Mối quan hệ giữa chứng khoán và lãi suất


Lãi suất


Lãi suất được hiểu theo một nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng
- giá cả của quan hệ vay mượn hoặc cho thuê những dịch vụ về vốn dưới
hình thức tiền tệ hoặc các dạng thức tài sản khác nhau. Lãi suất có tác
động mạnh nhất đến các nhà đầu tư tài chính cũng như thị trường tài
chính là lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung ương. Lãi suất chiết
khấu, hay còn gọi là lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà ngân hàng
trung ương (Ngân hàng Nhà nước) đánh vào các khoản tiền cho các ngân
hàng thương mại vay để đáp ứng nhu cầu tiền mặt ngắn hạn hoặc bất
thường của các ngân hàng này.


Tác động của lãi suất chiết khấu


Các ngân hàng thương mại phải tính toán tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền
gửi (dự trữ của ngân hàng) để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và họ có
một tỷ lệ giữa tiền mặt và tiền gửi an toàn tối thiểu. Tỷ lệ này ngoài
quy định của ngân hàng trung ương về tỷ lệ dự trữ bắt buộc còn phụ
thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng thương mại và dự trữ của
ngân hàng thường lớn hơn dự trữ bắt buộc do ngân hàng trung ương quy
định. Khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt thực tế của ngân hàng thương mại giảm
xuống đến gần tỷ lệ an toàn tối thiểu thì họ sẽ phải cân nhắc việc có
tiếp tục cho vay hay không vì buộc phải tính toán giữa số tiền thu được
từ việc cho vay với các chi phí liên quan trong trường hợp khách hàng
có nhu cầu tiền mặt cao bất thường:[*] Nếu lãi suất chiết khấu bằng lãi suất thị trường thì ngân hàng
thương mại sẽ tiếp tục cho vay đến khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm đến
mức tối thiểu cho phép vì nếu thiếu tiền mặt họ có thể vay từ ngân hàng
trung ương mà không phải chịu bất kỳ thiệt hại nào.[*] Nếu lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, các ngân hàng
thương mại không thể để cho tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm xuống đến mức
tối thiểu cho phép, thậm chí phải dự trữ thêm tiền mặt để tránh phải
vay tiền từ ngân hàng trung ương với lãi suất cao hơn lãi suất thị
trường khi phát sinh nhu cầu tiền mặt bất thường từ phía khách hàng.[/list]

Do vậy, với một tiền cơ sở nhất định, bằng cách quy định lãi suất
chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, ngân hàng trung ương có thể
buộc các ngân hàng thương mại phải dự trữ tiền mặt bổ sung khiến cho số
nhân tiền tệ giảm xuống (vì bội số của tiền gửi so với tiền mặt giảm)
để làm giảm lượng cung tiền. Ngược lại, khi lãi suất chiết khấu giảm
xuống thì các ngân hàng thương mại có thể giảm tỷ lệ dự trữ tiền mặt và
do vậy số nhân tiền tệ tăng lên dẫn đến tăng lượng cung tiền.


Thông qua lãi suất chiết khấu ngân hàng trung ương có thể kiểm soát
được lạm phát. Đây cũng là cách phổ biến mà ngân hàng trung ương các
nước sử dụng.


Nói một cách đơn giản, bằng cách tăng lãi suất chiết khấu, ngân hàng
trung ương làm giảm lượng cung tiền trong nền kinh tế bằng việc làm cho
chi phí vay trở nên đắt hơn.


Hiệu ứng của việc tăng lãi suất chiết khấu


Lãi suất chiết khấu tăng khiến cho việc vay tiền của ngân hàng
thương mại từ ngân hàng trung ương trở nên đắt hơn. Tuy nhiên, sự gia
tăng lãi suất chiết khấu không chỉ dừng lại ở đó, nó còn tạo nên tác
động lan truyền ảnh hưởng đến hầu hết các cá nhân và doanh nghiệp.


