“Triển vọng kinh tế năm 2009 Việt Nam và thế giới”


(Vietstock) - Đó là chủ đề trình bày của TS. Vũ Thành
Tự Anh – Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế
Fulbright, với các nhà đầu tư vào chiều ngày 24/04 tại trụ sở Công ty
chứng khoán Rồng Việt.


Trong bài trình bày, TS. Vũ Thành Tự Anh nêu lên tình
hình kinh tế Việt Nam và 4 khu vực kinh tế lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ,
Liên minh Châu Âu (EU), Nhật Bản và Trung Quốc. Đặc biệt, ông cũng đánh
giá một số chính sách hiện nay của Chính phủ cũng như đưa ra các dự
báo kinh tế Việt Nam năm 2009.


Theo TS. Vũ Thành Tự Anh, lạm phát Việt Nam có tính cơ
cấu trong nền kinh tế bởi vì cùng chịu cú sốc tăng giá của hàng hóa thế
giới như nhau. Tuy nhiên, lạm phát ở nước ta cao hơn nhiều so với các
nước trong khu vực và trên thế giới. Chẳng hạn, vào khoảng tháng
7/2008, lạm phát Việt Nam là 30% (12 tháng) nhưng các nước khác như
Trung Quốc và Thái Lan chưa đến 10%. Ông cũng nhấn mạnh cung tiền, tăng
trưởng tín dụng và đầu tư kém hiệu quả là nguyên nhân chính gây nên lạm
phát cao trong năm qua. Thâm hụt thương mại và ngân sách của Việt Nam
chiếm tỷ lệ quá cao so với GDP, đây cũng là vấn đề đáng lo ngại đối với
việc ổn định của nền kinh tế.


Liên quan đến vấn đề đầu tư và tăng trưởng, tỷ lệ đầu
tư trên GDP của Việt Nam cao nhưng tăng trưởng không tương xứng nên hệ
số ICOR rất cao, làm cho đầu tư của nước ta thiếu hiệu quả. Do đầu tư
nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu đầu tư (khoảng 25%, gồm FDI và
ODA) cho thấy tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào
nguồn vốn này. Hệ quả là khi nguồn vốn này giảm, tăng trưởng kinh tế sẽ
chậm lại.


Theo nhận định của ông, trong bối cảnh kinh tế khủng
hoảng, chính phủ nước ta đã có các động thái kịp thời nhằm vực dậy nền
kinh tế. Cụ thể, gói kích cầu của Chính phủ tăng liên tục, từ 1 tỷ USD
ban đầu nâng lên 6 tỷ USD và mới đây là 8 đến 10 tỷ đồng.


Song, hiệu quả của các gói kích cầu này rất khó xác
định vì thiếu thông tin và số liệu cụ thể. Gói kích cầu 1 tỷ USD bằng
việc hỗ trợ lãi suất khó đạt mục tiêu đề ra khi phần lớn tiền từ gói
kích cầu có thể quay lại ngân hàng.


Ngoài ra, ông cũng bày tỏ quan ngại về tình trạng thâm
hụt ngân sách của Việt Nam. Năm nay, thu ngân sách của chính phủ sẽ
giảm nghiêm trọng do các nguồn thu từ dầu mỏ, thuế xuất nhập khẩu, thuế
thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT và thuế thu nhập cá nhân đồng loạt
giảm. Chi tiêu của chính phủ tăng mạnh, do đó thâm hụt ngân sách lớn là
điều khó tránh khỏi. Các nguồn tài trợ thâm hụt như huy động trái
phiếu, vay nợ nước ngoài đều gặp khó khăn. Giải pháp tài trợ của chính
phủ có thể là vay NHNN, mà thực chất là in tiền và đưa vào lưu thông.
Hệ quả của việc này khá nghiêm trọng nếu chính phủ không kịp thời rút
tiền về khi kinh tế phục hồi.


Đánh giá triển vọng kinh tế Việt Nam, TS. Vũ Thành Tự
Anh cho rằng, sự phục hồi của nền kinh tế nước ta phụ thuộc nhiều vào
sự phục hồi của 4 khu vực kinh tế lớn trên. Theo ông, tăng trưởng kinh
tế Việt Nam trong năm nay chỉ khoảng 4%. Ông nhấn mạnh thêm, tăng
trưởng của Việt Nam không thể tồi tệ như EIU dự báo 0.3%, song cũng
không thể lạc quan như WB dự báo 5.5%.


Về kinh tế thế giới, TS. Vũ Thành Tự Anh nhận định
kinh tế các khu vực như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản khó có thể hồi phục nhanh.
Trong quý 1/2008, kinh tế cả 3 khu vực này đều suy giảm mạnh, thất
nghiệp tăng cao. Tuy nhiên, kinh tế Trung Quốc lạc quan hơn. Mặc dù Quý
1/2009, kinh tế nước này chỉ tăng 6.1%, thấp hơn nhiều so với giai đoạn
trước đó nhưng vẫn có triển vọng tăng trưởng nhanh trong các quý tới.
Động lực cho tăng trưởng của Trung Quốc nhờ vào thị trường nội địa
rộng lớn, hàng hóa có sức cạnh tranh cao và các gói kích cầu khá mạnh
mẽ và hiệu quả.


Với tình hình kinh tế đầy biến động, các dự báo của
IMF đã phải cập nhật và thay đổi liên tục. Theo đó, vào tháng 11/2008,
IMF đưa ra dự báo về tăng trưởng kinh tế thế giới là 2.2%, đến tháng
1/2009 là 0.5%. Mới đây, IMF tiếp tục hạ mức dự báo xuống còn -1.7%.


Liên quan đến thắc mắc của nhà đầu tư về vấn đề lạm
phát ở nước ta, ông cho rằng, với các chính sách mở rộng tài khóa hiện
nay của chính phủ, khả năng lạm phát quay trở lại là khá cao. Hơn nữa,
khi nền kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi, giá cả hàng hóa, năng lượng
tăng sẽ kéo theo lạm phát gia tăng. Thời điểm lạm phát tăng phụ thuộc
vào sự phục hồi của nền kinh tế.


Theo ông Tự Anh, Việt Nam cần có sự tách bạch Ngân
hàng đầu tư và Ngân hàng Thương mại nhằm đảm bảo vấn đề quản lý rủi ro
trong hệ thống ngân hàng.


Một vấn đề khác được nhắc đến nhiều trong thời gian
gần đây là việc Chính phủ có thể áp dụng kết hối ngoại tệ hay không.
TS. Vũ Thành Tự Anh cho rằng nếu áp dụng biện pháp này sẽ gây ra nhiều
hậu quả không tốt và đây chỉ nên là biện pháp cuối cùng khi không còn
biện pháp nào khác.