìm lại vị trí dẫn đầu của mình, tuy nhiên không phải nằm ở chỗ duy trì các chỉ số thống kê.
      Last edited by VN1000; 20-03-2010 at 06:05 PM.

    12. #30
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định Bắt đầu sóng CP Tài chính-Ngân hàng?

      "Tôi không "đánh bạc" với thị trường!"

      Ông có thể đưa ra một nhận định về thị trường thời gian tới?

      - Bất cứ một dự báo nào lúc này đều là "dở". Cái dở lớn nhất hiện nay là có nhiều dự báo quá chi tiết. Những dự báo này vô hình trung có thể góp phần làm thị trường nóng hơn. Vừa qua có nhiều dự báo kiểu giá cổ phiếu này sẽ tăng đến đâu, nên mua lúc này, bán lúc kia, thị trường sẽ còn lên tới mức kia...

      Những thông tin như vậy sẽ hấp dẫn nhiều nhà đầu tư chưa có nhiều kinh nghiệm. Nhiều nhà đầu tư vẫn theo phong trào, coi những tư vấn, phân tích là quan trọng như thể lời bác sĩ với bệnh nhân. Mặc dù tất cả các tư vấn đều có khuyến cáo đi kèm rằng nhà đầu tư phải tự chịu trách nhiệm, rằng đây chỉ là những ý kiến cá nhân.... nhưng người nghe chỉ biết đến những nội dung cần thiết mà thường quên đi phần miễn trách nhiệm của người tư vấn.

      Vì có tin, người ta mới tìm đến những lời tư vấn. Đó là chưa kể đến mâu thuẫn lợi ích có thể xảy ra bởi bản thân công ty chứng khoán cũng có chức năng tự doanh. Không ai dám chắc là tổ chức đó trước đó đã mua vào cổ phiếu mà giờ đây họ tư vấn cho nhà đầu tư mua để họ bán ra kiếm lời.
      Những cảnh báo luôn trái tai. Thực tế như thời kỳ 2007-2008, tôi đã nói ngược diễn biến thị trường. Do đó, thị trường chịu một cú sốc lớn nhưng SSI không sốc. Không bị sốc vì đã được chuẩn bị trước. Đó cũng là lý do SSI còn có lãi tính bằng trăm tỉ năm 2008 trong khi nhiều Cty khác lỗ trăm tỉ. SSI có tổng tài sản lớn nhất, nếu SSI bị "sốc" thì mức lỗ cũng sẽ lớn nhất. Khi thị trường quá nóng, tôi cũng đã lường trước tình huống ấy. Còn khi thị trường suy sụp, mình cũng bị ảnh hưởng theo là chuyện tất yếu.
      Một câu hỏi khá riêng tư. Nhiều tổ chức vẫn đang đứng ngoài bữa tiệc chứng khoán. Vậy SSI có "lỡ tàu" không, thưa ông?
      - Không thể nói các tổ chức đã lỡ tàu được. Nhà đầu tư nhỏ có thể xoay xở nhanh với một số tiền nhỏ. Nếu một số tiền lớn mang đầu tư thì rủi ro thanh khoản rất lớn. Nếu đã không "chạy" được thì danh mục hôm nay hạch toán lãi, ngày mai có thể lỗ. Từ trước đến nay, SSI không bao giờ đánh bạc với thị trường bằng toàn bộ số tiền của mình. Chẳng hạn nếu SSI mua cả nghìn tỉ cổ phiếu thì thị trường sẽ biến động rất mạnh nhưng việc thoát ra cũng không dễ.
      Năm 2008, trong lúc mọi người lỗ nhiều thì SSI vẫn lãi vì SSI luôn kinh doanh trong trạng thái cân bằng, luôn lường trước các trường hợp xấu nhất chứ không vạch kế hoạch theo khả năng tốt nhất. Tôi không biết tổ chức khác như thế nào, nhưng với SSI, tôi ngạc nhiên với độ nóng nhưng không bất ngờ và cũng không hối tiếc gì trong chuyện kinh doanh. Mặc dù như đã nói, thị trường nóng đã đem lại lợi nhuận rất tốt cho SSI.
      Vừa rồi SSI có khá nhiều tin đồn, phần lớn là tin đồn tốt, "có lợi" cho giá cổ phiếu SSI. Vậy mà ông lại liên tiếp lên tiếng đính chính. Một lần nữa, ông lại chứng tỏ là người thích làm ngược?
      - SSI luôn đính chính những thông tin không chính xác. Kinh doanh phải quan tâm đến hai khía cạnh: Lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài. Những thông tin không chính xác rồi cuối cùng nhà đầu tư cũng sẽ biết. Chẳng hạn mới đây lại rộ lên tin SSI sẽ lãi "khủng". Thông tin đó rồi cuối năm nhà đầu tư cũng sẽ biết. Thị trường này thuận lợi, SSI có lãi lớn hơn nhiều kế hoạch nhưng không phải lãi "khủng" theo kiểu thị trường những năm 2006-2007.
      SSI từ trước đến nay tồn tại được vì NĐT tin tưởng vào thông tin chính xác. Nếu đã đính chính mà nhà đầu tư không nghe thì là chuyện khác, nhưng nghĩa vụ và văn hoá kinh doanh là phải đưa ra thông tin chính xác để khỏi hiểu nhầm. Tại thời điểm này, có thể người ta còn nghi ngờ tại sao mình phải đính chính những thông tin tốt, nhưng sau đó người ta biết chính xác rằng mình nói thật. Cái SSI cần là nhiều năm sau nữa người ta luôn nhìn SSI như một chỗ chỉ cung cấp thông tin chính xác. Bản thân thị trường chứng khoán là niềm tin, quan trọng nhất là phải có được niềm tin.
      "Chỉ số GDP của ta chưa tốt vì đang giảm. Cán cân thanh toán tiếp tục giảm, thu nhập từ xuất khẩu giảm. Tình hình kinh tế thế giới cũng vậy: GDP tăng trưởng âm, thất nghiệp tăng... Những con số gần đây chỉ cho thấy tình hình bớt xấu chứ chưa thể gọi là tốt. Với các DN, cũng chưa có tín hiệu nào cho thấy tốt thực sự mà chỉ là đỡ khó khăn hơn thôi. Trong khi đó chúng ta lại đang đầu tư cho cái bớt xấu tương tự như với cái tăng trưởng tốt. Đó là điều bất hợp lý tiềm ẩn rủi ro".
      Last edited by VN1000; 20-03-2010 at 06:10 PM.

    13. #31
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định Bắt đầu sóng CP Tài chính-Ngân hàng?

      Sếp SSI Nguyễn Duy Hưng: "Đến tôi cũng mất phương hướng"

      Trả lời câu hỏi của báo giới về TTCK hiện nay, ông Nguyễn Duy Hưng - Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty chứng khoán Sài Gòn (SSI) (ảnh dưới) phát biểu: "Không thể hiểu nổi! Điên thật rồi! Nói thật, đến tôi cũng mất phương hướng!".




      Câu trả lời của một trong những nhà lãnh đạo thị trường chứng khoán như một gáo nước lạnh, nhưng có sức cảnh báo mạnh, đặc biệt cho những nhà đầu tư còn đang "say máu" vì lợi nhuận mỗi ngày...

      Những chỉ báo đáng ngại

      Là một thành viên của thị trường, lãnh đạo một trong những công ty chứng khoán hàng đầu, lại tham gia xây dựng thị trường chứng khoán từ thời còn "trứng nước", chứng kiến nhiều thăng trầm của thị trường, lần này ông cảm thấy thế nào?