Tác động gián tiếp đầu tiên của việc gia tăng lãi suất chiết khấu:
các ngân hàng sẽ tăng lãi suất cho vay đối với khách hàng. Khách hàng
cá nhân bị ảnh hưởng thông qua việc lãi suất tăng đối với thẻ tín dụng
và các khoản vay ngắn hạn khác. Điều này tác động lên các cá nhân người
tiêu dùng, họ sẽ có ít tiền hơn để chi tiêu. Sau cùng, mỗi tháng mọi
người đêù phải trả tiền cho các hoá đơn và khi các hoá đơn này trở nên
đắt hơn thì khoản thu nhập dự phòng của mỗi gia đình sẽ trở nên ít
hơn. Điều này có nghĩa là mọi người sẽ giảm tiêu cho các dịch vụ và
hàng hóa cao cấp, và điều này sẽ tác động đến doanh thu và lợi nhuận
của doanh nghiệp.


Thông qua việc thay đổi hành vi của người tiêu dùng, tăng lãi suất
chiết khấu sẽ tác động gián tiếp lên doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh
nghiệp cũng chịu sự tác động trực tiếp từ lãi suất chiết khấu. Doanh
nghiệp cũng cần vay tiền từ ngân hàng thương mại để duy trì hoạt động
và mở rộng sản xuất. Một khi các khoản vay từ ngân hàng trở nên đắt
hơn thì các doanh nghiệp sẽ hạn chế việc vay tiền từ ngân hàng. Doanh
nghiệp chi tiêu ít hơn sẽ làm chậm tốc độ tăng trưởng của doanh nghiệp
và kết quả là lợi nhuận bị giảm sút.


Ảnh hưởng đến giá chứng khoán


Một trong những cách để định giá một doanh nghiệp chính là đưa tất
cả các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai chiết khấu về hiện tại. Lấy
giá trị của doanh nghiệp chia cho số lượng cố phần đang lưu hành ta có
giá trị một cổ phần. Gíá chứng khoán thay đổi tuỳ theo các kỳ vọng khác
nhau của nhà đầu tư về công ty ở các thời điểm khác nhau. Do đó mà nhà
đầu tư sẵn sàng mua hoặc bán cổ phần ở các mức giá khác nhau. Một khi
doanh nghiệp bị thị trường nhìn thấy là sẽ cắt giảm các chi phí đầu tư
hoặc là doanh nghiệp đang tạo ra lợi nhuận ít hơn vì chi phí vay nợ
tăng cao hoặc là doanh thu sụt giảm do người tiêu dùng cắt giảm chi
tiêu thì dòng tiền tương được dự đoán sẽ giảm đi. Và hệ quả là giá cổ
phần của doanh nghiệp sẽ thấp xuống. Nếu số lượng doanh nghiệp trên
TTCK có sự sụp giảm này đủ lớn thì xét toàn bộ thị trường, chỉ số thị
trường chứng khoán sẽ giảm.


Đối với nhiều nhà đầu tư, thị trường đi xuống hoặc giá chứng khoán
sụt giảm là điều không hề mong muốn. Nhà đầu tư nào cũng kỳ vọng giá
trị khoản đầu tư của mình sẽ không ngừng tăng lên, có thể là ở dạng lãi
vốn, cổ tức hoặc cả hai. Nhưng với kỳ vọng về sự tăng trưởng trong
tương lai thấp hơn và dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp không
tốt như mong đợi, chắc chắn không nhà đầu tư thông minh nào tiếp tục
đánh giá cao doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ mong đợi ít hơn khi sở hữu các
cổ phần. Hơn nữa, đầu tư vào cổ phiếu có thể được xem là rủi ro hơn so
với việc đầu tư vào các lĩnh vực khác. Do vậy khi giá chứng khoán sụt
giảm, các nhà đầu tư có xu hướng rút vốn ra khỏi thị trường chứng khoán
để đầu tư vào các tài sản khác như trái phiếu, vàng, bất động sản…


Ta xem xét về việc điều chỉnh lãi suất của FED. Lãi suất mà FED điều
chỉnh là lãi suất qua đêm (FED Fund Rate). Đây là lãi suất các ngân
hàng tính cho nhau khi vay qua đêm để bảo đảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Quyết định nâng, giảm lãi suất chính ra là do Ủy ban Thị trường Mở Liên
bang (FEDeral Open Market Committee) đưa ra. Lãi suất này sẽ tác động
lên lãi suất chiết khấu.


Các biểu đồ sau cho thấy việc điểu chỉnh lãi suất của FED tác động đến S&P500.


Giai đoạn từ 13/7/1990 đến 4/9/1992: Lãi suất giảm từ 8% xuống 3% (bao gồm cả giai đoạn suy thoái 1990 - 1991)











Giai đoạn từ 1/2/1995 đến 17/11/1998: Lãi suất giảm từ 6% xuống 4.75%








Giai đoạn từ 16/5/2000 đến 25/6/2003: Lãi suất giảm từ 6.50% xuống 1.00% (bao gồm cả đợt suy thoái năm 2001)





Giai đoạn từ 29/6/2006 đến 30/1/2008 Lãi suất giảm từ 5.25% xuống 3%





Thông qua 4 giai đoạn ta có thể thấy, việc điểu chỉnh giảm lãi suất
cho vay qua đêm của FED không phải lúc nào cũng mang lại hiệu ứng tăng
giá chứng khoán, tiêu biểu là giai đoạn từ giữa năm 2000 đến giữa năm
2003.





Ta tiếp tục xem xét việc tăng lãi suất chiết khấu ở Việt Nam trong năm 2005
[table]

Lãi suất chiết khấu |

4,5%/năm

|
1746/QĐ-NHNN ngày 1/12/2005 |

01/12/2005

|



Lãi suất chiết khấu |

4,00%/năm

|
316/QĐ-NHNN ngày 25/3/2005 |

01/04/2005

|



Lãi suất chiết khấu |

3,5%/năm

|
20/QĐ-NHNN ngày 07/01/2005 |

15/01/2005

|


[/table]








Lãi suất chiết khấu đã lần lượt tăng từ 3% lên đến 4.5%, nhưng
VNIndex luôn liên tục tăng trong suốt năm 2005. Từ đó ta có thể nhận
định, lãi suất và giá chứng khoán không thực sự có mối liên hệ chặt chẽ
với nhau.


Lãi sut nh hưởng nhưng không quyết đnh th trường chng khoán


Khi lãi suất chiết khấu gia tăng, hiệu ứng tổng thể là nó sẽ làm
giảm lượng cung tiền nhằm mục đích duy trì lạm phát ở mức thấp. Nó cũng
làm cho việc vay tiền của các cá nhân và doanh nghiệp trở nên đắt hơn,
nó tác động đến hành vi tiêu dùng của các cá nhân và chiến lược kinh
doanh của các doanh nghiệp, gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp,
khiến cho thu nhập thấp hơn và cuối cùng là nó có khuynh hướng làm cho
thị trường chứng khoán trở nên kém hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư.


Tuy nhiên, lãi suất không phải là yếu tố có tính quyết định đối với
giá chứng khoán và có rất nhiều yếu tố đáng lưu tâm tác động lên giá
chứng khoán và khuynh hướng thị trường - một sự gia tăng trong lãi
suất chiết khấu chỉ là một trong những cách đó. Do vậy, không ai có thể
tự tin nói rằng một công bố gia tăng lãi suất chiết khấu của ngân hàng
trung ương có thể tạo nên ảnh hưởng xấu đến toàn bộ giá chứng khoán.

Dưới đây là biểu đồ diễn biến của mức lãi suất tái chiết khấu và chỉ số S&P500.


[img]http://icedrakin.wordpress.com/DOCUME%7E1/ICEDRA%7E1/LOCALS%7E1/Temp/moz-screenshot-1.jpg">