Thứ Sáu, 26/06/2009,06:26

Nhờ suy thoái, châu Á bớt phụ thuộc Mỹ ?


Trước khi diễn ra giai đoạn suy thoái hiện nay, một số nhà kinh
tế học đã dự báo, sự tăng trưởng mạnh mẽ và hoạt động thương mại nội vùng gia
tăng sẽ giúp châu Á có thể bỏ qua sự phụ thuộc truyền thống vào thị trường Mỹ.
Và như thế, châu Á sẽ tiếp tục tăng trưởng êm đẹp bất chấp có điều gì xảy ra ở
nền kinh tế lớn nhất thế giới.


Đó chính là nội dung cơ bản của lý thuyết về sự phân ly
(decoupling) của châu Á đối với Mỹ.


Sau đó, khi cuộc khủng hoảng leo thang ở Phố Wall vào cuối năm
2008 khiến hoạt động tiêu dùng tại Mỹ lao dốc, cuốn hầu hết các nền kinh tế của
châu Á vào vòng xoáy suy thoái, lý thuyết này đã nhanh chóng bị ném qua cửa sổ.
Châu Á phút chốc thẫn thờ khi phát hiện ra rằng, sự tăng trưởng kinh tế của khu
vực này vẫn còn phụ thuộc quá nhiều vào hoạt động xuất khẩu các sản phẩm như máy
tính, hàng máy may và đồ chơi sang thị trường Mỹ.


Lý thuyết phân ly trở thành “trò cười” trong mắt nhiều người.


Tuy nhiên, những người ủng hộ lý thuyết này có thể sẽ không bị
cười quá lâu. Trong bối cảnh kinh tế châu Á tiến dần tới sự phục hồi thời gian
qua, có thể nhận thấy rằng, ở một số phương diện nhất định, lý thuyết phân ly là
đúng đắn. Quan trọng hơn nữa, châu Á rất có khả năng trở nên độc lập hơn với thị
trường Mỹ nhờ lần suy thoái này.


Vẫn tăng trưởng tốt


“Đúng là lý thuyết phân ly đã không bao quát được những mảng lớn
của một bức tranh tổng thể, nhưng việc phủ nhận lý thuyết này là sai lầm. Nếu
không có lý thuyết phân ly, người ta không thể hiểu được những gì xảy ra ở châu
Á từ tháng 9 năm ngoái tới nay”, nhà kinh tế T.J. Bond của Merrill Lynch tại
Hồng Kông nhận xét.


Bằng chứng rõ nét nhất cho thấy châu Á có thể tạo ra sự tăng
trưởng mà không cần tới thị trường phương Tây chính là mức tăng trưởng tương đối
mạnh của những nền kinh tế lớn nhất trong khu vực.


Kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng 6,1% trong quý 1 năm nay, mặc
dù xuất khẩu của nước này liên tục sụt giảm bình quân 17% hàng tháng từ đầu năm
tới nay. Cũng trong quý 1, Ấn Độ đạt tốc độ tăng trưởng 5,8%, vượt dự báo, và
thậm chí Indonesia - vốn không nằm trong số những nền kinh tế mạnh nhất châu Á -
cũng đạt tốc độ tăng trưởng 4,4%. Mặc dù những mức tăng trưởng này thấp hơn rất
nhiều mức tăng trưởng của các nền kinh tế nói trên trước khi xảy ra suy thoái,
đặc biệt là trong trường hợp của Trung Quốc, các nước này vẫn nằm trong số những
nền kinh tế tăng trưởng tốt nhất thế giới.


Động lực chính cho sự tăng trưởng này chính là nhu cầu nội địa
của các nước trên. Một phần trong lý thuyết phân ly là các nước Á đã giàu lên
tới mức đủ để duy trì một mức độ tăng trưởng chấp nhận được thông qua hoạt động
mua bán hàng hóa với nhau, thậm chí cả khi xuất khẩu của châu lục này sang thị
trường phương Tây đổ dốc. Mặc dù nhận định này vẫn có thể bị xem là ít nhiều
phóng đại, do tiêu dùng của người dân trong khu vực châu Á chưa thể đủ để bù đắp
cho “chỗ trống” của sự sụt giảm xuất khẩu sang Mỹ, nhu cầu nội địa rõ ràng đang
là nhân tố giữ cho các nền kinh tế khỏi lâm vào cảnh sụt giảm tăng trưởng sâu
hơn trong bối cảnh suy thoái toàn cầu.


Lấy Trung Quốc làm ví dụ. Tháng 5 vừa qua, sản xuất công nghiệp
của nước này tăng 8,9% so với cùng kỳ năm trước, mặc dù kim ngạch xuất khẩu giảm
26%. Lý do ở đây là các nhà máy của Trung Quốc đã đẩy mạnh sản xuát hàng hóa cho
tiêu dùng nội địa. Doanh số bán lẻ của nước này đã tăng 15% trong tháng 5, với
hàng hóa tiêu dùng các loại bán chạy như tôm tươi. Trong đó, doanh số thị trường
xe hơi tăng 47%, doanh số hàng nội thất tăng 33%, doanh số các mặt hàng trang
sức tăng 29%. Dữ liệu các cuộc điều tra các hộ gia đình Trung Quốc trong quý 1
cho thấy, tiêu dùng ở khu vực nông thôn của nước này đang có xu hướng tăng.


“Tiêu dùng chắc chắn đang trở thành một động lực tăng trưởng quan
trọng hơn”, các nhà kinh tế của ngân hàng Goldman Sachs nhận xét trong một báo
cáo đưa ra trong tháng 6 này về kinh tế Trung Quốc.


Đầu tàu Trung Quốc


Quan trọng hơn nữa, đang có những bằng chứng cho thấy tăng trưởng
kinh tế của Trung Quốc đã bắt đầu kích thích các nền kinh tế khác trong khu vực,
đúng như lý thuyết phân ly đã dự báo. Mặc dù Trung Quốc chưa thể thay thế hoàn
toàn nước Mỹ với vai trò là một nguồn nhu cầu cho các nền kinh tế nhỏ hơn ở châu
Á, nước này có thể đem tới cho các nước khác trong khu vực những khách hàng mới
mà trước đây chưa có.


Nghiên cứu của Merrill Lynch khẳng định, xuất khẩu của châu Á
trong tháng 4 đã bắt đầu nhích lên so với những tháng đầu năm, mặc dù xuất khẩu
sang Mỹ, châu Âu và Nhật Bản tiếp tục trên đà trượt giảm. Điều này có thể xảy ra
như thế nào?


Theo các chuyên gia của Merrill, sự phục hồi trên là nhờ xuất
khẩu của các nước châu Á sang Trung Quốc tăng mạnh.“Sự gia tăng của nhu cầu ở
Trung Quốc đã trở thành động lực chính cho giai đoạn phục hồi xuất khẩu hiện nay
của châu Á”, báo cáo của Merrill nhận xét. Cần nói thêm, Nhật Bản vẫn là một
nguồn nhu cầu và đầu tư cho các nước còn lại ở châu Á, nhưng đồng thời nước này
đã phát triển mối quan hệ qua lại mật thiết trong mạng lưới cung cấp của toàn
châu Á, trong đó xuất khẩu của Nhật Bản sang Trung Quốc ngày càng đóng vai trò
quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của nước này.


Có thể vai trò kích thích tăng trưởng của Trung Quốc đối với kinh
tế khu vực như đề cập ở trên chỉ là tạm thời, nhờ kết quả của gói kích thích
khổng lồ nhưng ngắn hạn mà Chính phủ Trung Quốc tung ra. Chẳng hạn, thị trường
xe hơi đang tăng trưởng mạnh của Trung Quốc một phần được tiếp sức bởi hoạt động
trợ giá và ưu đãi thuế, những biện pháp nằm trong gói kích thích kinh tế của
nước này.


Thời của hướng nội


Tuy nhiên, Chính phủ Trung Quốc cũng đã áp dụng những biện pháp
dài hơi hơn nhằm khuyến khích chi tiêu nội địa, qua đó có thể đưa Trung Quốc trở
thành một đích đến quan trọng hơn cho hàng xuất khẩu của các nước châu Á khác
trong tương lai. Bắc Kinh sẽ chi 125 tỷ USD trong vòng 3 năm tới để tăng cường
hệ thống y tế nhằm đưa các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tới 90% dân số của nước
này. Với chi phí y tế vẫn là một gánh nặng tài chính lớn đối với người dân nghèo
của Trung Quốc, sự cải thiện này có thể sẽ giúp khuyến khích người dân ở nước
này chi tiêu nhiều hơn và tiết kiệm ít đi.


Các nền kinh tế châu Á khác cũng đang “lên dây cót” để tiếp cận
với thị trường tiêu dùng mới mẻ và rộng lớn này của Trung Quốc. Đài Loan là một
ví dụ. Sau khi chịu một “đòn đau” từ sự lao dốc của hoạt động tiêu dùng tại Mỹ
(GDP của Đài Loan trong quý 1 sụt giảm với tốc độ kỷ lục 10,2%), chính quyền của
vùng lãnh thổ này đã đặt ưu tiên chính sách là tìm khách hàng mới cho hàng hóa
sản xuất tại Đài Loan.


“Chúng tôi đã chịu tác động tiêu cực từ sự co rút của thị trường
xuất khẩu ở Mỹ và châu Âu. Do vậy, một bài học mà chúng tôi đã học được là cần
phải đa dạng hóa thị trường xuất khẩu”, nhà lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu nói.
Chắc chắn, mục tiêu lớn của ông Mã Anh Cửu chính là thị trường Trung Quốc. Nhà
lãnh đạo này đang theo đuổi một thỏa thuận kinh tế toàn diện với Trung Quốc,
trong đó giảm thuế cho hàng xuất khẩu của Đài Loan sang Trung Quốc. Trung Quốc
đã là một điểm đến lớn cho các nhà sản xuất Đài Loan, nhưng phần lớn lượng hàng
này vẫn tồn tại dưới dạng linh kiện, được xuất sang Trung Quốc để lắp ráp thành
thành phẩm rồi xuất khẩu sang thị trường phương Tây.


Theo ông San Gee, Phó chủ nhiệm Hội đồng Kế hoạch kinh tế và phát
triển của Đài Loan, giờ đây, các nhà hoạch định chính sách của nền kinh tế này
muốn các công ty Đài Loan xuất hàng thành phẩm nhiều hơn sang Trung Quốc, trực
tiếp nhằm vào người tiêu dùng ở nước này. “Trung Quốc là một thị trường rất quan
trọng để chúng tôi xây dựng thương hiệu”, ông Gee phát biểu.


Tất cả những điều này có nghĩa là châu Á đang hướng nội nhiều hơn
cho sự tăng trưởng trong tương lai. Nói cách khác, khu vực này đang giảm dần sự
phụ thuộc vào thị trường Mỹ. Nền kinh tế Mỹ “có vai trò ít hơn với châu Á hơn so
với người ta vẫn nghĩ”, ông Andrew Freris, chiến lược gia đầu tư cao cấp thị
trường châu Á của công ty BNP Paribas Wealth Management tại Hồng Kông nhận
xét.


Như vậy, lý thuyết phân ly đang chuyển biến thành chính sách của
châu Á, và đây có lẽ sẽ là một trong những hệ quả quan trọng nhất của lần suy
thoái này.


Kiều Oanh (Theo Time)


TBKTVN