      - Thực sự thị trường đã tăng trưởng ngoài dự đoán. SSI lập kế hoạch kinh doanh cho thị trường chỉ xoay quanh 350 điểm. Tất cả những người kinh doanh CK không ai lại không vui trước việc thị trường tăng trưởng như vậy. Nếu thị trường càng nóng, từ địa vị kinh doanh, các CTCK càng vui: Phí môi giới cao, tự doanh thuận lợi, kiếm tiền dễ hơn... Thị trường tăng như hiện tại sẽ rất dễ dàng cho SSI đạt kế hoạch.
      Tuy nhiên từ góc độ của một thành viên để xây dựng thị trường thì tôi lại cảm thấy đáng lo. Nếu thị trường cứ lên thẳng đứng như vậy thì tính bền vững không cao. Tăng trưởng đó không tốt về lâu dài và đó mới là cái đáng lo hơn cơ hội kiếm lời trước mắt một vài tháng. Thị trường chứng khoán chỉ tốt được khi xây dựng được một hệ thống lòng tin với nhà đầu tư (NĐT).
      Sau 2007-2008 lòng tin của NĐT với thị trường bị xói mòn rất lớn. Nếu lại lặp lại câu chuyện tăng thẳng đứng và rơi thẳng đứng nữa thì lòng tin còn hay không? Khi lòng tin của NĐT không còn nhiều mới là điều đáng sợ với những người xây dựng thị trường.

      Chúng ta thường nghe nói TTCK đi trước nền kinh tế từ 3-6 tháng. Vừa qua cũng có những chỉ số vĩ mô khá tích cực. Có thể coi đó là lời giải thích hợp lý cho những gì đang diễn ra không, thưa ông?

      - Phải thừa nhận kinh tế vĩ mô đã cải thiện hơn rất nhiều so với thời điểm xấu nhất, thời kỳ lạm phát tăng rất cao, NĐT nước ngoài bán ra rút vốn. Chúng ta lạc quan nhưng cũng không nên quá lạc quan. Kinh tế thế giới được nhận định là có thể đã qua đáy nhưng để phục hồi không thể ngày một ngày hai. Với Việt Nam, hiện nay cơ cấu nền kinh tế chưa có gì là tốt hơn nhiều khi các ngành nghề vẫn không bật lên đáng kể so với thời kỳ trước.
      Kinh tế vĩ mô tốt là phải tăng trưởng so với thời kỳ trước liền kề. Rõ ràng chỉ số GDP của ta chưa tốt vì đang giảm. Cán cân thanh toán tiếp tục giảm, thu nhập từ xuất khẩu giảm. Tình hình kinh tế thế giới cũng vậy: GDP tăng trưởng âm, thất nghiệp tăng... Những con số gần đây chỉ cho thấy tình hình bớt xấu chứ chưa thể gọi là tốt.
      Với các DN, cũng chưa có tín hiệu nào cho thấy tốt thực sự mà chỉ là đỡ khó khăn hơn thôi, chưa có DN nào trở lại thời kỳ sung mãn cả. Chẳng hạn trước DN bên bờ vực phá sản, giờ nguy cơ đó bớt đi. Như với nhiều CTCK, làm ăn tốt hơn chẳng qua là nhờ hoàn nhập dự phòng, đầu tư tài chính khởi sắc chút, còn các mảng khác vẫn rất kém.
      Như vậy các yếu tố kinh tế hỗ trợ có tốt, nhưng không đủ tốt để TTCK tăng gấp đôi chỉ trong một thời gian ngắn như vậy. Trong khi đó chúng ta lại đang đầu tư cho cái bớt xấu tương tự như với cái tăng trưởng. Đó là điều bất hợp lý tiềm ẩn rủi ro.

      Tuy nhiên vừa thực tế có những số liệu cho thấy DN đã có lãi. Liệu chúng ta có quá lo lắng cho DN hay không?

      - Có những DN vẫn trụ vững trong bối cảnh khó khăn. Đó là những DN tốt. Tuy nhiên, cũng phải cảnh giác với những con số lãi vì vừa qua khá nhiều DN tham gia đầu tư tài chính. Ở các nước, các DN sản xuất kinh doanh trên cơ sở một ngành nghề cốt lõi chứ không đầu tư tài chính vì nếu đầu tư tài chính thì họ bỏ vào các quỹ để chuyên nghiệp hoá chứ không tự mình làm. Nhưng ở VN, hầu như các Cty mạnh đều có tham gia đầu tư tài chính và sở hữu chéo nhau.
      Do đó khi thị trường xuống, một cổ phiếu mất giá thì các Cty khác phải trích lập dự phòng và cùng lỗ. Lúc thị trường lên, chỉ cần một cổ phiếu tăng giá, các Cty khác lại được hoàn nhập dự phòng thì bảng kế toán lại được cải thiện nhiều. Tuy nhiên, đó chỉ là trên sổ sách vì phần hồi dự phòng nhiều khi còn lớn hơn cả lợi nhuận từ sản xuất chính. Nhưng đó lại chính là điểm yếu vì thực chất hoạt động kinh doanh cốt lõi chưa có gì cải thiện cả. Lãi đó vì thế không bền vững vì phụ thuộc lớn vào yếu tố thị trường.
      Chúng ta phân tích đầu tư trên cơ sở một cái sổ kế toán hiện tại là tốt nhưng cái số tốt đó mấy ngày trước đang còn rất xấu và không có gì chắc chắn nó sẽ không xấu trở lại, thì đó cũng lại là rủi ro.

      Ông dường như là người luôn làm ngược. Năm 2003, khi thị trường chứng khoán ở vào tình trạng tồi tệ nhất trong lịch sử, ông lại tỏ ra quá tự tin khi nói với nhân viên của mình: "Đây là cơ hội lớn. Nghịch cảnh tạo ra những cơ hội phát triển đột biến cho những ai nỗ lực...", và rồi SSI đã có cơ hội thật. Nhưng trong những bối cảnh tưởng như thuận chiều, ông lại đánh giá thị trường với con mắt quá khắt khe?

      - Tôi vẫn cho rằng thị trường tăng dốc đứng là biểu hiện sự không lành mạnh. Nếu không tỉnh táo thì lúc quay đầu rất có thể sẽ phải quay lại bài toán 2007-2008. Rất nhiều người sẽ mất tiền.

      Một tín hiệu đơn giản: Thị trường chứng khoán là một kênh thu hút vốn dài hạn nhưng tại thời điểm này không thực hiện được. Công ty chứng khoán không dám bảo lãnh dù nhiều DN rất muốn phát hành thêm để huy động vốn. Tuy nhiên, thị trường vẫn cứ tăng do đâu? Theo tôi là do lượng vốn ngắn hạn đổ vào thị trường quá lớn.

      Nhưng vừa qua đã có những công bố chính thức từ NHNN cho thấy các số liệu về dư nợ cho vay chứng khoán, bất động sản vẫn dưới mức cho phép?

      - Đây có thể coi là một đặc thù của nước ta. Khi ngân hàng đã có quy định rõ ràng về việc cho vay bất động sản, chứng khoán, thì không ai dại gì nói thẳng mục đích đi vay của tôi là để làm việc đó. Nếu như ở nước ngoài, tín dụng được cấp ra dựa trên cơ sở tín chấp, người ta rất quan tâm đến đồng tiền được vay sẽ đi đến đâu, khả năng thu hồi vốn như thế nào. Việt Nam nặng về cho vay thế chấp nên chỉ quan tâm đến tài sản đảm bảo.
      Nếu người dân trực tiếp đi vay để đầu tư chứng khoán không được, họ sẽ xoay sang vay hình thức khác, chẳng hạn thế chấp nhà hoặc bịa ra một dự án gì đó để vay được vốn rồi sử dụng vốn đó vào mục đích đầu tư chứng khoán. Chúng ta có thể so sánh đơn giản: Lúc thị trường tốt nhất, sầm uất nhất thì mức độ thanh khoản cũng chỉ 1.000-2000 tỉ đồng là rất cao rồi. Nhưng lúc này, 5.000 tỉ đồng mỗi ngày vẫn là bình thường.
      Với thực trạng bảo lãnh phát hành không thực hiện được, rõ ràng vốn dài hạn đang thiếu, DN không huy động được vốn dài hạn, bán trái phiếu không được; vốn nước ngoài vào rất ít. Trong khi đó vốn quay vòng trên thị trường lại rất lớn. Rõ ràng đó chỉ có thể là vốn ngắn hạn từ ngân hàng.
      Last edited by VN1000; 20-03-2010 at 06:12 PM.

    14. #32
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định Bắt đầu sóng CP Tài chính-Ngân hàng?

      “Giải mã” cổ phiếu SQC

      Gần đây, chưa có cổ phiếu nào niêm yết trong một thời gian ngắn mà nhận được sự quan tâm sâu sắc của nhà đầu tư như cổ phiếu SQC.

