Kinh tế sẽ đi về đâu?
  • Thông báo


    + Trả lời Chủ đề
    Trang 1 của 2 1 2 CuốiCuối
    Kết quả 1 đến 20 của 29
    1. #1
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      49
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Kinh tế sẽ đi về đâu?



      Khủng hoảng kinh tế đang có vẻ qua đi. Nhiều nhà đầu tư đang hưng phấn về sự phục hồi của nền kinh tế. Theo tôi, hiện nay chưa có tín hiệu rõ ràng về phục hồi của kinh tế thế giới và Việt Nam.

      Mong các bác tham gia chia sẽ quan điểm và thông tin về nền kinh tế qua topic này.

      Trân trọng


    2. #2
      Ngày tham gia
      Apr 2007
      Bài viết
      808
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      Vĩ mô quá , ki.ạ nó bác ui . Cứ lướt lát trứng theo mông BBs kiếm xiền kìa. VNI lên 400 xong tèo về 250 , lướt sướng chưa? akaka

    3. #3
      Ngày tham gia
      Nov 2008
      Bài viết
      607
      Được cám ơn 24 lần trong 22 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      [quote user="thuyktpn"]

      Vĩ mô quá , ki.ạ nó bác ui . Cứ lướt lát trứng theo mông BBs kiếm xiền kìa. VNI lên 400 xong tèo về 250 , lướt sướng chưa? akaka

      [/quote]

      Em nghe mấy cụ phán CK sẽ lên 600 vào cuối năm nay. Em đang định nhà đánh quả, nhưng ko may nó sụp thì ra đê luôn
      Quyền lực + Không có kiểm soát = Tha hóa

      Cho nên các đồng chí phải nghiêm túc kiểm điểm, xác định nguyên nhân và đề ra kế hoạch cụ thể để xử lý, chấn chỉnh các hoạt động ....



    4. #4
      Ngày tham gia
      Feb 2009
      Bài viết
      62
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      “Triển vọng kinh tế năm 2009 Việt Nam và thế giới”


      (Vietstock) - Đó là chủ đề trình bày của TS. Vũ Thành
      Tự Anh – Giám đốc Nghiên cứu của Chương trình giảng dạy kinh tế
      Fulbright, với các nhà đầu tư vào chiều ngày 24/04 tại trụ sở Công ty
      chứng khoán Rồng Việt.


      Trong bài trình bày, TS. Vũ Thành Tự Anh nêu lên tình
      hình kinh tế Việt Nam và 4 khu vực kinh tế lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ,
      Liên minh Châu Âu (EU), Nhật Bản và Trung Quốc. Đặc biệt, ông cũng đánh
      giá một số chính sách hiện nay của Chính phủ cũng như đưa ra các dự
      báo kinh tế Việt Nam năm 2009.


      Theo TS. Vũ Thành Tự Anh, lạm phát Việt Nam có tính cơ
      cấu trong nền kinh tế bởi vì cùng chịu cú sốc tăng giá của hàng hóa thế
      giới như nhau. Tuy nhiên, lạm phát ở nước ta cao hơn nhiều so với các
      nước trong khu vực và trên thế giới. Chẳng hạn, vào khoảng tháng
      7/2008, lạm phát Việt Nam là 30% (12 tháng) nhưng các nước khác như
      Trung Quốc và Thái Lan chưa đến 10%. Ông cũng nhấn mạnh cung tiền, tăng
      trưởng tín dụng và đầu tư kém hiệu quả là nguyên nhân chính gây nên lạm
      phát cao trong năm qua. Thâm hụt thương mại và ngân sách của Việt Nam
      chiếm tỷ lệ quá cao so với GDP, đây cũng là vấn đề đáng lo ngại đối với
      việc ổn định của nền kinh tế.


      Liên quan đến vấn đề đầu tư và tăng trưởng, tỷ lệ đầu
      tư trên GDP của Việt Nam cao nhưng tăng trưởng không tương xứng nên hệ
      số ICOR rất cao, làm cho đầu tư của nước ta thiếu hiệu quả. Do đầu tư
      nước ngoài chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu đầu tư (khoảng 25%, gồm FDI và
      ODA) cho thấy tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào
      nguồn vốn này. Hệ quả là khi nguồn vốn này giảm, tăng trưởng kinh tế sẽ
      chậm lại.


      Theo nhận định của ông, trong bối cảnh kinh tế khủng
      hoảng, chính phủ nước ta đã có các động thái kịp thời nhằm vực dậy nền
      kinh tế. Cụ thể, gói kích cầu của Chính phủ tăng liên tục, từ 1 tỷ USD
      ban đầu nâng lên 6 tỷ USD và mới đây là 8 đến 10 tỷ đồng.


      Song, hiệu quả của các gói kích cầu này rất khó xác
      định vì thiếu thông tin và số liệu cụ thể. Gói kích cầu 1 tỷ USD bằng
      việc hỗ trợ lãi suất khó đạt mục tiêu đề ra khi phần lớn tiền từ gói
      kích cầu có thể quay lại ngân hàng.


      Ngoài ra, ông cũng bày tỏ quan ngại về tình trạng thâm
      hụt ngân sách của Việt Nam. Năm nay, thu ngân sách của chính phủ sẽ
      giảm nghiêm trọng do các nguồn thu từ dầu mỏ, thuế xuất nhập khẩu, thuế
      thu nhập doanh nghiệp, thuế VAT và thuế thu nhập cá nhân đồng loạt
      giảm. Chi tiêu của chính phủ tăng mạnh, do đó thâm hụt ngân sách lớn là
      điều khó tránh khỏi. Các nguồn tài trợ thâm hụt như huy động trái
      phiếu, vay nợ nước ngoài đều gặp khó khăn. Giải pháp tài trợ của chính
      phủ có thể là vay NHNN, mà thực chất là in tiền và đưa vào lưu thông.
      Hệ quả của việc này khá nghiêm trọng nếu chính phủ không kịp thời rút
      tiền về khi kinh tế phục hồi.


      Đánh giá triển vọng kinh tế Việt Nam, TS. Vũ Thành Tự
      Anh cho rằng, sự phục hồi của nền kinh tế nước ta phụ thuộc nhiều vào
      sự phục hồi của 4 khu vực kinh tế lớn trên. Theo ông, tăng trưởng kinh
      tế Việt Nam trong năm nay chỉ khoảng 4%. Ông nhấn mạnh thêm, tăng
      trưởng của Việt Nam không thể tồi tệ như EIU dự báo 0.3%, song cũng
      không thể lạc quan như WB dự báo 5.5%.


      Về kinh tế thế giới, TS. Vũ Thành Tự Anh nhận định
      kinh tế các khu vực như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản khó có thể hồi phục nhanh.
      Trong quý 1/2008, kinh tế cả 3 khu vực này đều suy giảm mạnh, thất
      nghiệp tăng cao. Tuy nhiên, kinh tế Trung Quốc lạc quan hơn. Mặc dù Quý
      1/2009, kinh tế nước này chỉ tăng 6.1%, thấp hơn nhiều so với giai đoạn
      trước đó nhưng vẫn có triển vọng tăng trưởng nhanh trong các quý tới.
      Động lực cho tăng trưởng của Trung Quốc nhờ vào thị trường nội địa
      rộng lớn, hàng hóa có sức cạnh tranh cao và các gói kích cầu khá mạnh
      mẽ và hiệu quả.


