Chủ đề: IFS - Trà xanh không độ
Threaded View
-
03-06-2010 09:47 AM #11
RỦI RO ĐẦU TƯ
Năm 2009 có thể tiếp tục lỗ do đánh giá lại tài sản. Kết quả kinh doanh năm 2009 sử dụng trong báo cáo này được dựa trên Báo cáo Tài chính năm 2009 chưa được kiểm toán. Trong năm 2009, IFS đã tiến hành di dời trụ sở chính và nhà máy từ Biên Hòa về KCN Tam Phước, Long Thành, Đồng Nai. Việc di dời nhà máy này có thể sẽ phát sinh những khoản chi phí và tổn thất nhất định cho IFS khi đánh giá lại tài sản. Không loại trừ khả năng việc đánh giá lại này sẽ làm kết quả kinh doanh năm 2009 từ lãi (380 triệu đồng) chuyển sang lỗ, sau khi được kiểm toán.
Có thể gặp bất lợi về chi phí đóng gói bao bì sau khi thoái vốn khỏi Crown Đồng Nai. IFS hiện là công ty bao tiêu sản phẩm vỏ lon cho Crown Đồng Nai. Tuy vậy, lợi thế trong việc đàm phán về giá cả sẽ giảm đi ít nhiều trong tương lai, sau khi IFS đã thoái vốn hoàn toàn khỏi công ty này.
Áp lực cạnh tranh trong ngành ngày càng gay gắt, trong khi nhận dạng thương hiệu Wonderfarm chưa cao. Ngành sản xuất thực phẩm đồ uống có tỷ suất sinh lời khá cao nên thu hút nhiều nhà sản xuất tham gia. Mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt với sự thâm nhập của nhiều nhãn hàng mới, và nhiều doanh nghiệp đầu tư mạnh cho việc quảng bá, marketing. Trong khi đó, mức độ nhận dạng thương hiệu Wonderfarm là chưa cao, và IFS cũng chưa có những chiến dịch marketing bài bản.
Khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư và áp lực nguồn vốn lưu động. Quy mô hoạt động của IFS chỉ ở mức trung bình và vẫn đang tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, nguồn vốn của IFS vẫn còn khá hạn hẹp để xúc tiến đầu tư các dự án. Dòng tiền không tích cực trong những năm vừa qua cũng khiến IFS chịu áp lực duy trì nguồn vốn lưu động để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong khi đó, do vừa phải tái cấu trúc các khoản vay trong năm 2008 và 2009, IFS gặp khó khăn trong việc tiếp cận các khoản nợ vay ngân hàng.
Rủi ro biến động tỷ giá và lãi suất. IFS đang sử dụng khá nhiều vốn ngoại sinh, chủ yếu là USD, nhằm phục vụ cho nhu cầu vốn lưu động. Do đó, biến động tỷ giá và lãi vay có tác động khá lớn lên khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Rủi ro về cơ cấu cổ đông. Hiện tại cổ đông sáng lập và Hội đồng Quản trị đang nắm giữ đến hơn 80% lượng cổ phiếu lưu hành của IFS. Số lượng cổ phiếu niêm yết và tự do chuyển nhượng ít có thể tạo ra rủi ro về quyền kiểm soát doanh nghiệp và biến động giá cổ phiếu.
TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY
Công ty Cổ phần Thực phẩm Quốc Tế (IFS) tiền thân là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) được thành lập vào năm 1991. Từ năm 2005, IFS được chuyển đổi sang hình thức công ty cổ phần và niêm yết cổ phiếu trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM vào năm 2006. IFS là công ty có vốn đầu tư nước ngoài đầu tiên niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Hoạt động sản xuất kinh doanh chính hiện tại của IFS bao gồm: chế biến các loại nước trái cây, nước uống đóng chai, sản xuất các loại bánh kẹo, các sản phẩm chế biến từ nông sản.
Quá trình hình thành và phát triển của IFS:
HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH
Sản phẩm của IFS được chia thành hai nhóm sản phẩm chính: đồ uống và bánh kẹo.
Nước uống trái cây với thương hiệu chính Wonderfarm. Nhóm sản phẩm đồ uống bao gồm các loại nước giải khát, trong đó sản phẩm chủ lực là nước uống trái cây có nguồn gốc thiên nhiên với thương hiệu khá phổ biến như Wonderfarm, Tops... Doanh thu từ đồ uống chiếm 93.8% trong doanh thu năm 2009 của công ty. Áp lực từ các sản phẩm cạnh tranh trực tiếp như nước bí đao của Sagiko hay nước yến của Dona New Tower là không đáng kể. Dù vậy, IFS chịu cạnh tranh đáng kể từ các sản phẩm thay thế như Trà xanh Không độ của Tân Hiệp Phát, Trà xanh C2 của URC...
Bánh kẹo chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong doanh thu. Nhóm sản phẩm bánh kẹo bao gồm các dòng bánh biscuit, bánh xốp với các thương hiệu Okayo, Wdf,… chỉ đóng góp 2.2% trong tổng doanh thu 2009. Sản phẩm bánh kẹo của IFS chịu áp lực cạnh tranh từ các công ty thực phẩm có thương hiệu phổ biến tại Việt Nam như Kinh Đô (HoSE: KDC), Bibica (HoSE: BBC)…IFS có thể sản xuất tối đa 556,800 kg bánh kẹo/tháng với 7 dây chuyền sản xuất.
Doanh thu chủ yếu từ nội địa, với 3 kênh phân phối: “Siêu thị/Mua đứt bán đoạn”, “Bán hàng đặc biệt” và “Hệ thống máy bán hàng tự động”. Sản phẩm của IFS chủ yếu được tiêu thụ ở thị trường nội địa với 96.3% trong tổng doanh thu. Doanh thu hoạt động xuất khẩu chỉ chiếm 3.7% với thị trường chủ yếu là các nước Châu Á - Thái Bình Dương, Mỹ…, và tập trung vào cộng đồng người Hoa. Đây là nguồn cung ngoại tệ khá ổn định, giúp cân bằng cho các chi phí nhập khẩu.
IFS phân phối các sản phẩm qua 3 kênh chủ yếu là “Siêu thị/Mua đứt bán đoạn”, “Bán hàng đặc biệt” và “Hệ thống máy bán hàng tự động”, với hơn 110,000 địa điểm bán lẻ trên toàn quốc. IFS duy trì nhà phân phối rộng khắp các tỉnh thành và hỗ trợ chi phí vận chuyển đối với hình thức “Mua đứt bán đoạn”. Trong khi đó, hình thức “Bán hàng đặc biệt” chủ yếu phục vụ trong các căng tin, cảng hàng không và bán hàng qua “Hệ thống bán hàng tự động” có mục đích để quảng bá sản phẩm.
Chi phí đường chiếm khoảng 6% trong tổng chi phí nguyên vật liệu. IFS có thể chủ động nhập khẩu đường nhờ vào quota hằng năm và do đó, không chịu nhiều ảnh hưởng do biến động giá đường trong thời gian qua.
Ngoài ra, chi phí cho nguồn trái cây chiếm tỷ trọng khoảng 20% giá vốn. Loại nguyên vật liệu này chủ yếu được mua từ trong nước với nguồn cung cấp ổn định nên mức biến động không lớn lắm.
Thu được lợi nhuận hơn 6 tỷ đồng khi chuyển nhượng 20% vốn còn lại tại Crown Đồng Nai. IFS có thể mất lợi thế chủ động nguồn bao bì đóng gói. Trong năm 2009, IFS bán 70% vốn cổ phần đầu tư ở CTCP Bao bì Thực phẩm Quốc tế (nay là Crown Đồng Nai) với số tiền thu được trị giá 4.7 triệu USD. Khoản lỗ 2.3 triệu USD so với vốn góp ban đầu được IFS ghi nhận vào quý 2/2009.
Trong tháng 4/2010, IFS đã tiến hành lấy ý kiến cổ đông để tiếp tục nhượng bán toàn bộ 20% lợi ích đầu tư còn lại tại Crown Đồng Nai cho Crown Packaging Investment Pte. Ltd. Theo IFS, giá trị chuyển nhượng phần vốn này tương đương 3.3 triệu USD sẽ đạt thặng dư 10%, tức 330,000 USD (hơn 6 tỷ đồng) và được ghi nhận vào kết quả kinh doanh 2010.
Với thực tế chi phí đóng gói bao bì chiếm tỷ lệ lớn trong giá vốn hàng bán, việc thoái vốn hoàn toàn khỏi Crown Đồng Nai có thể làm IFS gặp bất lợi nhất định. Chúng tôi hiểu rằng, IFS hiện là công ty bao tiêu sản phẩm vỏ lon cho Crown Đồng Nai. Tuy vậy, lợi thế trong việc đàm phán về giá cả sẽ giảm đi ít nhiều trong tương lai, và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của IFS.
Thương hiệu Wonderfarm dẫn đầu trong phân khúc nước trái cây đóng lon. Thống kê của Euromonitor cho thấy thị phần năm 2008 của IFS chiếm 5.4% trong ngành hàng nước giải khát, trong đó nhãn hàng chiếm 4.2% thị phần, đứng thứ 7 trong ngành hàng. Nhìn chung, thị phần của IFS vẫn đứng ở khoảng cách khá xa so với hai hãng dẫn đầu thị trường là PepsiCo (17.4%) và Coca-Cola (12.5%).
Tuy vậy, IFS lại đang dẫn đầu về thị phần nước trái cây đóng lon. IFS có lợi thế cạnh tranh mạnh trong phân khúc này nhờ sản phẩm có yếu tố dinh dưỡng tự nhiên, hợp khẩu vị người tiêu dùng và thời hạn bảo quản sản phẩm lâu (khoảng 2 năm).
Hiện tại IFS sử dụng thương hiệu Wonderfarm với mức phí 1% lợi nhuận/năm, và đang cân nhắc mua lại thương hiệu này.
ke hoc nghe mong muon duoc làm quen vơi tất cả thành viên của vietstock. Trao đổi thông tin và nhận định thị trường, chia sẻ cơ hội đầu tư trên phương diên cùng có lợi và cộng tác lâu dài. Mọi liên hệ thông qua nick ym kehocngheck. Xin chan thành cảm ơn
Thông tin của chủ đề
Users Browsing this Thread
Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)
Similar Threads
-
Gán màu xanh/ đỏ cho volume
By padme in forum Kiến thức Chứng khoánTrả lời: 0Bài viết cuối: 07-12-2007, 05:27 PM




Trích dẫn
Bookmarks