      Sự kết hợp của hai yếu tố thanh khoản thấp và giá trị vốn hóa thị trường cao đã đẩy SQC vào tình trạng tác động mạnh lên chỉ số sàn Hà Nội. Điều gì đang là “ẩn số” đằng sau cổ phiếu SQC?

      100 cổ phiếu làm chỉ số HNX xanh hoặc đỏ

      Chào sàn ngày 17/12/2009, SQC tăng 13 phiên liền và hầu hết mức tăng đều trên 6%/phiên (so với biên độ dao động cộng trừ 7% của HNX). Trong những ngày giao dịch đầu tiên, thanh khoản của SQC ở mức trung bình, phần lớn trên 100.000 cổ phiếu/ngày.

      Ngày 31/12/2009 thanh khoản SQC lên cao nhất với 489.400 cổ phiếu được chuyển nhượng ở mức giá bình quân 149.600 đồng/cổ phiếu. Sau khi lên đến đỉnh vào ngày 5/1/2010 với giá 159.800 đồng/cổ phiếu, SQC bắt đầu giảm giá một cách nhỏ giọt khoảng 1%/phiên, nhưng thanh khoản vẫn duy trì ở mức khá trên dưới 200.000 cổ phiếu/phiên.

      Tuy nhiên, từ ngày 11/1/2010 thanh khoản cổ phiếu này bắt đầu giảm nhanh, từ mức vài chục ngàn xuống 1.000-5.000 cổ phiếu/phiên và từ cuối tháng 1/2010 đến nay, thanh khoản xoay quanh 1.000 cổ phiếu/phiên. Có ngày lượng khớp chỉ có 100 cổ phiếu, mức tối thiểu cho một lệnh giao dịch trên sàn HNX.

      SQC có vốn điều lệ 1.000 tỉ đồng. Với giá đóng cửa ngày 12/3/2010 là 138.100 đồng/cổ phiếu, công ty có mức vốn hóa 13.810 tỉ đồng, tương đương 723 triệu đô la Mỹ, bằng 54,7% giá trị vốn hóa của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) và lọt vào tốp 20 doanh nghiệp niêm yết có mức vốn hóa lớn nhất của cả hai sàn.

      Ở vị trí thứ hai của sàn Hà Nội về mức vốn hóa, sự biến động giá cổ phiếu SQC trực tiếp tác động đến chỉ số HNX. Nếu cổ phiếu SQC tăng, chỉ số HNX tăng và ngược lại. Chuyện đó chẳng có gì đáng nói nếu giá trị giao dịch của SQC ở mức hàng chục tỉ đồng/phiên. Đằng này nhiều phiên liền, mỗi lệnh khớp của SQC chỉ có 100 cổ phiếu. Nên 100 cổ phiếu SQC tăng giá, chỉ số HNX lên điểm. Cũng 100 cổ phiếu ấy giảm giá, chỉ số HNX chuyển thành màu đỏ!

      Gần 92% cổ phiếu “bất động”

      Sở dĩ cổ phiếu của SQC có thanh khoản kém là do một tỷ lệ quá lớn cổ phần không được giao dịch. Theo bản cáo bạch niêm yết, trang 73-74, thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát, ban tổng giám đốc, kế toán trưởng và cổ đông pháp nhân liên quan nắm giữ tổng cộng 91,97 triệu cổ phiếu, tức 91,97% cổ phần SQC. Toàn bộ số cổ phiếu này bị hạn chế chuyển nhượng trong vòng sáu tháng kể từ ngày niêm yết.

      Về mặt luật pháp, SQC đáp ứng đầy đủ điều kiện niêm yết. Trước đây, theo quy định một công ty muốn niêm yết phải có tối thiểu 20% cổ phần do cổ đông công chúng bên ngoài nắm giữ. Quy định như vậy là để hạn chế tỷ lệ cổ phiếu “bất động” không thể giao dịch. Tuy nhiên, Luật Chứng khoán sau này đã sửa đổi, bỏ hai chữ “bên ngoài” và trong 20% cổ phần do công chúng nắm giữ hiện nay bao gồm cả cổ phần do người lao động sở hữu. Ở SQC, tỷ lệ cổ phần do người lao động và cổ đông bên ngoài nắm giữ chỉ có 8%, quả là quá thấp.

      Từ trường hợp SQC, có lẽ cơ quan quản lý và soạn thảo Luật Chứng khoán cần phải khôi phục lại hai chữ “bên ngoài” của quy định nói trên. Hai chữ “bên ngoài” đó có thể làm tăng, giảm rất nhiều tính đại chúng của một công ty. Nếu phần lớn doanh nghiệp niêm yết đều có tỷ lệ cổ phiếu “bất động” cao như SQC, thử hỏi làm sao thanh khoản của thị trường có thể cải thiện và phát triển?

      Về phía doanh nghiệp, SQC biết rõ cơ cấu cổ đông của mình, nhưng vì sao công ty vẫn quyết định niêm yết? Ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị tập đoàn Đầu tư Sài Gòn, người nắm giữ 60% cổ phần của SQC, cho biết: “Có hai lý do.

      Thứ nhất, niêm yết là con đường tốt nhất để SQC nâng cao quản trị doanh nghiệp. Dưới sức ép của cổ đông, doanh nghiệp phải kinh doanh hiệu quả để đạt lợi nhuận cao hơn.

      Thứ hai, SQC đang trong quá trình gọi vốn đầu tư của đối tác nước ngoài. Họ yêu cầu SQC phải là công ty đại chúng, công khai và niêm yết đáp ứng được đòi hỏi đó”. Có lẽ lý do thứ hai là nguyên nhân chính của việc SQC niêm yết chăng?

      Tốc độ tăng vốn chóng mặt

      SQC thành lập tháng 12/2006. Theo Bản cáo bạch niêm yết, trang 9- 10, trong vòng ba năm vốn điều lệ của công ty tăng chóng mặt từ 10 tỉ đồng lên 1.200 tỉ đồng (vốn thực góp 1.000 tỉ đồng) và càng đến ngày niêm yết, tốc độ tăng vốn càng nhanh. Vào tháng 12-2008 công ty có vốn 95 tỉ đồng, nhưng đến tháng 10/2009 đã lên 540 tỉ đồng và một tháng sau thì đạt 1.000 tỉ đồng.

      Ông Tâm giải thích việc tăng vốn ngay trước thời điểm niêm yết là để tạo điều kiện cho SQC góp vốn đầu tư vào Công ty Cổ phần Năng lượng Bình Định và Công ty Cổ phần Khoáng sản Ninh Thuận. Ngoài ra, vốn điều lệ lớn còn giúp công ty nâng cao tiềm lực tài chính, cân xứng với số vốn mà nước ngoài dự kiến đầu tư vào SQC.

      Nếu vẫn giữ nguyên số vốn điều lệ 95 tỉ đồng như thời điểm cuối năm 2008, SQC không phải đối mặt với việc bắt buộc tăng nhanh lợi nhuận để tỷ lệ lợi nhuận trên vốn không tụt xuống quá thấp. Tháng 12/2007 lợi nhuận sau thuế của công ty là 15,8 tỉ đồng/vốn điều lệ 79,5 tỉ đồng, EPS 1994 đồng/cổ phiếu. Cuối năm 2008 con số tương ứng là 11,3 tỉ đồng/95 tỉ đồng, EPS 1.188 đồng/cổ phiếu.

      Thế nhưng năm 2009 việc tăng vốn quá nhiều đã khiến EPS bị pha loãng mặc dù lợi nhuận sau thuế năm ngoái tăng gấp hơn hai lần năm 2008. Theo báo cáo tài chính quí 4/2009, lợi nhuận sau thuế cả năm của SQC là 25,8 tỉ đồng, EPS tụt xuống còn 862 đồng/cổ phiếu, P/E theo giá ngày 12/3/2010 là 160 (tính trên vốn điều lệ bình quân cả năm) hoặc 258 đồng/cổ phiếu, P/E 532 (tính trên vốn điều lệ cuối năm 2009). Chỉ số P/E này thực sự chót vót.

