Hoàn tất di dời nhà máy về KCN Tam Phước, tiếp tục theo đuổi việc đầu tư ra miền Bắc. IFS có 14 dây chuyền sản xuất đồ uống với tổng công suất trên 10 triệu lít/tháng. Ngoài ra, IFS sẽ lắp đặt thêm 1 dây chuyền nước uống đóng chai PET và 2 dây chuyền sản xuất (trước đây dự kiến chuyển ra miền Bắc) sẽ được lắp đặt tại nhà máy mới ở KCN Tam Phước vào cuối năm 2010.
Từ năm 2006, IFS đã tiến hành di dời trụ sở chính và nhà máy từ Biên Hòa về KCN Tam Phước, Long Thành, Đồng Nai. Để không bị ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, việc di dời nhà máy được thực hiện từng bước, và đã hoàn tất vào tháng 6/2009. Việc di dời nhà máy này, theo chúng tôi, sẽ phát sinh những khoản chi phí và tổn thất tài sản nhất định cho IFS.
Trong năm 2008, IFS đã không thành công trong việc huy động vốn để xây dựng nhà máy ở phía Bắc. Tuy vậy, IFS vẫn đang tiếp tục theo đuổi kế hoạch này vì đây là thị trường trung thành và rất có tiềm năng đối với các sản phẩm của công ty.
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
Năm 2008: Lỗ 220 tỷ đồng do giá nhôm tăng cao, không thành công trong hoạt động mở rộng đầu tư và chi phí lãi vay ở mức 25%. Chi phí bao bì (vỏ lon) chiếm tỷ trọng lớn trong giá vốn hàng bán. Giá nhôm tăng mạnh trong nửa đầu năm 2008 và đạt đỉnh ở mức hơn 3,200 USD/tấn. Chính điều này đã đẩy giá vốn hàng bán năm 2008 tăng mạnh, khiến tỷ lệ lợi nhuận gộp biên chỉ còn 9.85%, so với mức 21.77% trong năm 2007.
Trong giai đoạn này, IFS cũng tiến hành việc mở rộng ra phía Bắc bằng việc đầu tư thuê đất và ứng tiền trả trước mua thiết bị máy móc. Dự định nguồn vốn đầu tư này sẽ được bù đắp từ phát hành trái phiếu do ngân hàng ANZ thu xếp. Tuy nhiên, với tình hình khủng hoàng sau đó, việc phát hành trái phiếu đã không thành công. Việc phải hoãn dự án CTCP Thực phẩm Quốc tế Miền Bắc đã khiến IFS mất khoản tiền ứng trước để mua máy móc thiết bị và đặt cọc tiền thuê đất với giá trị gần tương đương 166 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, IFS còn phải gánh chịu các khoản vay với lãi suất 25%/năm đối với VND (không bao gồm các loại phí khác) và 10%/năm đối với USD nhằm đầu tư cho dự án này. Tổng chi phí lãi vay và tài chính trong năm 2008 là hơn 61 tỷ đồng.
Vì vậy, mặc dù doanh thu năm 2008 tăng trưởng 18.24% so với năm 2007, IFS vẫn phát sinh khoản lỗ lên đến hơn 220 tỷ đồng.
Năm 2009: Tái cấu trúc nợ thành công. Có thể tiếp tục phát sinh lỗ do định giá lại tài sản, nhưng hoạt động kinh doanh cốt lõi vẫn khả quan. Năm 2009, IFS buộc phải bán 70% vốn góp tại công ty TNHH Bao bì Thực phẩm Quốc tế (nay là Crown Đồng Nai) với giá 4.7 triệu USD nhằm tái cấu trúc các khoản nợ. Thương vụ này làm phát sinh khoản lỗ 2.3 triệu USD so với vốn góp ban đầu. Đồng thời diễn biến tỷ giá năm 2009 có nhiều bất lợi cho IFS khi phần lớn các khoản vay của IFS là ngoại tệ. Điều này khiến cho lỗ tỷ giá của IFS trong năm 2009 lên tới 27.95 tỷ đồng. Bên cạnh đó, do việc tái cấu trúc các khoản nợ chỉ được thực hiện xong vào cuối năm nên chi phí lãi vay năm 2009 vẫn còn đứng ở mức cao, hơn 50.5 tỷ đồng.
Vào tháng 6/2009, IFS đã hoàn tất việc di dời trụ sở chính và nhà máy từ Biên Hòa về KCN Tam Phước. Chúng tôi cho rằng việc di dời nhà máy này sẽ phát sinh những khoản chi phí và tổn thất tài sản nhất định cho IFS. Nhiều khả năng kết quả kinh doanh năm 2009 của IFS sẽ tiếp tục phát sinh lỗ khi công ty kiểm toán đánh giá lại các tài sản sau di dời.
Tuy vậy, với những phân tích dưới đây, chúng tôi cho rằng các yếu tố làm phát sinh các khoản lỗ trong năm 2008 và 2009 đang dần bị loại trừ. Trong khi hoạt động kinh doanh cốt lõi của IFS vẫn khả quan, chúng tôi kỳ vọng năm lợi nhuận năm 2010 của IFS sẽ được cải thiện đáng kể.
Doanh thu tăng trưởng ổn định ở mức hơn 15%. Nền kinh tế nhìn chung vẫn còn gặp nhiều khó khăn sau khủng hoảng, nhưng doanh thu năm 2009 của IFS vẫn đạt 987.9 tỷ đồng, tương ứng với mức tăng trưởng 15.8%. Điều đáng lưu ý là IFS luôn duy trì tốc độ tăng trưởng khá mạnh qua các năm, thậm chí đạt mức 18% trong năm 2008, năm khủng hoảng toàn cầu diễn ra.

Hoạt động kinh doanh mang tính mùa vụ cao. Doanh thu từ đồ uống chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu doanh thu của IFS. Đây là dòng sản phẩm có tính chất mùa vụ khá cao do chịu ảnh hưởng của yếu tố khí hậu. Cụ thể, giai đoạn quý 2 và 4 hằng năm là thời gian cao điểm của nhu cầu tiêu thụ, trong khi quý 3 là tháng thấp điểm nhất trong năm. Chúng tôi cho rằng tính chất này sẽ được lặp lại trong năm 2010. Đặc biệt trong quý 1 và 2 vừa qua, với thời tiết nắng nóng, doanh số bán ra của mặt hàng nước giải khát sẽ gia tăng đáng kể.
Tỷ lệ lợi nhuận gộp biên đang có dấu hiệu cải thiện. Năm 2008, chi phí đóng gói bao bì tăng gấp 2 lần. Đồng thời khủng hoảng tài chính năm 2008 khiến cho IFS khó có thể tăng giá sản phẩm để bù đắp các khoản chi phí, khiến cho tỷ lệ lợi nhuận gộp sụt giảm mạnh từ mức 21.8% của năm 2007 xuống còn 9.8%. Tuy nhiên, tỷ lệ lợi nhuận gộp biên đang được cải thiện đáng kể trong năm 2009 đạt 22.7%, do giá nguyên vật liệu đã bình ổn trở lại.
Chúng tôi kỳ vọng tỷ lệ lợi nhuận gộp biên sẽ chuyển biến tích cực trong quý 1 và 2/2010 vì IFS vừa tăng giá bán sản phẩm. Trong khi đó, giá đường và nhôm trên thị trường thế giới đã giảm khá mạnh trong quý 1/2010.

Nỗ lực tái cấu trúc các khoản nợ nhằm cắt giảm chi phí lãi vay. Trong năm 2009, trước áp lực chi phí lãi vay lớn IFS quyết định bán 70% vốn cổ phần đầu tư ở CTCP Bao bì Thực phẩn Quốc Tế (nay là Crown Đồng Nai) với giá trị 4.7 triệu USD và nhận thêm 16.8 triệu USD do bên đối tác cho vay. Ngoài ra, IFS còn nhận thêm khoản vay 5 năm giá trị 3.9 triệu USD từ Chủ tịch HĐQT của IFS. Với các khoản tiền nhận được IFS đã tiến hành trả 20 triệu USD nợ gốc và lãi vay ngân hàng.

Dòng tiền chưa thực sự ổn định. IFS đã phải di dời nhà máy từ trung tâm Biên Hòa, về KCN Tam Phước, Long Thành, Đồng Nai. Mặc dù IFS thực hiện phương án di dời theo nhiều giai đoạn nhằm giảm bớt ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất, nhưng các chi phí đầu tư xây dựng tác động tiêu cực lên dòng tiền của IFS. Công ty phải sử dụng dòng tiền từ hoạt động tài trợ để hỗ trợ nhu cầu đầu tư, sản xuất kinh doanh.
Vào tháng 6/2009, IFS đã hoàn tất việc di dời nhà máy, hoạt động của IFS đã ổn định trở lại. Chúng tôi kỳ vọng dòng tiền của IFS được cải thiện trong năm 2010.

So sánh với các doanh nghiệp trong ngành: Hoạt động kinh doanh cốt lõi rất cạnh tranh. Tốc độ tăng trưởng doanh thu ổn định, tỷ lệ lãi gộp khá cao, trong khi cơ cấu chi phí tương đồng. Chúng tôi nhận thấy mặc dù tốc độ tăng trưởng doanh thu của IFS không cao như các doanh ngiệp dẫn đầu ngành như VNM, KDC… nhưng nhìn chung duy trì được sự ổn định trung bình ở mức 18.2%, bất chấp khủng hoảng kinh tế. Bên cạnh đó, tỷ lệ lãi gộp của IFS qua các năm vẫn duy trì trên mức 20%, ngoại trừ năm 2008 bị ảnh hưởng đáng kể do giá nhôm tăng cao.