Những bất cập


Việc xác định giá trị phần vốn nhà nước ở Bảo Việt, cũng như những đơn vị chuẩn bị IPO, như vậy, khác hẳn với việc định giá doanh nghiệp khi cổ phần hóa trước đây. Tuy nhiên cách thức mới này bắt đầu bộc lộ những bất cập.


Thứ nhất, chẳng hạn như ở Bảo Việt, đã có sự không công bằng trong việc đấu giá mua cổ phần giữa nhà đầu tư nhỏ lẻ cá nhân và nhà đầu tư chiến lược. Nhà đầu tư cá nhân phải mua với giá trúng bình quân của ngày 31-5-2007 là 73.910 đồng/cổ phiếu, trong khi nhà đầu tư chiến lược được mua với giá tối thiểu bằng giá bình quân của ngày 26-6-2007 (là ngày nhà đầu tư nộp tiền, chấp nhận mua thực sự), chắc chắn thấp hơn giá ngày 31-5-2007.


Thứ hai sự chênh lệch quá lớn vốn điều lệ doanh nghiệp trước và sau cổ phần hóa (vốn điều lệ thực của Bảo Việt trước cổ phần hóa là 1.800 tỉ đồng, sau cổ phần hóa là 6.800 tỉ đồng, gấp 3,77 lần) gây sức ép cho doanh nghiệp về hiệu quả kinh doanh bởi tốc độ tăng trưởng lợi nhuận không thể ngang bằng tốc độ tăng vốn.


Mặt khác, việc tăng vốn như vậy sẽ làm giá trị cổ phiếu doanh nghiệp trở nên quá “loãng”, khó được chấp nhận đầu tư ở mức cao. Thường doanh nghiệp không muốn giá cổ phiếu của mình quá cao vì e ngại sức ép cổ đông về lợi nhuận, nhưng giá cổ phiếu thấp cũng không phải là điều họ mong muốn.


Hơn nữa, giá cổ phiếu thấp sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh công ty. Nhà đầu tư có thể nói: “Công ty đó chắc làm ăn kém nên giá cổ phiếu mới thấp như vậy”! Với cùng mức lợi nhuận sau thuế của năm 2007 là 615 tỉ đồng (theo bản cáo bạch), thì giá cổ phiếu của Bảo Việt sẽ khác xa hiện nay nếu vốn điều lệ của Bảo Việt là 1.800 tỉ đồng thay vì là 6.800 tỉ đồng.


Thứ ba việc Nhà nước thu về phần lớn thặng dư từ đợt đấu giá, doanh nghiệp chỉ được hưởng một phần nhỏ (mà trong phần nhỏ này, Nhà nước vẫn được hưởng phần lớn vì là cổ đông chi phối) là không hợp lý với doanh nghiệp.


Ngay cả những công ty tư nhân khi chuyển sang cổ phần, đấu giá cổ phần ra bên ngoài như Thủy sản Nam Việt, Thủy sản Minh Phú, phần thặng dư chủ đầu tư cũng để lại cho doanh nghiệp (nhập vào vốn chủ sở hữu công ty), chứ họ không lấy cho riêng mình.


Ở đây cần nhìn xa hơn là một khi phần vốn thặng dư được để lại, doanh nghiệp sẽ có tiềm lực phát triển, lợi nhuận cao, họ sẽ nộp thuế nhiều hơn và giá cổ phiếu công ty tăng, thì giá trị phần vốn nhà nước ở doanh nghiệp cũng tăng lên. Khi đó nếu bán ra, Nhà nước sẽ thu về một khoản tiền lớn hơn nhiều lần số thặng dư đã để lại cho doanh nghiệp.


Cũng cần phải nói thêm là trong các thời kỳ cổ phần hóa từ năm 2005 trở về trước, số tiền thu về từ bán bớt phần vốn nhà nước tại các đơn vị chuyển đổi sở hữu, đều được để lại cho doanh nghiệp sử dụng vào những việc như đào tạo người lao động, giải quyết lao động dôi dư, tái đầu tư cho doanh nghiệp phát triển.


Chính nhờ đó, hầu hết doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều làm ăn hiệu quả, nộp ngân sách, nộp thuế tăng vọt, số lượng lao động tuyển mới cũng tăng thêm, thu nhập của công nhân được cải thiện đáng kể. Và kết quả cuối cùng là giá trị phần vốn nhà nước còn lại ở doanh nghiệp tăng gấp 3-4 lần, thậm chí gấp 10-15 lần trước cổ phần hóa.


Còn hiện nay, việc Nhà nước thu phần lớn thặng dư từ phát hành thêm cổ phiếu trong khi phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp được giữ nguyên đang khiến không ít đơn vị băn khoăn. Mới đây nhất, BIDV đã đề xuất thặng dư từ bán cổ phần, Nhà nước nên để lại cho doanh nghiệp dưới hình thức vay ưu đãi hoặc sử dụng để tăng vốn cho chính Nhà nước trong trường hợp doanh nghiệp huy động thêm vốn, mở rộng đầu tư kinh doanh. Đề xuất này rất nên được Nhà nước xem xét.