      Bản cáo bạch cho thấy năm 2010 lợi nhuận sau thuế của SQC dự kiến 300 tỉ đồng và tăng lên 420 tỉ đồng vào năm 2011. Ông Tâm khẳng định những con số trên là khả thi vì hiện nhà máy tinh chế quặng titan của SQC đã cho ra sản phẩm từ tháng 5/2009, nhưng công ty chưa bán vì còn đợi quyết định của Bộ Tài chính về mức thuế xuất khẩu titan đã chế biến. Hiện tại thuế xuất khẩu titan thô chỉ có 5%, nhưng titan tinh chế là 18%.

      “Thuế xuất khẩu titan tinh chế cao như vậy không khuyến khích việc chế biến, mà khuyến khích xuất khoáng sản thô, trong khi giá titan xuất thô chỉ có 50 đô la Mỹ/tấn, còn titan tinh chế tới 600 đô la Mỹ/tấn” - ông Tâm nhấn mạnh. Ông cho biết tháng 4/2010 SQC sẽ ký hợp đồng với đối tác bao tiêu sản phẩm là Itochu (Nhật).

      Thiếu hụt thông tin

      Rõ ràng trong những tháng tới, khi SQC bắt đầu xuất khẩu titan tinh chế, doanh thu và lợi nhuận của công ty sẽ thay đổi. Vấn đề là ở chỗ những thông tin về việc tồn trữ hàng chờ sửa đổi thuế suất xuất khẩu cũng như lý do của việc tăng vốn quá nhanh đã không được đề cập trong bản cáo bạch niêm yết, là tài liệu công khai duy nhất mà nhà đầu tư có được.

      Chính SQC thừa nhận rằng “sự biến động giá cổ phiếu không chỉ phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, mà còn vào tình hình thực hiện công bố thông tin và cung cầu TT. Để giảm thiểu tối đa rủi ro biến động giá cổ phiếu, công ty đảm bảo thực hiện đầy đủ, kịp thời quy định về công bố thông tin” (Nguồn: bản cáo bạch, trang 6). Việc trữ hàng hay gọi vốn nước ngoài là những thông tin quan trọng với công ty, nhưng nó đã không được cập nhật tới nhà đầu tư.

      Trước mắt, giải quyết thế nào vấn đề thanh khoản của cổ phiếu SQC và ảnh hưởng của nó đến chỉ số HNX vẫn là câu hỏi bỏ ngỏ. Phương cách, theo ông Tâm, “động viên” người lao động và cổ đông sở hữu cổ phiếu có thể chuyển nhượng ngay, tăng cường giao dịch là không khả thi. Hơn nữa tỷ lệ cổ phiếu hai đối tượng đó nắm giữ cũng không lớn. Phải đợi đến giữa tháng 6/2010, hết thời gian hạn chế sáu tháng, cổ phiếu của các cổ đông là thành viên hội đồng quản trị, ban giám đốc... mới có thể được giao dịch.

      Trong ba tháng chờ đợi ấy HNX có thể vẫn bị tác động bởi thanh khoản kém của cổ phiếu SQC, thật không công bằng cho thị trường. Đây đó đã có ý kiến thay đổi cách tính chỉ số sàn Hà Nội, nhưng chưa thấy HNX phản hồi. “Giải mã” cổ phiếu SQC chính là một kinh nghiệm quý đối với cơ quan quản lý thị trường chứng khoán cũng như đối với bản thân SQC về sự minh bạch, công khai thông tin khi trở thành cty đại chúng.
      Last edited by VN1000; 20-03-2010 at 06:10 PM.

    15. #33
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định STB đã đạt 1400 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng

      Trong kinh doanh CK, nhà đầu tư trước hết phải hiểu biết và nắm vững các nguyên tắc và phương thức cầm cố CK:
      1. Là một nghiệp vụ kinh doanh CK - ít nhất có hai chủ thể tham gia:
      a/ Bên cầm cố là thành viên lưu ký nhân danh chính mình hoặc được người đi vay uỷ quyền giao CK cho bên nhận cầm cố;
      b/ Bên cầm cố là thành viên lưu ký nhân danh chính mình hoặc được người cho vay uỷ quyền nhận cầm cố CK bên cầm cố.
      Việc thực hiện cầm cố CK trên cơ sở hợp đồng pháp lý cầm cố CK của hai chủ thể tham gia, trong đó quy định rõ giá trị CK cầm cố, số tiền vay, lãi suất và thời hạn trả nợ, phương thức xử lý CK cầm cố.
      2. TTGDCK sau khi kiểm tra thủ tục, nhất là tính hợp pháp, hợp lý của nó thì trung tâm phải mở tài khoản cầm cố và chuyển CK vào tài khoản cầm cố theo yêu cầu của bên cầm cố.
      Trường hợp bên cho vay (hoặc bên vay) không phải là thành viên lưu ký, bên cho vay (hoặc bên vay) phải uỷ quyền việc nhận cầm cố CK (hoặc việc giao CK cầm cố) cho một thành viên lưu ký khác.
      3. Tài khoản cầm cố phải tách biệt với tài khoản lưu ký các CK khác của bên cầm cố. Sau khi ghi vào tài khoản cầm cố CK, thì phải đình chỉ việc rút, chuyển khoản hoặc chuyển nhượng các CK trên tài khoản cầm cố trong thời gian cầm cố. TTGDCK gửi thông báo bằng công văn cho bên nhận cầm cố về việc đã thực hiện cầm cố CK.
      4. Việc giải toả cầm cố CK được thực hiện theo các nguyên tắc:
      a/ Người giải toả cầm cố CK phải là bên nhận cầm cố CK;
      b/ Có thể giải toả toàn bộ hoặc một phần CK cầm cố bằng hình thức rút chứng chỉ hay chuyển khoản;
      c/ Có văn bản đề nghị giải toả cầm cố CK của bên nhận cầm cố. Trên cơ sở đó, TTGDCK thực hiện huỷ bỏ việc cầm cố CK trong đăng ký người sở hữu CK và thông báo bằng văn bản cho người nhận cầm cố việc huỷ bỏ cầm cố CK và giải toả tài khoản cầm cố sang tài khoản khác.
      Nếu bên cầm cố CK thực hiện không đúng theo thoả thuận thì CK cầm cố đó được xử lý do các bên thoả thuận hoặc đưa ra bán đấu giá theo quy định của pháp luật.
      Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 02:53 PM.

    16. #34
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      Cổ phiếu là gì?
      * Khi một công ty gọi vốn, số vốn cần gọi đó được chia thành nhiều phần nhỏ bằng nhau gọi là cổ phần. Người mua cổ phần gọi là cổ đông. Cổ đông được cấp một giấy chứng nhận sở hữu cổ phần gọi là cổ phiếu và chỉ có công ty cổ phần mới phát hành cổ phiếu. Như vậy, cổ phiếu chính là một chứng thư chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần, và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu.
      * Thông thường hiện nay, các công ty cổ phần thường phát hành 02 dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Như vậy, sự khác biệt của 02 loại cổ phiếu cơ bản này là gì?
      * Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với công ty như:
      - Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh;
      - Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty;
      - Và phải chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình.
      * Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cố định; không có quyền bầu cử, ứng cử...v.v.

      Công ty cổ phần là gì?
      * Đó là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó. Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế. Các nhà đầu tư trở thành những cổ đông chính thức của công ty khi thực hiện mua các cổ phần do công ty phát hành. Cổ đông được quyền tham gia quản lý, kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí trong Ban Quản lý, Ban Kiểm soát và Ban Điều hành. Ngoài ra, cổ đông còn được quyền hưởng các khoản lợi nhuận do công ty tạo ra cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ góp vốn.
      * Ưu điểm của loại hình công ty cổ phần là nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn tương ứng với tỷ lệ góp vốn trong công ty; Quy mô hoạt động lớn và khả năng mở rộng kinh doanh dễ dàng từ việc huy động vốn cổ phần; Nhà đầu tư có khả năng điều chuyển vốn đầu tư từ nơi này sang nơi khác, từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác dễ dàng thông qua hình thức chuyển nhượng, mua bán cổ phần; Công tác quản lý hiệu quả cao do tính độc lập giữa quản lý và sở hữu.
      Bên cạnh những ưu điểm, loại hình công ty này cũng có những nhược điểm cơ bản, cụ thể là: Mức thuế tương đối cao vì ngoài thuế, công ty phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước, các cổ đông còn phải chịu thuế thu nhập bổ sung từ nguồn cổ tức và lãi cổ phần theo qui định của Nhà nước; Chi phí thành lập công ty khá tốn kém; Khả năng bảo mật kinh doanh và tài chính bị hạn chế do phải công khai và báo cáo với các cổ đông của công ty; Khả năng thay đổi phạm vi kinh doanh kém linh hoạt do phải tuân thủ theo những qui định trong Bản Điều Lệ của công ty. Tuy nhiên, với môi trường kinh doanh hiện nay trên thế giới cũng như tại Việt Nam, những nhược điểm trên hoàn toàn có khả năng khắc phục, hạn chế tối đa và đồng thời phát huy được những ưu điểm của loại hình này.