      Với tình hình kinh tế đầy biến động, các dự báo của
      IMF đã phải cập nhật và thay đổi liên tục. Theo đó, vào tháng 11/2008,
      IMF đưa ra dự báo về tăng trưởng kinh tế thế giới là 2.2%, đến tháng
      1/2009 là 0.5%. Mới đây, IMF tiếp tục hạ mức dự báo xuống còn -1.7%.


      Liên quan đến thắc mắc của nhà đầu tư về vấn đề lạm
      phát ở nước ta, ông cho rằng, với các chính sách mở rộng tài khóa hiện
      nay của chính phủ, khả năng lạm phát quay trở lại là khá cao. Hơn nữa,
      khi nền kinh tế thế giới bắt đầu phục hồi, giá cả hàng hóa, năng lượng
      tăng sẽ kéo theo lạm phát gia tăng. Thời điểm lạm phát tăng phụ thuộc
      vào sự phục hồi của nền kinh tế.


      Theo ông Tự Anh, Việt Nam cần có sự tách bạch Ngân
      hàng đầu tư và Ngân hàng Thương mại nhằm đảm bảo vấn đề quản lý rủi ro
      trong hệ thống ngân hàng.


      Một vấn đề khác được nhắc đến nhiều trong thời gian
      gần đây là việc Chính phủ có thể áp dụng kết hối ngoại tệ hay không.
      TS. Vũ Thành Tự Anh cho rằng nếu áp dụng biện pháp này sẽ gây ra nhiều
      hậu quả không tốt và đây chỉ nên là biện pháp cuối cùng khi không còn
      biện pháp nào khác.



    5. #5
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      49
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      Em thấy kinh tế bắt đầu đi lên rồi. Các doanh nghiệp được tiếp sức lại sống ngon lành. Giá cả hàng hóa bắt đầu ấm lên. Kỳ nghĩ lên này người dân vẫn đi du lịch âm ầm như chưa từng có khủng hoảng vậy

    6. #6
      Ngày tham gia
      Jul 2008
      Bài viết
      2,844
      Được cám ơn 30 lần trong 22 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?

      [quote user="dockhachhanh"]


      Em thấy kinh tế bắt đầu đi lên rồi. Các doanh nghiệp được tiếp sức lại sống ngon lành. Giá cả hàng hóa bắt đầu ấm lên. Kỳ nghĩ lên này người dân vẫn đi du lịch âm ầm như chưa từng có khủng hoảng vậy





      [/quote]


      Tình hình kinh tế từ tháng sáu trở về sau là rât rất khả quan.


      Chu kỳ nào cũng vậy, sau suy thoái là tăng trưởng trở lại thôi.


      Trong tháng 6 nếu ko có bất tác động khách quan ( thiên tai..)ảnh hưởngđến KT thì chăc chắn VNI sẽ ở mức 380 - 400.

    7. #7
      Ngày tham gia
      Nov 2008
      Bài viết
      2,025
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      [quote user="canlong82"]

      [quote user="dockhachhanh"]


      Em thấy kinh tế bắt đầu đi lên rồi. Các doanh nghiệp được tiếp sức lại sống ngon lành. Giá cả hàng hóa bắt đầu ấm lên. Kỳ nghĩ lên này người dân vẫn đi du lịch âm ầm như chưa từng có khủng hoảng vậy



      [/quote]


      Tình hình kinh tế từ tháng sáu trở về sau là rât rất khả quan.


      Chu kỳ nào cũng vậy, sau suy thoái là tăng trưởng trở lại thôi.


      Trong tháng 6 nếu ko có bất tác động khách quan ( thiên tai..)ảnh hưởngđến KT thì chăc chắn VNI sẽ ở mức 380 - 400.

      [/quote]

      chưacó gì là chắc chắn cả

    8. #8
      Ngày tham gia
      Jul 2008
      Bài viết
      2,844
      Được cám ơn 30 lần trong 22 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?

      [quote user="cửng"]


      [quote user="canlong82"]




      [quote user="dockhachhanh"]


      Em thấy kinh tế bắt đầu đi lên rồi. Các doanh nghiệp được tiếp sức lại sống ngon lành. Giá cả hàng hóa bắt đầu ấm lên. Kỳ nghĩ lên này người dân vẫn đi du lịch âm ầm như chưa từng có khủng hoảng vậy



      [/quote]


      Tình hình kinh tế từ tháng sáu trở về sau là rât rất khả quan.


      Chu kỳ nào cũng vậy, sau suy thoái là tăng trưởng trở lại thôi.


      Trong tháng 6 nếu ko có bất tác động khách quan ( thiên tai..)ảnh hưởngđến KT thì chăc chắn VNI sẽ ở mức 380 - 400.


      [/quote]


      chưacó gì là chắc chắn cả


      [/quote]


      Cái gì cũng có điểm đầu, điểm cuối. theo tui thì suy thoái kt đã đang nằm vùng đáy thật sự rồi.


      Chậm nhất là quý 3/2009 sẽ phục hồi, và chứng khoán là kênh đón đầu và đi trước sự phục hồi của nền kt.


      Bây giờ VNI lựng khựng ở mức 300 là tui canh giá của từng e mà nhảy vào.


      Hiện còn khá nhiều cash cụ ạ. [8-|]

    9. #9
      Ngày tham gia
      Jun 2007
      Bài viết
      159
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?

      "Việt nam có sự tách bạch Ngân hàng đầu tư và Ngân hàng Thương mại nhằm đảm bảo vấn đề quản lý rủi ro trong hệ thống ngân hàng" nhất trí quan điểm này. Việc sửa đổi luật các tổ chức tín dụng cần tập trung sửa đổi. Cần nghĩ sao nếu các ngânhàng thương mại sử dụng vốn tiền gửi dân chúng để vác đầu tư các dự án dài hạn, rủi ro rất lớn. Các ngân hàng đầu tư thực hiện vai trò trung gian dẫn vốn tới các dự án trung và dài hạn. Hiện nay các Ngân hàng THUONG MẠI việt nam đang làm chức năng này, rủi ro là rất khó kiểm soát.

    10. #10
      Ngày tham gia
      Feb 2009
      Bài viết
      62
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      Em xin phép post bài về kinh tế Việt Nam đăng trên Vietstock để các bác đọc và binh luận

      Rất cảm ơn bác dockhach đã mở topic rất thú vị này

    11. #11
      Ngày tham gia
      Feb 2009
      Bài viết
      62
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      Các vấn đề tăng trưởng kinh tế Việt Nam


      (Vietstock) - Kinh tế Việt Nam liên tục tăng trưởng
      cao trong những năm qua nhưng có một số tồn tại trong nền kinh tế có
      thể làm giảm tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Trong giai đoạn hiện nay
      tăng trưởng kinh tế Việt Nam phụ thuộc nhiều vào sự phục hồi của kinh
      tế thế giới và những giải pháp của chính phủ.


      Sau khi cải cách kinh tế, Việt Nam đã đạt được những
      bước tăng trưởng vượt bậc, kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng lên một
      cách nhanh chóng. Việt Nam cũng thu hút được nhiều quan tâm của các nhà
      đầu tư nước ngoài, được thể hiện qua dòng vốn FDI và FPI chảy vào ngày
      càng lớn.


      Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Sự
      kiện này đánh dấu một bước ngoặt lớn trên con đường phát triển kinh tế
      của Việt Nam. Gia nhập WTO không chỉ giúp kinh tế Việt Nam có điều kiện
      hội nhập, được hưởng những chính sách thương mại có lợi mà đây còn là
      một động lực để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy vậy,
      gia nhập WTO cũng là một thách thức thực sự khi những yếu kém kém trong
      nền kinh tế vẫn chưa được khắc phục. Chất lượng tăng trưởng thấp, cơ sở
      hạ tầng yếu kém, thể chế pháp luật còn nhiều hạn chế, chất lượng nguồn
      nhân lực chưa cao. Đây chính là những hạn chế mà Việt Nam phải vượt qua
      để duy trì được một tốc độ tăng cao và đưa đất nước thoát khỏi nhóm
      nước nghèo như hiện nay.


      Bài viết của chúng tôi đánh giá một số vấn đề trong
      tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Để từ đó đưa ra xu hướng về tăng
      trưởng kinh tế Việt Nam trong tương lai.


      1.Bối cảnh kinh tế thế giới


      Trong những năm gần đây kinh tế thế giới đã đạt được
      tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Những nền kinh tế mới nổi như Ấn Độ, Trung
      Quốc có tốc độ tăng trưởng cao. Sự phát triển công nghệ thông tin,
      thương mại và dịch chuyển dòng vốn các quốc gia trở nên gần gũi và phụ
      thuộc lẫn nhau hơn.


      Năm 2008, khủng hoảng tài chính từ Mỹ đã nhanh chóng
      lan rộng và gây ra ảnh hưởng nặng nề trên quy mô toàn cầu. Tăng trưởng
      sụt giảm, thậm chí nhiều nền kinh tế rơi vào suy thoái, hệ thống tài
      chính rối loạn. Các quốc gia và tổ chức như IMF, WB… không ngừng nỗ lực
      thực hiện nhiều biện pháp để đối phó song triển vọng kinh tế toàn cầu
      cho đến này vẫn không mấy sáng sủa. Theo dự báo của các chuyên gia và
      tổ chức, kinh tế thế giới còn tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, khả
      năng phục hồi có thể chỉ bắt đầu từ cuối năm 2009. Hậu quả của cuộc suy
      thoái hiện nay sẽ còn kéo dài trong nhiều năm sắp tới.


      Trong bối cảnh như vậy, kinh tế Việt Nam sẽ chịu tác
      động rất lớn do xuất nhập khẩu, vốn đầu tư nước ngoài và kiếu hối suy
      giảm. Các doanh nghiệp sản xuất trong nước sẽ chịu sự cạnh tranh khốc
      liệt của hàng ngoại nhập. Sự ảnh hưởng này còn tăng thêm do kinh tế
      Việt Nam tồn tại một số yếu kém nên khó có những thay đổi kịp thời để
      thích nghi với tình hình mới.


      Bảng 1: Dự báo tăng trưởng kinh tế của WB tháng 11 năm 2008





      [table]



      [/table]
      (Cuối năm 2008 dự báo của WB còn khá lạc quan về tăng
      trưởng kinh tế thế giới. Dự báo mới nhất của WB vào tháng 4/2009 đã hạ
      mức dự báo tăng trưởng của các quốc gia. Kinh tế thế giới giảm khoảng
      1.7%, các nước phát triển giảm 3%, tăng trưởng của Trung Quốc chỉ còn
      6.5%, các nước Đông Nam Á, Singapore, Malaysia, Thái Lan tăng trưởng
      âm).


      2.Tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong thời gian qua


      Tăng trưởng GDP trung bình trong giai đoạn 2000 - 2007
      đạt 7.6% [1]. Năm 2007, tăng trưởng 8.48%, đây cũng là mức tăng cao
      nhất từ sau khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. So với các nước
      trong khu vực và trên thế giới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam những
      năm gần đây khá ấn tượng. Dù đạt được tốc độ tăng trưởng cao nhưng đây
      không phải là một hiện tượng thần kỳ vì theo tính toán của các nhà kinh
      tế thì tăng trưởng của Việt Nam đang ở dưới mức tiềm năng.


      Năm 2008, chịu ảnh hưởng từ bất ổn kinh tế vĩ mô và
      khủng hoảng tài chính thế giới, tăng trưởng GDP chỉ đạt 6.19% [2]. Tốc
      độ tăng trưởng này thấp hơn nhiều so với năm 2007 và mục tiêu đã đề ra
      của chính phủ. Nhóm ngành có tốc độ tăng trưởng giảm nhiều nhất là công
      nghiệp và xây dựng. Năm 2008, tăng trưởng của công nghiệp và xây dựng
      chỉ khoảng 6.33%, trong khi đó năm 2007 là 10.6%. Ngành xây dựng có mức
      suy giảm mạnh nhất từ mức 12.01% năm 2007 xuống 0.02% năm 2008. Nhóm
      ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2008 tăng trưởng 3.79%, không
      biến động nhiều so với tỷ lệ 3.4% của năm 2007. Quý 1 năm 2009 tăng
      trưởng GDP đạt 3.1%, thấp hơn nhiều so với năm 2008 và những năm trước
      đó. Tăng trưởng công nghiệp chỉ còn 1.5%, dịch vụ 5.4%, nông, lâm
      nghiệp và thủy sản tăng 0.4%. Điều này báo trước một năm 2009 là năm
      khó khăn với kinh tế Việt Nam.


      Hình 1: Tăng trưởng GDP và tỷ lệ đầu tư/GDP giai đoạn 1997 – Q1/2009









    12. #12
      Ngày tham gia
      Feb 2009
      Bài viết
      62
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      4.Chất lượng tăng trưởng thấp


      Tuy tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhưng chất lượng
      tăng trưởng còn khá thấp, cơ cấu trong nền kinh tế thiếu tính bền vững.
      Chất lượng tăng trưởng thấp đang đe dọa đến tính ổn định và sự bền vững
      phát triển kinh tế trong tương lai.


      4.1 Chất lượng tăng trưởng thấp thể hiện qua chỉ số ICOR cao


      Tỷ lệ đầu tư trên GDP của Việt Nam luôn ở mức cao so
      với các nước trong khu vực. Tính trung bình từ năm 2007 đến 2008 tỷ lệ
      đầu tư/GDP của Việt Nam là 39.7%. Năm 2008, tỷ lệ đầu tư/GDP lên đến
      43.1%, còn theo ước tính sơ bộ quý 1 năm 2009 tỷ lệ này là 37.4%. Dù
      đầu tư cao như vậy nhưng tốc độ tăng trưởng chỉ từ 6 - 8.5% nên hệ số
      ICOR [4] luôn ở mức cao (Hình 5).


      ICOR càng cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư trong nền
      kinh tế càng thấp. Chất lượng tăng trưởng thấp kéo dài là tiền đề gây
      nên lạm phát, khủng hoảng và suy thoái kinh tế.


      Hình 5: ICOR Việt Nam qua một số giai đoạn





      Nguồn: TCTK


      So sánh ICOR của Việt Nam với các nước trong khu vực có cùng giai đoạn phát triển kinh tế, ICOR của Việt Nam cao hơn rất nhiều.


      Hàn Quốc đã trở thành một “con rồng Châu Á” nhờ liên
      tục đạt được tốc độ tăng trưởng và chất lượng đầu tư cao. Các nước Đông
      Nam Á như Indonesia và Thái Lan có hệ số ICOR thấp hơn Việt Nam. Tuy
      vậy, các quốc gia này trong quá trình phát triển phải đối mặt với nhiều
      cuộc khủng hoảng. Trung Quốc được xem là một trường hợp đặc biệt khi
      liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng thần kỳ hơn 20 năm qua. Để đạt
      được thành tích đó ngoài những điều kiện phát triển thuận lợi như nguồn
      tài nguyên, nhân lực và chính sách phát triển phù hợp thì Trung Quốc
      phải trả giá khá đắt. Đó là sự ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên
      và bất bình đẳng trong xã hội. Điều này càng cho thấy với hệ số ICOR
      cao như vậy kinh tế Việt Nam khó có sự phát triển bền vững. Nếu tình
      trạng này không được cải thiện thì Việt Nam phải trả một cái giá rất
      đắt trong tương lai.


      Bảng 4: Tăng trưởng GDP và ICOR một số quốc gia Đông Á





      [table]



      [/table]
      4.2 Chất lượng tăng trưởng thấp thể hiện qua tăng trưởng nhân tố


      Để xem xét chất lượng tăng trưởng ngoài phương pháp
      đánh giá dựa vào hệ số ICOR, chất lượng tăng trưởng còn được đánh giá
      thông qua đóng góp của các nhân tố cho tăng trưởng.


      Theo lý thuyết về tăng trưởng, phương trình tăng
      trưởng Cobb-Douglas có 3 nhân tố đóng góp vào tăng trưởng đó là vốn
      (K), lao động (L), TFP [5] (cải thiện công nghệ, năng suất lao động,
      hiệu quả sử dụng vốn). Nếu yếu tố TFP càng cao thì được xem như chất
      lượng tăng trưởng càng cao. Bảng 5 cho thấy mặc dù yếu tố cải thiện
      công nghệ ngày càng chiếm tỷ lệ lớn trong đóng góp vào tăng trưởng
      nhưng vẫn còn chiếm một tỷ lệ nhỏ. So sánh với các quốc gia khác, chẳng
      hạn tỷ trọng TFP thời kỳ 1980 – 2000 Hàn Quốc là 39.96%, Ấn Độ là
      40.78%, yếu tố đóng góp cho tăng trưởng TFP của Việt Nam cũng thấp hơn
      hầu hết các nước trong khu vực Đông Nam Á. Điều này cho thấy mức độ
      đóng góp của cải thiện công nghệ và tăng năng suất lao động cho tăng
      trưởng của Việt Nam vẫn còn thấp. Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam phần
      lớn phụ thuộc vào tăng vốn đầu tư và tăng số lượng lao động.





      [table]



      [/table]
      4.3 Nguyên nhân làm cho chất lượng tăng trưởng không cao


      Trên đây chúng ta vừa xem xét hai yếu tố cho thấy chất
      lượng tăng trưởng của Việt Nam còn thấp. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn
      đến tình trạng này nhưng trong giới hạn của bài viết nay chúng tôi chỉ
      nêu lên một số nguyên nhân quan trọng và chính yếu sau.


      a.Đầu tư khu vực nhà nước hiệu quả thấp


      Hiện nay vốn đầu tư của nhà nước và các DNNN chiếm tỷ
      trọng lớn nhưng chưa mang lại hiệu quả cao. Tính trung bình từ năm 2001
      – 2008 tỷ lệ đầu tư của khu vực nhà nước chiếm 47.5% tổng số vốn đầu tư
      xã hội. ICOR của khu vực nhà nước luôn ở mức rất cao. Chẳng hạn năm
      2007 ICOR toàn bộ nền kinh tế là 5.4 lần, trong khi đó khu vực nhà nước
      là 8.3 lần, ngoài nhà nước 3.7 lần, còn khu vực vốn đầu tư nước ngoài
      là 5 lần.


      Ngoài ra còn nhiều vấn đề chưa hợp lý trong việc sử
      dụng vốn đầu tư từ ngân sách. Cơ chế “xin cho” giữa trung ương và địa
      phương, giữa Chính phủ và DNNN còn phổ biến. Những vấn đề trên tất yếu
      dẫn đến việc phân bổ nguồn vốn không hiệu quả. Thẩm định để lựa chọn
      các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước phần lớn không dựa trên tiêu chí
      hiệu quả làm đầu. Nhiều dự án đầu tư chậm tiết độ, không được sử dụng
      kịp thời. Ngoài ra không ít dự án đầu tư xong không được sử dụng hoặc
      chậm sử dụng. Mặt khác chi phí đầu tư của khu vực nhà nước lớn, chất
      lượng không đạt yêu cầu do thất thoát, lãng phí trong đầu tư xây dựng
      cơ bản, nhất là vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn ODA.


      Đầu tư của DNNN cũng đang tồn tại nhiều vấn đề cần
      phải xem xét. Sự bất ổn vĩ mô năm 2008, nhiều nhà kinh tế cho là có sự
      đóng góp lớn của nhiều tập đoàn và tổng công ty nhà nước. Các tập đoàn,
      công ty đã đầu tư một cách tràn lan ra nhiều lĩnh vực góp phần làm xuất
      hiện bong bóng tài sản tài chính và bất động sản.


      DNNN đang được ưu tiên sử dụng rất nhiều nguồn lực
      quốc gia như vốn, tài nguyên và vị thế kinh doanh, tuy vậy hiệu quả
      hoạt động của DNNN lại không tương xứng với những nguồn lực được ưu
      tiên đó. Nhiều lĩnh vực kinh doanh DNNN đang chiếm vị thế độc quyền,
      triệt tiêu áp lực cạnh tranh, làm giảm hiệu quả trong nền kinh tế.


      b.Phát triển ngành và các khu vực chưa hợp lý


      Để thành công trên con đường hội nhập luôn đòi hỏi mỗi
      quốc gia có được một chiến lược phát triển hợp lý. Việt Nam là một nước
      đi sau nên có cơ hội để học hỏi từ thành công và thất bại của những nền
      kinh tế đi trước. Tuy vậy, trên thực tế Việt Nam dường như đã không
      phát huy được lợi thế đó.


      Chính phủ Việt Nam một mặt khẳng định “phát triển kinh
      tế theo cơ chế thị trường và đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa DNNN”
      nhưng song song với đó là xây dựng những tập đoàn kinh tế nhà nước quy
      mô lớn, hoạt động đa ngành. Mục đích của việc xây dựng các tập đoàn
      kinh tế để tăng lợi thế kinh tế theo quy mô nhằm tăng sức cạnh tranh
      của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế. Ngoài ra, Việt
      Nam vẫn xem DNNN là thành phần chủ đạo trong nền kinh tế để duy trì sự
      “độc lập tự chủ” và phát triển kinh tế theo định hướng xã hội chủ
      nghĩa.


      Mặc dù mục đích trên tốt đẹp nhưng giữa các mục tiêu
      lại có mâu thuẫn với nhau và thực tế cũng đã cho ta thấy điều đó. Sự
      bất cập trong hoạt động của tập đoàn và tổng công ty nhà nước đã được
      mổ xẻ và phân tích rất nhiều trong thời gian qua..


      Nhà nước không tách bạch được chức năng quản lý và
      chức năng kinh doanh. Chính sách tập trung phát triển DNNN cũng không
      còn phù hợp trong bối cảnh kinh tế toàn cầu hiện nay. Các quốc gia trên
      thế giới đang ngày càng phụ thuộc lẫn nhau hơn. Sự cạnh tranh và phát
      triển của doanh nghiệp và quốc gia dựa trên việc tham gia vào chuỗi giá
      trị cung ứng toàn cầu.


      Sự bất cập trong cơ cấu nền kinh tế còn được thể hiện
      qua việc lựa chọn ngành trong chiến lược phát triển công nghiệp chưa
      tận dụng được lợi thế cạnh tranh của Việt Nam đang có.


      Nguồn lao động của Việt Nam dồi dào, trẻ, có trình độ
      học vấn nhưng thiếu kỹ năng và tay nghề. Nhiều dự án đầu tư của Việt
      Nam không phát huy được những lợi thế này. Trong khi đó điểm yếu của
      Việt Nam là vốn, kỹ thuật, công nghệ và quản lý. Nhiều chính sách và dự
      án của Việt Nam tập trung vào ngành thâm dụng vốn như thép, đóng tàu…
      Hay việc cho phép xây dựng nhiều sân golf lấy đi hàng nghìn ha đất nông
      nghiệp khiến cho không ít người dân vùng nông thôn thất nghiệp.


      Chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam không tạo
      ra được sự liên kết trước và sau để thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ
      trợ phát triển. Nhiều dự án FDI đầu tư vào Việt Nam nhằm khai thác
      những quy định lỏng lẻo về môi trường hay chỉ lợi dụng chính sách bảo
      hộ của nhà nước để tìm kiếm lợi nhuận không tạo ra được nhiều tiền đề
      cho sự phát triển kinh tế.


      Việt Nam rất nhiều lợi thế để phát triển ngành du lịch
      nhưng cho đến này vẫn chưa được khai thác đúng mức. Hạ tầng cứng và hạ
      tầng mềm cho ngành du lịch đang còn thiếu và yếu. Sự phát triển của một
      số ngành công nghiệp nặng, ô nhiễm đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến tiềm
      năng du lịch ở nhiều vùng trên đất nước.


      c.Chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học chưa cao


      Chất lượng nhân lực không cao và chậm áp dụng các tiến
      bộ khoa học công nghệ khiến cho năng suất lao động thấp, sức cạnh tranh
      của hàng hóa kém, giá trị gia tăng của các sản phẩm chưa cao.


      Nguồn nhân lực giá rẻ không còn được xem là lợi thế
      cạnh tranh của Việt Nam. Chất lượng nguồn nhân lực thấp trở thành một
      rào cản phát triển kinh tế. Số người lao động qua đào tạo đang chiếm
      một tỷ lệ thấp, chất lượng cũng chưa đáp ứng được những công việc đòi
      hỏi kiến thức và kỹ năng. Đào tạo đại học và nghề chưa theo sát với nhu
      cầu tuyển dụng của doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề nhân lực là một trở
      ngại lớn đối với nhiều doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam.


      Chất lượng công trình nghiên cứu ứng dụng còn thấp và
      số lượng lại ít. Hàng năm, ngân sách nhà nước sử dụng một phần không
      nhỏ cho nghiên cứu phát triển nhưng hiệu quả thu được rất khiêm tốn.


      Chi phí nghiên cứu nhiều dự án của nhà nước lên đến
      hàng tỷ đồng nhưng tính thực tiễn thấp. Nhiều dự án báo cáo xong nhưng
      không được triển khai ứng dụng mà “xếp vào tủ”. Nghiên cứu ở các trường
      đại học dừng lại ở mức độ thử nghiệm, thiếu tính ứng dụng. Những công
      trình được công bố ở nước ngoài và được quốc tế công nhận chiếm một tỷ
      lệ rất nhỏ. Doanh nghiệp trong nước chưa quan tâm nhiều đến nghiên cứu
      phát triển và ứng dụng những tiến bộ về khoa học công nghệ, nâng cao
      năng suất lao động.


      d.Cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được nhu cầu


      Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố quan trọng cho
      phát triển kinh tế. Cơ sở hạ tầng của Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng
      được yêu cầu phát triển của đất nước.


      Một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của nhà đầu
      tư nước ngoài khi đến Việt Nam là vấn đề cơ sở hạ tầng như giao thông,
      điện, viễn thông…


      Cơ sở hạ tầng điện phát triển chưa theo kịp nhu cầu.
      Với tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 7-8%/năm thì theo ước tính của các
      nhà khoa học, nhu cầu điện của Việt Nam tăng từ 16-17%. Hiện nay, công
      suất ngành điện mỗi năm tăng thấp hơn nhu cầu nên trong những năm gần
      đây, cảnh thiếu điện, cắt điện luân phiên, thường xuyên xảy ra trong cả
      nước. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế của đất nước. Lý
      giải của Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) là do giá điện thấp nên không
      thu hút được đầu tư vào ngành điện. Dù giá điện hiện nay đã tăng theo
      yêu cầu của EVN nhưng tình trạng thiếu điện có thể không sớm được khắc
      phục do đang có rất nhiều dự án phát điện bị chậm tiến độ. Ngoài ra, kế
      hoạch cải tổ ngành điện được xem là biện pháp khả dĩ để giải quyết tình
      trạng thiếu điện nhưng đang diễn ra khá chậm.


      Tổng đầu tư cho cơ sở hạ tầng của Việt Nam trong những
      năm gần đây giữ ở mức 10% GDP, cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế,
      trong đó các tài trợ từ nguồn vốn quốc tế chiếm 40% tổng mức đầu tư.
      Nhưng cơ sở hạ tầng của Việt Nam đang thiếu và đang trở nên quá tải.


      Chi phí vận tải ở Việt Nam cao hơn nhiều so với các
      nước trong khu vực. Việt Nam chưa có cảng biển mang tầm cỡ quốc tế.
      Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chi phí sản xuất hàng hóa ở Việt Nam,
      vì phải vận chuyển qua cảng trung gian. Vấn đề bất cập trong cơ sở hạ
      tầng hiện nay là thiếu một quy hoạch phát triển đồng bộ, chi phí đầu tư
      cao, chất lượng đầu tư thấp và thất thoát lớn trong quá trình đầu tư.


      Tình trạng ách tắc giao thông, giá đất cao, xây dựng
      cơ sở hạ tầng, đường giao thông đắt đỏ tại các đô thị lớn như Hà Nội và
      Tp. HCM là một trong những bước cản lớn cho phát triển của 2 thành phố
      lớn nhất nước này.


      Hệ thống viễn thông đang dần được cải thiện đáng kể
      khi có nhiều doanh nghiệp tham gia ở thị trường này. Tuy vậy, cơ sở hạ
      tầng cho hệ thống này cũng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của đất
      nước. Nhưng có lẽ vấn đề viễn thông không còn là một vấn đề đáng lo
      ngại khi Việt Nam có một thị trường viễn thông khá cạnh tranh như hiện
      nay.


      5.Một số tiềm năng cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam


      Tuy có một số yếu kém ở trên nhưng kinh tế Việt Nam có nhiều tiềm năng để phát triển.


      1.Thu nhập bình quân đầu người tính bằng USD bình
      quân năm 2008 là 1024 USD/người. Tuy vậy, thu nhập bình quân đầu người
      tính theo giá năm 1999 chỉ đạt 758 USD, tính theo sức mua tương đương
      (PPP) đạt khoảng 3,500 USD/người/năm, xếp thứ 120 trên 174 quốc gia
      trên thế giới. Như vậy Việt Nam vẫn còn là một nước có thu nhập thấp.
      Do vậy tốc độ tăng trưởng kinh tế vẫn có thể được duy trì ở mức cao
      trong nhiều năm tới [6].


      2.Nguồn lao động trẻ, dồi dào, có nền tảng giáo dục
      khá tốt. Nếu nguồn lao động này được đào tạo bài bản thì có thể tiếp
      thu các kỹ năng và kiến thức tạo nên nguồn lực dồi dào giúp kinh tế
      Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng cao.


      3.Dân số Việt Nam chỉ có 1/3 sống ở khu vực thành
      thị, có hơn 50% lao động làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và
      thủy sản, tỷ trọng đóng góp của công nghiệp và dịch vụ vào cơ cấu GDP
      còn thấp đây chính là tiềm năng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam. Những
      tiềm năng này thể hiện quá trình chuyển đổi cơ cấu về dân số nông thôn
      lên thành thị, chuyển lao động nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ.


      4.Việt Nam đã gia nhập WTO từ năm 2007, quá trình mở
      cửa hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ. Đây chính là sức ép và động lực cho
      quá trình cải cách của Việt Nam diễn ra nhanh hơn. Việt Nam cũng nhận
      được quan tâm của nhiều nhà đầu tư, tập đoàn lớn trên thế giới. Các
      dòng vốn đầu tư nước ngoài và mở cửa thương mại thúc đẩy kinh tế Việt
      Nam phát triển cả chiều rộng và chiều sâu.


      5.Trình độ công nghệ ứng dụng trong sản xuất của
      nhiều ngành còn lạc hậu. Chất lượng quản lý nhà nước và doanh nghiệp
      còn yếu kém, đây là thách thức nhưng cũng là cơ hội cho tăng trưởng
      kinh tế Việt Nam khi các những yếu kém đó được cải thiện.


    13. #13
      Ngày tham gia
      Feb 2009
      Bài viết
      45
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      Chỉ tiêu tăng trưởng GDP và câu hỏi về tính pháp lý
      NGUYÊN HÀ

      12/05/2009 22:59 (GMT+7)
      Tại
      kỳ họp Quốc hội thứ 5 tới đây, Chính phủ đề nghị điều chỉnh hai chỉ
      tiêu: tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 6,5% xuống khoảng 5%, và bội chi
      ngân sách Nhà nước từ 4,82% lên tối đa khoảng 8% GDP.Việc
      này không gây bất ngờ, song sẽ điều chỉnh tăng giảm đến mức nào, cơ sở
      của con số đó cùng tính pháp lý trong việc thực hiện các chỉ tiêu này
      vẫn đăt ra nhiều câu hỏi với không ít băn khoăn.5% dựa trên cơ sở nào?Tốc
      độ tăng trưởng GDP 5% được Chính phủ dự báo căn cứ vào tình hình kinh
      tế thế giới, tình hình kinh tế - xã hội quý 1 và tác động tích cực của
      gói kích cầu trong các tháng tới.Cụ
      thể khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng khoảng 2 - 2,8%; khu vực công
      nghiệp và xây dựng tăng khoảng 3,5 - 5%; khu vực dịch vụ tăng khoảng
      7,5-7,7%.Theo
      Chính phủ, nếu kinh tế thế giới phục hồi nhanh hơn so với dự báo hiện
      nay, có thể phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP vào khoảng 5,5- 6%.Trong
      báo cáo, Chính phủ cũng dự báo cả năm tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu
      từ 3 -5%, chỉ số giá tiêu dùng tăng khoảng 6%, giải quyết việc làm mới
      khoảng 1,52-1,57 triệu lao động.Thẩm
      tra báo cáo này, Ủy ban Kinh tế nhất trí việc điều chỉnh một số chỉ
      tiêu chủ yếu nêu trong Nghị quyết của Quốc hội là cần thiết.Song,
      để bảo đảm tính pháp lý trong việc thực hiện Nghị quyết của Quốc hội,
      Ủy ban đề nghị tại kỳ họp tới, Quốc hội xem xét, quyết định điều chỉnh
      bốn chỉ tiêu chủ yếu, có tính chi phối đến đời sống kinh tế - xã hội
      của đất nước: tốc độ tăng trưởng kinh tế, chỉ số giá tiêu dùng, bội chi
      ngân sách nhà nước, tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu, còn các chỉ tiêu
      khác giao Chính phủ cân đối và điều hành cụ thể.Đa
      số ý kiến trong Ủy ban Kinh tế nhất trí đề nghị điều chỉnh chỉ tiêu giá
      tiêu dùng ở mức khoảng 6%; điều chỉnh chỉ tiêu tốc độ tăng kim ngạch
      xuất khẩu xuống khoảng 3%.Với
      chỉ tiêu bội chi ngân sách, ủy ban này cho rằng không nhất thiết phải
      tăng quá lớn, nhất là trong điều kiện việc giải ngân các nguồn vốn đầu
      tư còn nhiều bất cập. Bởi vậy, đề nghị Chính phủ rà soát, tính toán khả
      năng thu,chi ngân sách để xác định số bội chi cần thiết, bảo đảm tính
      hợp lý và thực tế.Riêng
      về chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, các ý kiến đề nghị cần điều chỉnh
      giảm, nhưng đề xuất các mức khác nhau, cụ thể là: 5-5,5%, 5%, 4,5-5%.Đa
      số ý kiến trong Ủy ban Kinh tế cho rằng, nếu tập trung tháo gỡ được một
      số điểm nghẽn (ví dụ như thủ tục đầu tư), sớm cụ thể hóa chương trình
      kích thích kinh tế, đẩy nhanh tiến độ thực hiện hệ thống các giải pháp
      thì chúng ta có thể đạt được tốc độ tăng trưởng cao hơn trong những quý
      tiếp theo; đồng thời cũng bày tỏ quan điểm cần cố gắng phấn đấu đạt mức
      tăng trưởng kinh tế khoảng 5%.Tuy nhiên, do tăng trưởng kinh tế quý 1 chỉ đạt 3,1% nên mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân cả năm 5% là một thách thức lớn.Qua
      tính toán sơ bộ, giả định GDP có tốc độ tăng dần đều qua các quý, muốn
      đạt tăng trưởng bình quân cả năm 5% thì phải có gia tốc tăng mỗi quý là
      1,3%. Theo đó, quý 2 đạt 4,4%, quý 3 đạt 5,7%, quý 4 đạt 7%.Do vậy, Ủy ban Kinh tế đề nghị Chính phủ báo cáo làm rõ cơ sở và tính thực tế của việc xác định chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế 5%.Băn khoăn tính pháp lýThảo
      luận báo cáo của Chính phủ về triển khai thực hiện kế hoạch phát triển
      kinh tế - xã hội năm 2009, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách Phùng
      Quốc Hiển đặt câu hỏi: không biết Quốc hội có nên bàn về chỉ tiêu tăng
      trưởng GDP hàng năm không, GDP và CPI có được coi là chỉ tiêu pháp lệnh
      hay là chỉ tiêu để Chính phủ báo cáo Quốc hội? "Năm
      2008 đề nghị giảm từ 8,5 còn 7%, tổ chức thực hiện chỉ đạt 6,18%. Năm
      nay khả năng điều chỉnh chỉ còn 5% thôi, có khi thực hiện còn còn không
      đạt 5%, vậy thì nên thế nào? Phải chăng Quốc hội nên đánh giá chất
      lượng điều hành của Chính phủ so với năm trước chứ không phải qua chỉ
      tiêu", ông Hiển nói.Tính pháp lý của các chỉ tiêu đến đâu là băn khoăn của không ít đại biểu và không phải đến bây giờ mới được nói tới.Trả
      lời phỏng vấn VnEconomy đầu năm nay, đại biểu Quốc hội Đặng Như Lợi,
      Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội cho rằng chỉ
      tiêu chỉ mang tính định hướng.Ông
      nói: “Tôi nghĩ có nhiều đại biểu nhận thấy một số chỉ tiêu kinh tế - xã
      hội đặt ra chưa thật hợp lí, nhưng Quốc hội không biểu quyết từng chỉ
      tiêu mà biểu quyết theo khoản hoặc điều, nên các chỉ tiêu gộp chung
      trong điều, khoản thường được thông qua. Tuy nhiên, vấn đề chính là các
      chỉ tiêu được thông qua chưa phải là quy định nghiêm ngặt của pháp
      luật, kết quả thực hiện chưa gắn với xử lí cơ quan chức năng có trách
      nhiệm”.Ngay
      tại thời điểm đó, ông đã cho rằng chỉ tiêu tạo việc làm cho 1,7 triệu
      người lao động năm 2009 là không có cơ sở cả về lí thuyết và thực tiễn.
      Và dự báo mới nhất của Chính phủ trong cả năm có thể giải quyết việc
      làm mới khoảng 1,52 - 1,57 triệu lao động.Theo
      Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Nguyễn Văn Thuận thì Quốc hội
      luôn đứng bên cạnh Chính phủ, cùng nêu cao tinh thần trách nhiệm, song
      Chính phủ cần phải làm rõ để thuyết phục Quốc hội những vấn đề đã đề
      xuất.Về
      con số tăng trưởng GDP 5%, ông Thuận cho rằng tăng trưởng vốn là chủ
      yếu, cần tăng trưởng lại "bơm" tiếp vốn vào, thì thử hỏi sẽ giải thích
      thế nào khi sự cải thiện của đời sống không tương xứng với tăng trưởng
      kinh tế.Vấn đề khiến đại biểu Thuận quan ngại là vì sao hệ số đầu tư tăng trưởng (ICOR) năm sau cứ cao hơn năm trước, ngay cả khi chưa có khủng hoảng kinh tế thì ICOR vẫn
      cao.Theo báo cáo của Chính phủ thì năm 2008 hệ số ICOR tăng lên đến
      6,66 là cao hơn so với năm trước (năm 2007 là 5,2). Theo ông việc này
      hầu như không có nguyên nhân khách quan, mà chỉ có nguyên nhân chủ quan.Lại chuyện dự báoTại
      kỳ họp tới đây, Quốc hội sẽ xem xét báo cáo bổ sung tình hình kinh tế
      xã hội năm 2008.Chính phủ “tự kiểm điểm”có 9 chỉ tiêu không đạt kế
      hoạch đề ra, bao gồm cả tốc độ tăng GDP, tổng vốn đầu tư toàn xã hội
      trên GDP, tạo việc làm mới, tỷ lệ hộ nghèo…Đánh
      giá “những kết quả đạt được trong năm 2008 là tích cực, về cơ bản đã
      đạt được mục tiêu tổng quát nêu trong Nghị quyết của Quốc hội” song Ủy
      ban Kinh tế của Quốc hội cũng chỉ ra “những hạn chế cần xem xét một
      cách đầy đủ và nghiêm túc”.Hạn
      chế đầu tiên là công tác phân tích số liệu, đánh giá và dự báo chưa sát
      diễn biến thực tế, nhiều chỉ tiêu quan trọng có sự chênh lệch, thấp hơn
      so với thời điểm báo cáo Quốc hội.Tháng
      11, tháng 12 năm ngoái vẫn dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2008 đạt
      6,7-6,8%, nhưng kết quả thực tế chỉ đạt 6,2%, dẫn tới việc xây dựng và
      quyết định các chỉ tiêu trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm
      sau phần nào còn lạc quan, thiếu tính sát thực. Việc
      lập dự toán thu chưa sát với tình hình thực tiễn, đã ảnh hưởng đến tính
      chủ động trong bố trí kế hoạch chi và cân đối ngân sách chung.Ủy
      ban Tài chính - Ngân sách cũng “phê” Chính phủ dự báo kinh tế chưa tốt,
      xây dựng dự toán ngân sách chưa sát với tình hình thực tế, thu, chi
      vượt dự toán lớn.Việc
      điều chỉnh các chính sách tuy có kịp thời, nhưng có tình trạng Chính
      phủ vượt quá thẩm quyền cho phép đối với một số khoản chi, ủy ban này
      khẳng định.Trong
      vai trò thẩm tra, cả Ủy ban Kinh tế và Tài chính - Ngân sách đều đề
      nghị Chính phủ tăng cường công tác dự báo, chủ động xây dựng các chủ
      trương, biện pháp chiến lược cho nền kinh tế sau khi kinh tế thế giới
      ra khỏi khủng hoảng và phục hồi, kể cả vấn đề cấu trúc nền kinh tế, lựa
      chọn các mô hình phát triển. *
      Theo dự báo của Chính phủ thì nền kinh tế nước ta trong năm 2009 không
      bị rơi vào khủng hoảng, suy thoái như các quốc gia khác, và bắt đầu có
      dấu hiệu chuyển biến theo chiều hướng tích cực.



    14. #14
      Ngày tham gia
      Apr 2009
      Bài viết
      320
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?

      neu cho kinh te phuc hoi ro rang thi gia cplam gi con o muc gia nay nua ho bac .neu bac so thi cu ngoi cho khi nao kinh te hoi phuc thi chiu kho mua cp vao voi mucgia tren troi vay bac nhe .


    15. #15
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      49
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?

      Có hay không "thần dược" cho tăng trưởng kinh tế?


      http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexe...925/index.aspx








    16. #16
      Ngày tham gia
      Mar 2009
      Bài viết
      49
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?

      [quote user="dockhachhanh"]


      Có hay không "thần dược" cho tăng trưởng kinh tế?




      http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexe...925/index.aspx








      [/quote]


      Tôi định post bài viết này lên để anh em đọc và bàn luận nhưng bị kiểm duyệt đành gửi đường link lên đây vậy


      Những vấn đề bài bào nêu lên đúng là căn bệnh trầm kha của kinh tế VN. Một sự thật hiển nhiên mà nhiều người cố tình ko hiểu

    17. #17
      Ngày tham gia
      Nov 2008
      Bài viết
      607
      Được cám ơn 24 lần trong 22 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      [quote user="dockhachhanh"]

      [quote user="dockhachhanh"]


      Có hay không "thần dược" cho tăng trưởng kinh tế?


      http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexe...925/index.aspx








      [/quote]


      Tôi định post bài viết này lên để anh em đọc và bàn luận nhưng bị kiểm duyệt đành gửi đường link lên đây vậy


      Những vấn đề bài bào nêu lên đúng là căn bệnh trầm kha của kinh tế VN. Một sự thật hiển nhiên mà nhiều người cố tình ko hiểu

      [/quote]

      Xưa này những bài viết nói thẳng và động chạm như vậy thường là cấm kỵ. Đọc cái bài viết chỉ có trên tuanvietnam.net là thú vị nhất vì giảm nói sự thật. Ngay cả trên diễn đàn VST nhiều vấn đề còn không được thoải nói !!!
      Quyền lực + Không có kiểm soát = Tha hóa

      Cho nên các đồng chí phải nghiêm túc kiểm điểm, xác định nguyên nhân và đề ra kế hoạch cụ thể để xử lý, chấn chỉnh các hoạt động ....



    18. #18
      Ngày tham gia
      May 2009
      Bài viết
      23
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      e cũng đồng ý với bác là KT chưa có dấu hiệu rõ ràng của sự phục hồi .

      [table] Ba kịch bản cho kinh tế Việt Nam 13/05, 16:38 |




      |




      [table]



      [table]


      [img]http://****.vn/****/images/spacer.gif" width="10" height="1[/img] |
      [img]http://****.vn/StoxPlusNews/store/images/ThoaTa/32009/kinhte4.jpg" alt="Ba kịch bản cho kinh tế Việt Nam" align="baseline" border="0" hspace="0[/img] |





      |
      Theo CIEM, khu vực Đông Nam Á và Việt Nam được xem không phải là “mắt” của khủng hoảng[/i] |



      [/table]

      Với
      kịch bản cơ bản, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2009 sẽ
      giảm xuống còn 4,69% so với 6,18% của năm 2008. Mức lạm phát sẽ tăng
      tới 9,4%, xuất khẩu giảm 12,2%



      [/b]


      [url="http://****.vn/****/view_news_detail.asp?id=27178&menuID=1&cat egoryID=130">

    19. #19
      Ngày tham gia
      Nov 2008
      Bài viết
      607
      Được cám ơn 24 lần trong 22 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      Mấy bác LĐ nhà ta lạc quan quá. Biết là nói ra không làm được mà vẫn nói. Với việc trông bố chi tiết 8 tỷ USD kích cầu trông mà khiếp quá
      Quyền lực + Không có kiểm soát = Tha hóa

      Cho nên các đồng chí phải nghiêm túc kiểm điểm, xác định nguyên nhân và đề ra kế hoạch cụ thể để xử lý, chấn chỉnh các hoạt động ....



    20. #20
      Ngày tham gia
      Feb 2009
      Bài viết
      45
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: Kinh tế sẽ đi về đâu?



      [table] Việt Nam trước thách thức xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển |




      19/05/2009 06:02 (GMT + 7) |






      (TuanVietNam)-
      Vượt lên với nỗ lực xây dựng “Nhà nước kiến tạo phát triển” hay sa lầy
      trong mô thức “Nhà nước đối phó - xoay sở”?Việt Nam có trở thành một
      “Nhà nước kiến tạo phát triển” hay không, sẽ chủ yếu phụ thuộc vào sự
      chín muồi của ba yếu tố then chốt: Đòi hỏi của người dân; Hiểm họa an
      ninh quốc gia; và Khan hiếm tài nguyên thiên nhiên". TS. Vũ Minh
      Khương.

      |








      Đặc điểm của Nhà nước kiến tạo phát triển


      Chất
      lượng thể chế và nguyên tắc thị trường là hai động lực căn bản tương
      tác chặt chẽ với nhau trong tạo nên sức phát triển lâu bền của một quốc
      gia. Trong hai động lực căn bản này, chất lượng thể chế có vai trò then
      chốt quyết định chất lượng hoạt động của các nguyên tắc thị trường; và
      do đó quyết định tương lai phát triển của một đất nước.





      [table]









      Khát vọng vươn lên của dân tộc. Ảnh: doanthanhnien.vn


      [/table]
      Trong công cuộc phát triển, mỗi quốc
      gia đang phát triển đều trải qua thời điểm then chốt trong lựa chọn xây
      dựng thể chế phát triển: vượt lên với nỗ lực xây dựng “Nhà nước kiến
      tạo phát triển” hay sa lầy trong mô thức “Nhà nước đối phó - xoay sở”.


      Quyết định lựa chọn xây dựng “Nhà
      nước kiến tạo phát triển” đòi hỏi nỗ lực quyết liệt nâng cao chất lượng
      thể chế, coi đó là một trong những yếu tố nền móng căn bản cho toàn bộ
      công cuộc phát triển.


      Bằng lòng với mô thức “nhà nước đối
      phó - xoaysở” là sự né tránh những đòi hỏi bức bách phải nâng cao chất
      lượng thể chế, để rồi bận rộn với các giải quyết sự vụ và sự sa lầy vào
      các dự án lớn đặc trưng bởi tầm nhìn hạn hẹp và sự thao túng và vụ lợi
      của các nhóm lợi ích và cá nhân. Khi đó, quốc gia này có nguy cơ suy
      biến thành “nhà nước cai trị hủ bại.”


      Các quốc gia đã thành công trong xây
      dựng “nhà nước kiến tạo phát triển” điển hình ở Đông Á là Nhật Bản, Hàn
      Quốc, và Singapore. Sự phân định một quốc gia đang đi vào hướng lựa
      chọn nào của thể chế phát triển, “kiến tạo phát triển” hay “cai trị -
      hủ bại” có thể được nhận diện thông qua năm đặc điểm liên quan đến nỗ
      lực xây dựng thể chế phát triển nêu ở bảng dưới đây:



      [table]



      Đặc điểm
      |

      Kiến tạo Phát triển
      |

      Cai trị - Hủ bại





      1. Tuyển dụng cán bộ vào cơ quan nhà nước.
      |

      Thực sự minh bạch và cạnh tranh.
      |

      Thiếu minh bạch, thậm chí tùy tiện





      2. Tiêu chuẩn lựa chọn và đề bạt
      |

      Coi trọng hiền tài
      |

      Con ông cháu cha, phe cánh





      3. Hoạch định và phối thuộc Chiến lược phát triển
      |

      Lập cơ quan hoạch định và phối thuộc chiến lược phát triển với những cán bộ ưu tú và trách nhiệm đặc biệt.
      |

      Mơ hồ; không có cơ quan thực sự chịu trách nhiệm





      4. Hợp tác giữa nhà nước và tư nhân
      |

      Chặt chẽ - gắn bó
      |

      Lỏng lẻo - nghi kị. Thiếu chiều sâu và tầm chiến lược.





      5. Luật chơi trên thị trường
      |

      Rõ ràng và nghiêm minh
      |

      Thiếu nhất quán giữa văn bản và thực hiện. Thiên vị các nhóm lợi ích


      [/table]

      Các yếu tố quyết định hướng lựa chọn thể chế phát triển và thách thức với Việt Nam

      Khác với sự nhầm tưởng thường thấy,
      sự lựa chọn thể chế phát triển không tùy thuộc chủ yếu vào vai trò cá
      nhân lãnh đạo mà chịu tác động đặc biệt của các ba yếu tố then chốt,
      khách quan: Đòi hỏi của người dân; Hiểm họa an ninh quốc gia; và Khan hiếm tài nguyên thiên nhiên [1].


      Một quốc gia có xu hướng buộc phải lựa chọn con đường xây dựng “Nhà nước kiến tạo phát triển” nếu hội đủ được ở mức cao cả ba yếu tố nói trên.





      [table]



      "[img]http://www.tuanvietnam.net/news/images/nutdo.gif" vspace="7" width="3" height="3">

    Thông tin của chủ đề

    Users Browsing this Thread

    Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)

       

    Similar Threads

    1. Kinh Đô đầy hứa hẹn
      By in forum Thị trường OTC
      Trả lời: 0
      Bài viết cuối: 01-01-1970, 07:00 AM
    2. Kinh Đô lên sàn SIN?
      By in forum Thị trường OTC
      Trả lời: 0
      Bài viết cuối: 01-01-1970, 07:00 AM

    Bookmarks

    Quyền viết bài

    • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
    • Bạn Không thể Gửi trả lời
    • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
    • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình