Ngân hàng Thế giới: Kinh tế Việt Nam đang
lấy lại tốc độ tăng trưởng

(Chinhphu.vn) Chính phủ Việt Nam đã ban hành
các chính sách kịp thời và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, như hỗ trợ lãi
suất, thực hiện các chương trình kích cầu vào những lĩnh vực trọng điểm… để ứng
phó khủng hoảng kinh tế toàn cầu khá hiệu quả so với các nước khác nên kinh tế
Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực.


(04/06/2009-06:14:00 PM)


Đây là đánh giá của ông Martin Rama, Chuyên gia kinh tế trưởng
của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam (nguyên Quyền Giám đốc WB Việt Nam) tại
buổi họp báo trước thềm Hội nghị giữa kỳ nhóm các nhà tài trợ cho Việt Nam năm
2009 (CG), chiều 4/6 tại Hà Nội.


Ông Martin Rama cho rằng, Việt Nam có nền kinh tế năng động và
có một số đặc điểm riêng như dân số trẻ và thị trường lao động linh hoạt đã giúp
giảm thiểu các tác động xã hội của suy giảm kinh tế. Mức độ tổn thương thấp vì
người dân và doanh nghiệp không dựa nhiều vào nguồn vốn vay, khả năng kinh doanh
linh hoạt thể hiện qua việc tìm kiếm các bạn hàng và thị trường xuất khẩu mới…
“Những lý do trên đã giúp nền kinh tế Việt Nam có những dấu hiệu rõ nét về khả
năng phục hồi kinh tế.”, ông Martin Rama phân tích.


Theo đánh giá mới nhất của WB về tình hình kinh tế Việt Nam gần
đây thì ngành xây dựng đang phục hồi mạnh, GDP của ngành xây dựng năm 2008 giảm
0,4% nhưng trong quý I/2009 tăng trên 6,9% và WB dự kiến có thể đạt tăng trưởng
2 con số cho cả năm 2009.


Tình hình xuất khẩu của Việt Nam cũng được đánh giá là khá hơn
so với các nước trong khu vực. Mặc dù xuất khẩu là một trong những lĩnh vực bị
ảnh hưởng nặng nề nhất khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra nhưng tăng
trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong quý I/2009 đạt 7,4%, (trong khi đó các nước
trong khu vực đều tăng trưởng âm). WB đánh giá Việt Nam đã có những nỗ lực lớn
trong việc đẩy mạnh xuất khẩu, các hoạt động kinh tế đang hồi phục, lấy lại tốc
độ tăng trưởng và đi lên.


Đối với những tác động xã hội của suy giảm kinh tế, trong đó có
thị trường lao động, theo các đánh giá tác động nhanh do Viện Khoa học Xã hội
Việt Nam (VASS) kết hợp với WB tiến hành tại một số chợ lao động, làng nghề và
các khu công nghiệp gần Hà Nội trong tháng 2,3,4 thì ảnh hưởng tiêu cực lớn như:
Tái nghèo, thiếu ăn, bán đất, vô gia cư… là không phổ biến; tình trạng mất việc
chỉ phổ biến đối với lao động thời vụ và người ký hợp đồng ngắn hạn.


Theo WB, thị trường lao động đô thị hiện nay đang nhộn nhịp trở
lại. Đặc biệt là thị trường lao động dành cho những lao động tay nghề cao và thủ
công sẽ tăng lên.


WB cũng đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam nhằm góp phần
đảm bảo tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội
như: Tách biệt từng giai đoạn hỗ trợ lãi suất; chuyển dịch từ chính sách tiền tệ
sang chính sách tài khóa; cụ thể hơn các khoản chi tiêu của gói kích cầu lần
hai, tăng đầu tư cho các dự án cấp bách; đẩy nhanh việc giải ngân các nguồn vốn
ODA; tăng cường chất lượng công tác giám sát ngân hàng; tiếp tục cải cách khu
vực công; tăng cường công bằng xã hội, đảm bảo đủ nguồn vốn cho các chương trình
hỗ người nghèo.


Tại buổi họp báo, WB cũng thông báo, Hội nghị CG sẽ chính thức
được tổ chức tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trong hai ngày từ
8-9/06/2009.


Hội nghị lần này sẽ tập trung thảo luận vào các chủ đề chính
như: Đánh giá tình hình phát triển kinh tế vĩ mô, những diễn biến mới và triển
vọng tăng trưởng cho năm 2009; Ảnh hưởng xã hội bắt nguồn từ việc suy giảm kinh
tế và chính sách thích ứng của Chính phủ; Quản trị công và chống tham nhũng,
trong đó tập trung vào việc thực hiện Chiến lược Phòng, chống tham nhũng đến năm
2020; Biến đổi khí hậu: Thích nghi và giảm thiểu tác động; Hiệu quả viện trợ và
tiến triển của quá trình hài hòa thủ tục.


Trước thềm Hội nghị CG 2009, Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam
(VBF), một hoạt động gắn với Hội nghị dành cho các doanh nghiệp trong và ngoài
nước đã được Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) (thuộc nhóm WB hỗ trợ khu vực tư
nhân) và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đồng tổ chức. Các doanh nghiệp đã đối thoại với
Chính phủ về thị trường vốn và ngân hàng, sản xuất và phân phối, du lịch; nghe
và thảo luận về kết quả khảo sát về các trở ngại trong thủ tục hành chính đối
với doanh nghiệp và nhà đầu tư; Ấn tượng của doanh nghiệp trong và ngoài nước về
môi trường kinh doanh tại Việt Nam./.





Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật
Bản: Cơ hội cho cả hai bên

(VOV) - Doanh nghiệp và người dân hai nước sẽ
có điều kiện tiếp cận sâu, rộng hơn các nguồn vốn, công nghệ, tài nguyên và
nhiều dịch vụ khác


5:29 PM, 28/06/2009


Quốc hội Nhật Bản vừa chính thức thông qua Hiệp
định đối tác kinh tế với Việt Nam. Phóng viên VOV thường trú tại Nhật Bản phỏng
vấn ông Vũ Văn Trung, Tham tán thương mại, Trưởng cơ quan Thương vụ Việt Nam tại
Nhật Bản về kế hoạch thực thi Hiệp định này.


Phóng viên: Xin ông cho biết
ý nghĩa của Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản?



Ông Vũ Văn Trung: Hiệp
định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản là hiệp định tự do thương mại đầu tiên
của Việt Nam ký kết với đối tác nước ngoài kể từ khi Việt Nam chính thức trở
thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Đây là Hiệp định tự do
thương mại thứ 10 của Nhật Bản ký kết với các đối tác nước ngoài.


Hiệp định này có ý nghĩa quan trọng, tạo ra một
khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho cả Việt Nam và Nhật Bản. Vì đây là Hiệp định có
phạm vi rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, công nghiệp,
nông nghiệp, lao động, sở hữu trí tuệ. Doanh nghiệp sẽ có nhiều điều kiện xúc
tiến các hoạt động thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác.


Về Thương mại, theo qui định, trong vòng 10 năm
tới, hai nước tiến tới đưa hơn 92% giá trị xuất nhập khẩu được hưởng chế độ miễn
thuế. Khoảng 94,53% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Nhật Bản sẽ hưởng chế
độ giảm thuế và kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản vào Việt Nam được hưởng chế độ
này là 87,66%. Nhóm mặt hàng được hưởng ưu đãi thuế mạnh nhất gồm thủy sản, nông
sản, dệt may, sắt thép, hóa chất và linh kiện điện tử.


Viêc thông qua Hiệp định này đáp ứng lòng mong mỏi
của cộng đồng doanh nghiệp cũng như người dân của hai nước, góp phần đưa quan hệ
Viêt Nam - Nhật Bản trở thành quan hệ đối tác chiến lược.


Phóng viên: Để hiệp định đối
tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản phát huy giá trị thực tiễn thì phía Việt Nam cần
phải có những nỗ lực gì trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai, thưa
ông?



Ông Vũ Văn Trung: Nét cơ
bản của Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản là tạo ra khung pháp lý,
tạo điều kiện cho quan hệ hợp tác hai nước ngày càng phát triển. Để thực hiện và
phát huy những lợi thế đó, chúng tôi cho rằng, từ cả hai phía, đặc biệt là phía
Việt Nam phải nỗ lực rất nhiều để hưởng những ưu đãi mà Hiệp định mang
lại.


Về lĩnh vực Thương mại, Nhật Bản là thị trường lớn
thứ hai của Việt Nam trong lĩnh vực xuất khẩu, sau Mỹ. Trong nhiều năm qua, kim
ngạch xuất khẩu có tăng trưởng nhưng chưa thật mạnh mẽ so với mong muốn của cả
hai bên. Việc duy trì độ bền vững của tăng trưởng này cũng là một vấn đề. Chúng
tôi cho rằng, để tận dụng sự ưu đãi của Hiệp định, Việt Nam phải nỗ lực tìm
nhiều nguồn hàng xuất khẩu chất lượng cao, giá thành hạ, đáp ứng nhu cầu thị
hiếu của thị trường Nhật, thay đổi cơ cấu mở rộng các mặt hàng xuất khẩu sang
Nhật Bản.


Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam
sang Nhật Bản là nông sản, thủy sản, dệt may, thủ công mỹ nghệ và khoáng sản
thô. Muốn chiếm lĩnh thị trường Nhật Bản một cách ổn định và lâu dài, tăng nhanh
kim ngạch xuất khẩu cần cải tiến cơ cấu xuất khẩu mặt hàng công nghiệp chế tạo.



Thị trường Nhật Bản là một trong những thị trường
có yêu cầu cao về chất lượng, đặc biệt là vấn đề kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực
phẩm. Mặc dù lâu nay, Việt Nam đã có nhiều cố gắng song cần phải nỗ lực hơn nữa
để giảm thiểu những vụ vi phạm như dư lượng chất kháng sinh trong mặt hàng xuất
khẩu tôm đông lạnh. Còn về các mặt hàng trái cây có hạt, rau xanh vẫn chưa được
phép nhập khẩu vào Nhật Bản ở dạng tươi do vấn đề kiểm dịch. Tới đây, Việt Nam
cần chú trọng làm tốt từ khâu sản xuất đến kiểm dịch bảo đảm đúng yêu cầu của
nước bạn về kiểm dịch thực vật. Như vậy, Nhật Bản mới có thể khai thác hết tiềm
năng trái cây và hoa quả nhiệt đới của Việt Nam. Nhật Bản và Việt Nam cũng đã
nhất trí xây dựng trung tâm kiểm dịch và kiểm định mặt hàng xuất khẩu sang Nhật
Bản.


Về hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, phía Nhật Bản
qui định một cách khắt khe về vấn đề tiếp nhận người lao động từ nước ngoài
trong các lĩnh vực y tế và dịch vụ khác. Sau khi đạt được thỏa thuận của Hiệp
định, trong thời gian tới, hai bên phải qui chuẩn hóa về đào tạo đối với y tá,
hộ lý và các lao động dịch vụ khác. Ngoài ra, cần có tiêu chuẩn hài hòa hợp tác
kỹ thuật và cấp chứng chỉ các ngành chuyên nghiệp mới có thể đưa kỹ thuật viên,
kỹ sư lành nghề sang lao động tại Nhật Bản. Các lĩnh vực khác như: Du lịch, giao
thông vận tải, môi trường... Việt Nam cũng phải cố gắng vươn lên ở trình độ khu
vực để có thể hợp tác tốt với phía Nhật Bản.


Để thực hiện hiệu quả Hiệp định, trước mắt và lâu
dài, hai nước còn nhiều việc phải làm. Tôi tin tưởng với sự chỉ đạo của Chính
phủ và những nỗ lực của các bộ ngành liên quan, các doanh nghiệp, trong tương
lai không xa Việt Nam sẽ tận dụng được nhiều lợi thế của hiệp định, đưa quan hệ
hợp tác giữa hai nước phát triển vượt bậc trong nhiều lĩnh vực.


Phóng viên: Xin trân
trọng cảm ơn ông ./.