      Tại sao công ty lại phát hành cổ phiếu?
      * Công ty huy động vốn khi thành lập hoặc để mở rộng kinh doanh bằng hình thức phát hành cổ phiếu thì nguồn vốn huy động đó không cấu thành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều, trong khi sử dụng các phương thức khác như phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín dụng... thì hoàn toàn ngược lại. Tuy nhiên, mỗi phương thức huy động đều có những ưu nhược điểm riêng và nhà quản lý công ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp.

      Tại sao các nhà đầu tư chấp nhận trả một khoản tiền nhất định để nhận lại một mảnh giấy nhỏ được gọi là giấy chứng nhận cổ phần? và họ trông đợi gì khi mua cổ phiếu của một công ty phát hành hoặc từ những nhà đầu tư khác?
      * Theo định nghĩa cơ bản, giấy chứng nhận cổ phần là một dạng chứng thư có giá được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên thị trường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ. Mặt khác, người mua cổ phiếu nghĩ rằng, đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản lý công ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt động cũng như tiềm năng phát triển, sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao. Và nếu như vậy, đương nhiên họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán cổ tức cho các cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của công ty mình đã chọn. Thông thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường.
      Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 02:52 PM.

    17. #35
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      Những điểm quan trọng

      Mặc dù những nhà kinh doanh thành công có những chiến thuật, chiến lược khác nhau nhưng họ chia sẻ những điểm chung sau:
      - Cần có một khoản tiền dự trữ đề phòng những rủi ro. Khoản dự trữ này sẽ giúp nhà kinh doanh tiếp tục kinh doanh chứ không thụ động phụ thuộc vào kết quả của những “phi vụ” trước.
      - Cắt lỗ càng sớm càng tốt. Khi đã lỡ mua cổ phiếu bị xuống giá, cắt ngay. Không bao giờ giữ cố phiếu đang giảm giá và chờ giá sẽ cao trở lại.
      - Mua giá cao và bán giá cao hơn. Để kinh doanh thành công, không chỉ là mua thấp bán cao, mà còn là mua giá cao và bán ra cao hơn.
      - Đôi khi rút khỏi thị trường. Không phải lúc nào nhà kinh doanh cũng thành công, mà phải biết rút khỏi thị trường.

      O’Neil, Darvas và Loeb thường không thích tham gia thị trường đang xuống giá, trong khi đó Livermore lại không tham gia khi thị trường đều đặn, bình ổn.

      - Mua tập trung chứ không nên đa dạng hóa danh mục đầu tư.
      - Quan tâm đặc biệt đến khối lượng giao dịch và giá. Đối với những nhà kinh doanh cổ phiếu, hai chỉ số này quan trọng hơn bất cứ chỉ số nào, kể cả P/E, các loại tỷ suất lợi nhuận.
      - Sau khi thực hiện các phi vụ, phải bỏ thời gian phân tích để rút kinh nghiệm, tại sao mình thua hay thắng phi vụ đó.
      - Cống hiến toàn thời gian. Để kinh doanh thành công, phải dành công sức, thời gian. Ngay cả trường hợp Darvas là vũ công nhưng cũng dành một thời gian lớn hàng ngày (trên 8 tiếng) để theo dõi và thực hiện việc kinh doanh.
      - Thực hiện các cuộc nghiên cứu phân tích độc lập, các nhà kinh doanh cổ phiếu thành công phải biết tự nghiên cứu và phân tích, không nên dựa vào ý kiến tư vấn của người khác.
      - Quyết định dựa vào dữ kiện, không dựa vào cảm xúc. Ví dụ như nhà kinh doanh không tiếc khi phải bán ra cổ phiếu, không quá mừng rỡ mà bán lúa non khi giá cổ phiếu vẫn còn đang lên.
      - Quan trọng nhất là phải chấp nhận rủi ro. Một chiến lược đầu tư gọi là hiệu quả khi có thể giảm thiểu rủi ro và tăng cao lợi nhuận. Trong khi đó, các chiến lược kinh doanh hầu như phải chấp nhận mức rủi ro cao vì chính rủi ro cao đó là nguồn gốc của lợi nhuận cao. Nhà kinh doanh vì vậy phải chấp nhận những phi vụ thất bại, và đừng nên kỳ vọng rằng lúc nào họ cũng thắng được thị trường.
      Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 02:49 PM.

    18. Những thành viên sau đã cám ơn :

    19. #36
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định Bắt đầu sóng CP Tài chính-Ngân hàng?

      Các chiến thuật kinh doanh cổ phiếu

      Xin giới thiệu một số chiến thuật kinh doanh cổ phiếu của những nhà kinh doanh cổ phiếu lớn tại thị trường Mỹ, được đúc kết trong cuốn Lessons from the Greatest Stock Traders of All Time...
      ... tạm dịch Những bài học từ những nhà kinh doanh cổ phiếu thành công nhất của John Boik, và cuốn The 21 Irrefutable Truths of Trading tạm dịch 21 sự thật về kinh doanh cổ phiếu của John Hayden.

      Chiến thuật kinh doanh không cảm xúc và phân tích cơ bản của Bernard Baruh
      Bernard Baruh, xuất thân là nhân viên văn phòng của một công ty môi giới chứng khoán, là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công. Ông kiếm được bộn tiền nhờ vào dự đoán sự sụp đổ của thị trường chứng khoán Mỹ vào năm 1907 và 1929. Không chỉ là một nhà kinh doanh cổ phiếu thành công, ông còn làm việc cho chính phủ của Tổng thống Woodrow Wilson.
      Bernard Baruh quan niệm rằng thị trường chứng khoán phản ảnh tình hình kinh tế, chứ thị trường chứng khoán không quyết định được nền kinh tế. Và ông cũng tin tưởng mãnh liệt rằng, kết quả kinh doanh được quyết định bởi tâm lý của những người kinh doanh cổ phiếu.
      Ông sử dụng cái đầu “lạnh”, chứ không để cảm xúc len vào khi kinh doanh chứng khoán. Ông là người đầu tiên đưa ra chiến lược phân tích cơ bản trong kinh doanh. Trong đó ông nhấn mạnh đến ba yếu tố: độ lớn tài sản của công ty, giá trị của sản phẩm đối với người mua, và năng lực của ban lãnh đạo, trong việc chọn cổ phiếu của mình.

      Chiến thuật “Kim tự tháp” và “Thăm dò” của Jess Livermore

      Jess Livermore, xuất thân từ nhân viên của một công ty chứng khoán, là người có những chuỗi thành công và cả thất bại lớn trên thị trường kinh doanh chứng khoán. Ông cũng kiếm được cả núi tiền nhờ vào việc tiên đoán sự sụp đổ của thị trường vào năm 1907 và 1929. Tuy vậy, năm 1940, ngay sau khi ông viết cuốn sách nổi tiếng “How to Trade in Stocks”, ông bị thất bại, phá sản và tự tử.
      Chiến thuật “Kim tự tháp” do ông phát triển: mua vào nhiều hơn những cổ phiếu đang tăng giá và bán ra những cổ phiếu đang rớt giá, là một trong những chiến thuật được các nhà kinh doanh cổ phiếu áp dụng cho đến bây giờ. Chiến thuật thứ hai là chiến thuật “Thăm dò”. Trong chiến thuật này ông sẽ thực hiện việc mua có tính cách thăm dò một số cổ phiếu.
      Sau một thời gian ngắn, dựa vào hiệu quả lợi nhuận của những cố phiếu thăm dò này, hoặc là ông bán hẳn; còn không thì sẽ mua thật nhiều để đưa vào kim tự tháp của mình. Jess Livermore, cũng giống như phần lớn các nhà kinh doanh cổ phiếu lớn khác, quyết định dựa vào nghiên cứu và phân tích của bản thân, chứ ít khi dựa vào tư vấn của các chuyên gia, hay các công ty tư vấn.

      Chiến thuật “kinh doanh tập trung” và “hành động nhanh” của Gerald M. Loeb

      Thừa hưởng một lượng tài sản lớn, Gerald Loeb có nhiều thuận lợi hơn các nhà kinh doanh, đầu tư khác. Một điều khá lý thú là vào năm khi Benjamin Graham - một trong những “ông tổ” về đầu tư, viết cuốn “Phân tích chứng khoán”, kêu gọi các nhà đầu tư mua cổ phiếu và giữ lại để được nhận giá trị thật của cổ phiếu trong tương lai, thì Gerald M. Loeb viết cuốn “Chiến đấu cho sự tồn tại trên trị trường chứng khoán” với quan điểm hoàn toàn đối nghịch.
      Ông quan niệm rằng, các nhà kinh doanh phải hết sức năng động trong việc mua bán, và thị trường là chiến trường. Trái với quan điểm truyền thống của đầu tư là đa dạng hóa danh mục đầu tư, chiến thuật của ông là “kinh doanh tập trung”, tức là chỉ mua một số loại cổ phiếu sau khi đã lựa chọn kỹ càng và chấp nhận rủi ro của những cổ phiếu đó.
      Chiến thuật thành công thứ hai của ông là “hành động nhanh”. Ông luôn quyết định mua và bán thật nhanh trước khi những diễn biến lớn xảy ra.

      Chiến thuật “Kỹ thuật và cơ bản” và “lý thuyết hộp” của Nicolar Darvas

      Nicolar Darvas là một nhà kinh doanh nghiệp dư. Nghề nghiệp chính của ông là vũ công. Thế nhưng, với sự tập trung cao độ vào kinh doanh, ông đã kiếm được 2 triệu đô la, đó là số tiền lớn vào những năm 50 của thế kỷ trước.
      Ông là người phát triển lý thuyết hộp. Theo lý thuyết này, giá cổ phiếu lên và xuống trong những giới hạn nhất định, và tạo ra một cái “hộp”. Đến một thời điểm nào đó, giá của cổ phiếu sẽ vượt qua cái hộp này, và tạo ra một cái “hộp” mới. Mua vào những cổ phiếu ngay giai đoạn nó thoát ly cái hộp cũ sẽ tạo ra những lợi nhuận cao.
      Ông cũng là người đề ra phương pháp phân tích kỹ thuật - phối hợp với cơ bản. Tuy quan tâm cả hai, nhưng ông nghiêng về yếu tố kỹ thuật - chuyển động của giá, và số lượng cổ phiếu mua bán - hơn là yếu tố cơ bản - tình hình kinh doanh và năng lực quản lý của công ty.

      Chiến lược CANSLIM của William J. O’Neil

      Xuất thân là một người môi giới chứng khoán, William O’Neil trở thành nhà kinh doanh thành công và vẫn tiếp tục kinh doanh cho đến bây giờ. Ông là người sáng lập tờ Investor’s Business Daily và viết nhiều sách về đầu tư và kinh doanh cổ phiếu.
      Ông là người phát triển lý thuyết kinh doanh chứng khoán gọi là CANSLIM. Theo lý thuyết này của ông, giá một cổ phiếu sẽ chuẩn bị tăng khi có một hay nhiều đặc điểm sau đây:
      C - Current Quarter: Lợi nhuận trong quí tăng trưởng ít nhất 25%.
      A - Annual Earning: Lợi nhuận năm tăng trưởng so với ba năm trước ít nhất 25%.
      N - New Factors: Yếu tố mới, chẳng hạn sản phẩm mới, quản lý mới.
      S - Supply and Demand: Khi lượng cổ phiếu giao dịch tăng cao.
      L - Leader or Laggard: Giá cổ phiếu đi theo khuynh hướng những cổ phiếu hàng đầu.
      I - Institutional Sponsorship: Khi các nhà đầu tư tổ chức mua và sở hữu.
      M - Market Direction: Khi có 75% số cổ phiếu trên thị trường đi theo xu hướng của nó.
      Last edited by VN1000; 25-03-2010 at 02:49 PM.

    20. #37
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      10 tỷ phú giàu nhất thế giới 2010

      Lọt vào danh sách tỷ phú thế giới năm nay có tất cả 1.011 người, tăng mạnh so với con số 793 của năm ngoái, cho thấy kinh tế toàn cầu phần nào đã phục hồi sau cơn suy thoái thế kỷ.

      Trong danh sách tỷ phú thế giới Forbes mới công bố, chỉ 12% trường hợp có tài sản suy giảm so với năm ngoái.
      Dưới đây là danh sách 10 người giàu nhất thế giới 2010.
      1. Carlos Slim Helu (Mexico)
      Tài sản: 53,5 tỷ USD
      Lĩnh vực: Viễn thông
      Ông trùm viễn thông Carlos Slim Helu giàu lên nhanh chóng nhờ việc tư nhân hóa hãng dịch vụ điện thoại quốc doanh của Mexico những năm 1990. Đây là lần đầu tiên tỷ phú Mexico giành ngôi vị giàu nhất thế giới sau khi đã vươn lên vị trí thứ ba trong năm 2009, nhờ tài sản cá nhân tăng thêm 18,5 tỷ USD. Ảnh: AP
      2. Bill Gates (Mỹ)
      Tài sản
      : 53 tỷ USD
      Lĩnh vực: Công nghệ thông tin
      Người hùng của ngành công nghiệp phần mềm giờ chỉ đứng thứ hai trong danh sách các tỷ phú giàu nhất thế giới cho dù tài sản đã tăng 13 tỷ USD trong suốt năm qua. Cổ phiếu Microsoft lên giá gấp rưỡi, các khoản đầu tư cá nhân khác cũng mang lại lợi nhuận lớn cho Bill Gates. Giờ đây, 60% tài sản của Gates nằm ngoài Microsoft, bao gồm các khoản đầu tư vào chuỗi khách sạn hạng sang Four Seasons, hãng Televisa, Auto Nation. Bill Gates hiện không còn tham gia công việc điều hành hằng ngày ở Microsoft mà chuyên tâm làm từ thiện. Ảnh: AP
      3. Warren Buffett (Mỹ)
      Tài sản:
      47 tỷ USD
      Lĩnh vực: Đầu tư
      Thần tượng của các nhà đầu tư Mỹ kiếm được 10 tỷ USD trong năm qua nhờ giá cổ phiếu Berkshire Hathaway tăng vọt. Chuyện Warren Buffett vẫn bạo tay đầu tư trong bối cảnh thị trường chập chờn suốt năm qua là chủ đề bàn tán của nhiều người và thực tế là ông vẫn ăn nên làm ra. Tuy nhiên, đà phục hồi kinh tế chưa đủ để nhà đầu tư huyền thoại này cạnh tranh vị trí số 1 với tài phiệt Mexico. Ảnh: AP
      4. Mukesh Ambani (Ấn Độ)
      Tài sản:
      29 tỷ USD
      Lĩnh vực: Hóa dầu, dầu khí
      Công ty Reliance Industries của Ambani, hiện có giá nhất trên thị trường Ấn Độ, vừa chi 2 tỷ USD để nắm 65% cổ phần trong hãng năng lượng Canada Value Creations. Trước đó, công ty còn định chi 14,5 tỷ USD mua công ty hóa dầu LyondellBasell. Những thương vụ đình đám trong năm qua, cùng đà thăng hoa của giá nhiên liệu đã giúp Ambani giàu hơn. Ảnh: AP
      5. Lakshmi Mittal (Ấn Độ)
      Tài sản:
      28,7 tỷ USD
      Lĩnh vực: Thép
      Gốc Ấn, nhưng Mittal đang sống tại London và là cư dân giàu nhất nơi đây. Tập đoàn thép của ông - ArcelorMittal hiện là nhà sản xuất thép lớn nhất thế giới. Năm 2009, lợi nhuận của tập đoàn giảm 75%, bản thân Mittal cũng tự nguyện giảm thu nhập 12%, song nhờ cổ phiếu lên giá, tài sản của ông vẫn tăng đáng kể so với năm ngoái. Ảnh: AP
      6. Lawrence Ellison (Mỹ)
      Tài sản:
      28 tỷ USD
      Lĩnh vực: Công nghệ thông tin
      Tài sản của sáng lập viên hãng Oracle tiếp tục phình to nhờ cổ phiếu tăng giá 70% trong 12 tháng qua. Chỉ trong vòng 5 năm qua, Oracle đã mua 57 cong ty trên toàn thế giới, thương vụ gần nhất là mua Sun Microsystem với giá 7,4 tỷ USD. Cũng như Bill Gates, Lawrence Ellison bỏ học giữa chừng đi kinh doanh. Ông xây dựng Oracle năm 1977 và niêm yết trên thị trường chứng khoán đúng một ngày trước Microsoft (năm 1986). Ảnh: AP
      7. Bernard Arnault (Pháp)
      Tài sản:
      27,5 tỷ USD
      Lĩnh vực: Kinh doanh hàng xa xỉ
      Giá trang sức tăng mạnh cùng với đà đi lên của nhóm cổ phiếu hàng thời trang cao cấp, đã giúp người đàn ông giàu nhất EU lọt vào tốp 10 người giàu nhất thế giới. Giá cổ phiếu LVMH (nhà sản xuất các sản phẩm cao cấp như Louis Vuiton, Moet & Chandon tăng 57% trong năm ngoái. LVMH đang phát triển khu bất động sản thương mại cao cấp tại Thượng Hải - L'Avenue Shanghai cùng tỷ phú Macao Stanley Ho. Ảnh: AP
      8. Eike Batista (Brazil)
      Tài sản:
      27 tỷ USD
      Lĩnh vực: Công nghiệp mỏ
      Eike Batista được được xem là ứng viên triển vọng cho vị trí giàu nhất thế giới trong tương lai, khi chỉ sau một năm ông kiếm được 19,5 tỷ USD, nhiều nhất so với hơn 1.000 tỷ phú khác. Cha của Batista từng là bộ trưởng công nghiệp mỏ đáng kính của Brazil và là chủ tịch hãng khai mỏ khổng lồ Companhia Vale do Rio Doce với thế mạnh buôn bán vàng và khai khoáng. Ảnh: AP
      9. Amancio Ortega. (Tây Ban Nha)
      Tài sản:
      25 tỷ USD
      Lĩnh vực: Thời trang
      Indiex, tập đoàn thời trang do ông sáng lập và làm chủ, đang sở hữu nhiều thương hiệu danh giá như Zara, Massino Dutti và Stradivarius. Là một trong những tập đoàn thời trang lớn nhất thế giới, Indiex có 4.500 cửa hàng ở 73 nước. Gần đây, Indiex đã liên doanh với tập đoàn Ấn Độ Tata để mở chi nhánh ở thị trường tiềm năng này. Ảnh: Reuters
      10. Karl Albrecht (Đức)
      Tài sản:
      23,5 tỷ USD
      Lĩnh vực: Bán lẻ
      Karl Albrecht là ông chủ của chuỗi siêu thị khổng lồ ở Đức Aldi Sud với 1.000 cửa hàng mở tại Mỹ. Karl cùng người em trai Theo đã phát triển cơ nghiệp từ một cửa hàng tạp hóa nơi góc phố do mẹ để lại sau Thế Chiến II. 1961, hai anh em phân chia tài sản, Karl điều hành các cửa hàng ở khu vực miền Nam Đức cùng với quyền quản lý thương hiệu tại Anh, Australia và Mỹ. Còn Theo quán xuyến mạng lưới tại Đức và phần còn lại của châu Âu. Ảnh: AP
      Last edited by VN1000; 24-03-2010 at 09:06 PM.

    21. #38
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      10 tỷ phú kiếm tiền giỏi nhất thế giới

      Rất nhiều người từng mất kha khá trong khủng hoảng kinh tế năm trước lại kiếm được những khoản khổng lồ trong năm nay. Danh sách 10 người được Forbes đánh giá kiếm tiến giỏi đã thu thêm 122 tỷ USD trong năm qua.
      Tỷ phú người Brazil, Eike Batista, trong năm vừa qua kiếm được 19,5 tỷ USD, nâng tổng tài sản hiện có của ông lên 27 tỷ USD và đứng thứ 8 trong danh sách những người giàu nhất thế giới 2010 của Forbes. Ông hiện cũng là người giàu nhất Brazil. Cổ phần trong Tập đoàn Dầu khí khổng lồ OGX của ông đã tăng 215% trong 12 tháng qua. Eike Batista từng cưới một cô vợ là người mẫu nổi tiếng trên trang bìa tạp chí Playboy.Đứng đầu danh sách người giàu nhất thế giới 2010, Carlos Slim Helu và gia đình đã kiếm thêm được 18,5 tỷ USD trong năm vừa qua. Cổ phần của ông trùm ngành viễn thông này tại America Movil, Carso Global Telecom, Grupo Carso và Grupo Financiero Inbursa đều đã tăng mạnh trong năm qua. Một năm trước đó, tài sản của tỷ phú này đã "bốc hơi" 25 tỷ USD vì khủng hoảng kinh tế.Đã rút khỏi vị trí người đứng đầu ở Microsoft, nhưng tài sản của tỷ phú Bill Gates năm vừa qua cũng đã được tăng thêm 13 tỷ USD, và hiện ông đang nắm giữ tổng tài sản 53 tỷ USD, sau khi đã để mất chừng 7 tỷ USD một năm trước đó. Giá trị cổ phiếu của Microsoft năm vừa qua đã tăng gần 90%. 11,3 tỷ USD là số tiền Azim Premji đem về cho cá nhân trong năm qua. Cổ phiếu của ông tại Wipro, nhà xuất khẩu phần mềm lớn thứ ba nước Mỹ, đã tăng 3 lần. Tháng 11/2009, bộ phận chăm sóc khách hàng của công ty ông đã ký được một hợp đồng 46 triệu USD mua lại một thương hiệu chăm sóc cá nhân từ Anh. Còn có nhiều nguồn tin cho biết ông đang đàm phán với nhiều đối tác khác nữa. Người đàn ông giàu nhất nước Pháp, Bernard Arnault, đã thu về hơn 11 tỷ USD trong 12 tháng qua, sau khi mất 9 tỷ USD một năm trước đó. Cổ phiếu của ông trong tập đoàn hàng hiệu lớn LVMH Moet Hennessy Louis Vuitton đã phục hồi được 55% trong 12 tháng. Ông hiện còn sở hữu Go Voyages, nhà bán lẻ Carrefour, Le Cheval Blanc... và đứng thứ 7 trong danh sách người giàu nhất thế giới 2010, với 27,5 tỷ USD. Cũng nhờ giá trị cổ phiếu tăng trở lại, tỷ phú Vladimir Lisin đã kiếm thêm được 10,6 tỷ USD, nâng tổng tài sản lên 15,8 tỷ USD, đứng hạng 32 thế giới. Giá trị cổ phiếu trong Tập đoàn thép Novolipetsk của ông đã tăng gần 200% trong 12 tháng qua. Năm 2008, vì khủng hoảng kinh tế, kế hoạch mua lại nhà máy sản xuất ống thép của Mỹ John Maneely từ Tập đoàn Carlyle với giá 3,5 tỷ USD của ông đã không thành. Đây là một tỷ phú từng đi lên từ hai bàn tay trắng. Công việc đầu tiên của ông là thợ mỏ. Tiếp tục giữ vị trí thứ 3 trong danh sách người giàu nhất thế giới 2010 với 47 tỷ USD, nhưng số tiền mà tỷ phú Warren Buffett kiếm thêm được trong năm qua chỉ là 10 tỷ USD, chủ yếu nhờ sự lên giá của cổ phiếu Tập đoàn Berkshire Hathaway của ông. Trước đó, ông đã mất không ít khi đầu tư 5 tỷ USD vào Goldman Sachs và 3 tỷ USD vào General Electric (GE). Người đàn ông đứng thứ tư trong danh sách tỷ phú 2010, Mukesh Ambani, với tổng tài sản 29 tỷ USD, năm vừa qua kiếm thêm được con số khá khiêm tốn, 9,5 tỷ USD. Người đứng đầu Tập đoàn Dầu khí lớn nhất Ấn Độ Reliance vẫn đang gặp rắc rối trong một vụ kiện với người em trai về thỏa thuận giá cả cung cấp khí và đã tiêu tốn của ông khoảng 3,2 tỷ USD. 12 tháng qua, đại gia lâu đời trong ngành bất động sản tại Hong Kong, Lee Shau Kee, đã thu được 9,5 tỷ USD. Cổ phần tại Henderson Land Development, đã nhân đôi giá trị sau mất đi 50% một năm trước đó vì khủng hoảng. Lee Shau Kee từng có thâm niên 50 năm trong ngành địa ốc. Ông là Chủ tịch của Henderson từ 1976, đồng thời là người đứng đầu Hong Kong & China Gas và Tập đoàn Đầu tư Khách sạn Miramar, Phó chủ tịch Sun Hung Kai Properties Limited, Giám đóc Hong Kong Ferry (Holdings) và The Bank of East Asia.Người phụ nữ duy nhất trong danh sách kiếm tiền giỏi của năm là Savitri Jindal, với 9,5 tỷ USD thu về trong năm qua. Hiện tài sản của người phụ nữ này khoảng 12,2 tỷ USD. Bà là người đứng đầu Tập đoàn Thép và Năng lượng O.P. Jindal Group, sau khi chồng qua đời vì một tai nạn máy bay năm 2005.
      Last edited by VN1000; 24-03-2010 at 09:04 PM.

    22. #39
      Ngày tham gia
      Feb 2008
      Bài viết
      2,081
      Được cám ơn 142 lần trong 84 bài gởi

      Mặc định

      Tổ chức nào hôm nay mua 800.000 KLS vào lúc 9h36' nhỉ, ai có thông tin post lên cho anh em tham khảo.

    23. #40
      Ngày tham gia
      Sep 2009
      Bài viết
      1,907
      Được cám ơn 72 lần trong 25 bài gởi

      Mặc định

      50 phụ nữ giàu nhất sàn chứng khoán 2009



      Tổng tài sản của 50 phụ nữ nắm nhiều vốn chứng khoán nhất Việt Nam năm 2009 đạt gần 22.000 tỷ đồng, tăng gấp đôi năm ngoái. Trong đó, người đứng đầu danh sách có trong tay gần 2.700 tỷ đồng.


      Năm thứ hai liên tiếp, Chủ tịch Công ty Đầu tư và Công nghiệp Tân Tạo Đặng Thị Hoàng Yến duy trì ngôi vị số một trong Top 50 phụ nữ giàu có trên sàn chứng khoán 2009 do VnExpress.net thống kê. Theo giá đóng cửa phiên giao dịch 31/12/2009, hơn 77 triệu cổ phiếu ITA mà bà Yến đang sở hữu có giá trị 2.697 tỷ đồng, tăng hơn 2 lần so với tài sản của chính bà Yến một năm trước.

      Bà Yến khởi nghiệp và thành danh với ý tưởng táo bạo phát triển khu công nghiệp tại vùng đất nước mặn Tân Tạo, huyện Bình Chánh, một trong những huyện nghèo nhất của TP HCM trước đây. Sau 13 năm, Tân Tạo đã phát triển thành khu công nghiệp tập trung hiện đại, đa ngành quy mô hàng trăm hecta. Vốn điều lệ của Công ty cổ phần Đầu tư và Công nghiệp Tân Tạo hiện lên đến hơn 2.000 tỷ đồng. Tân Tạo cũng là một trong những doanh nghiệp làm từ thiện nhiều nhất nước.


      Bà Đặng Thị Hoàng Yến (ngoài cùng, bên trái) tại Hội nghị Kinh tế đối ngoại 2008. Ảnh: ITA.

      Là chị cả, bà Yến được ví như cánh đầu đàn của gia đình họ Đặng vốn nổi tiếng với những doanh nhân thành đạt và thiện tâm. Cả ba chị em Đặng Thị Hoàng Yến, Đặng Thành Tâm và Đặng Hoàng Phượng đều xếp thứ hạng cao trong danh sách 100 người giàu nhất sàn chứng khoán 2009 do VnExpress.net công bố hôm 31/12/2009. Người con thứ Đặng Quang Hạnh trong năm vừa rồi đã tặng hơn nửa triệu cổ phiếu ITA cho Quỹ học bổng Đại học Tân Tạo, song tài sản bằng cổ phiếu của ông vẫn lên đến gần 100 tỷ đồng.

      Trong Top 50 năm 2009, ngoài cô em gái Đặng Thị Hoàng Phượng xếp thứ 6 với hơn 986 tỷ đồng cổ phiếu ITA, KBCSGT, bà Yến còn có 2 người thân cùng nằm trong danh sách là con gái Nguyễn Phương Anh (đứng thứ 10) và em dâu Nguyễn Thị Kim Thanh (đứng thứ 14).

      Đứng thứ hai trong danh sách cũng là một người nắm giữ các cổ phiếu của gia đình họ Đặng. Năm 2009, với tư cách cổ đông lớn, bà Nguyễn Thị Kim Xuân đã tăng đáng kể số vốn nắm giữ trong Công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc. Tính đến 31/12/2009, với gần 25 triệu cổ phiếu KBC và 6,5 triệu cổ phiếu SGT, bà Xuân có trong tay gần 1.609 tỷ đồng.

      Cả hai trường hợp, bà Đặng Thị Hoàng Phượng và bà Nguyễn Thị Kim Xuân có thể xếp hạng cao hơn nếu được tính số cổ phiếu nắm giữ tại Công ty cổ phần Khoáng sản Sài Gòn - Quy Nhơn (mã chứng khoán SQC). Tính thêm 6,9 triệu cổ phiếu SQC theo giá đóng cửa năm 2009, bà Xuân có trong tay 3.053 tỷ đồng. Còn bà Phượng, nếu cộng cả 4,67 triệu cổ phiếu SQC, bà có số vốn chứng khoán lên đến gần 1.940 tỷ đồng. Tuy nhiên, như lý do khi VnExpress.net công bố danh sách 100 người giàu nhất, SQC cùng gần 30 mã cổ phiếu khác không đáp ứng các tiêu chí khảo sát như thời gian hoạt động, thời gian niêm yết và tính đại chúng.

      Bà Phạm Thu Hương, người từng giữ vị trí thứ hai Top 50 của năm 2008, năm nay lui xuống hàng thứ ba, cho dù tài sản tăng gần 400 tỷ đồng lên hơn 1.313 tỷ đồng. Chồng bà Hương, ông Phạm Nhật Vượng năm nay vẫn đứng thứ hai trong Top 100 người giàu trên sàn chứng khoán.

      Trong danh sách 50 phụ nữ giàu có, chỉ duy nhất 2 VIP giảm tài sản so với năm 2008. Tính chung cả 50 người, tổng số vốn chứng khoán mà họ nắm giữ tính tới cuối 2009 lên đến 22.000 tỷ đồng, chiếm hơn 80% tổng tài sản của gần 2.000 phụ nữ thuộc các mã khảo sát. Gần một nửa trong số 50 phụ nữ giàu nhất đang tham gia điều hành hoặc quản lý doanh nghiệp, số còn lại nắm giữ cổ phiếu với tư cách người thân của các nam doanh nhân. Người đứng cuối cùng trong danh sách hiện có trong tay gần 47 tỷ đồng, trong khi con số này của năm 2008 vỏn vẹn 24,3 tỷ.
      Last edited by VN1000; 24-03-2010 at 08:57 PM.

    Thông tin của chủ đề

    Users Browsing this Thread

    Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)

       

    Bookmarks

    Quyền viết bài

    • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
    • Bạn Không thể Gửi trả lời
    • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
    • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình