[table]
Số
hoá thông tin và dữ liệu tài chính công:
Chọn nơi xuất
phát

Lao Động số 141 Ngày
26/06/2009Cập nhật: 9:06 AM,
26/06/2009




[table]


[img]/avatar.aspx?ID=104804&at=0&ts=236&lm=6 33816039732430000" class="atc_img" id="_ctl0_rContent_imgImage" alt="" border="0[/img]


Dịch vụ tài
chính công còn rất hạn chế.
[/table]
(LĐ) - Từ lâu, cả ngành tài
chính bao gồm kho bạc, thuế, hải quan... đã đầu tư CNTT để thúc đẩy các dịch vụ
tài chính công. Trong khi đó, giới CNTT cũng bắt đầu "mày mò" để số hoá thông
tin, thiết lập cơ sở dữ liệu (CSDL) phục vụ công việc này.

Thế nhưng, dường như hai lĩnh vực này lại chưa thể "tích hợp"
được với nhau. Vì thế tất cả đang loay hoay chỉ với một vấn đề: Bắt đầu xuất
phát từ đâu?


Quy trình ngược

Tài chính công có thể
tạm hiểu là hoạt động lưu chuyển các thông tin giao dịch tài chính có liên quan
đến thu chi tiền và các loại giấy tờ có giá trị tượng trưng cho tiền như các
loại thuế, phí và lệ phí, trích nộp nghĩa vụ ngân sách, giao dịch tiền... thông
qua các cơ quan tài chính, thuế, kho bạc, hải quan...

Thực tế, dù chưa
thể tổng kết VN đã chi bao nhiêu tiền để "điện tử hoá" các dịch vụ tài chính
công; nhưng có thể khẳng định số tiền này là nhiều đến mức... khổng
lồ.

Và dù đã chi một lượng tiền khổng lồ; song cho đến nay chưa hề có một
cơ quan nào "dám" khẳng định đã có thể cung cấp dịch vụ tài chính công cơ bản.
Thậm chí, bản thân các cơ quan này đã thừa nhận rằng các dịch vụ tài chính công
của VN mới chỉ ở mức độ... sơ khai, chủ yếu để phục vụ nội bộ.

Theo các
chuyên gia CNTT, lý do cơ bản nhất là VN chưa có được thông tin điện tử cũng như
CSDL cho vấn đề này là VN đang đi ngược quy trình, đang làm theo cách: Cái gì
làm được thì làm. Đã có một số cơ quan, đơn vị đã cung cấp không nhiều dịch vụ
tài chính công như biểu mẫu, kê khai, đăng ký, tra cứu điện tử ... nhưng lại
không đồng bộ, lạc hậu, ít cập nhật và đặc biệt là không đầy đủ.


Bắt đầu từ đâu?


Xung quanh câu hỏi này còn có
hàng loạt câu hỏi nhỏ: Cơ quan nào chủ trì số hoá thông tin và xây dựng CSDL?
Đâu là tiêu chuẩn xây dựng hệ thống? Cách nào để số hoá và xây dựng CSDL? Liệu
có rào cản và khoảng cách giữa 2 lĩnh vực tài chính và CNTT ứng dụng cho tài
chính công?

Sự thật là VN chưa có cơ quan nào chủ trì việc này. Vì thế cứ
cơ quan nào có được kinh phí, DN nào xác định đầu tư thì khi đó bắt tay vào thực
hiện. Việc không thống nhất từ đầu mối đã tạo ra sự không đồng bộ về tiêu chuẩn.
Tương tự, việc mỗi nơi áp dụng các phương thức, cách làm khác nhau cũng khiến
nơi này không chấp nhận kết quả của nhau.

Tại hội thảo về vấn đề này tổ
chức ngày 23.6, đại diện Tổng cục Thuế cho biết cơ quan này mới chỉ thí điểm
thực hiện khai thuế điện tử và đang gặp hàng loạt khó khăn như thiếu quy định cụ
thể, biểu mẫu; khó quản lý và lưu trữ các tờ khai thuế điện tử, đặc biệt là rào
cản về bảo mật, chứng thực.

Tương tự, "hải quan điện tử" cũng đã thực
hiện từ 5 năm nay, song đến bây giờ cũng chỉ bước đầu khai báo nghiệp vụ và
thông quan ở một số hàng hoá với quy trình đơn giản.

Tại hội thảo, một số
cơ quan DN cũng đã đưa ra phương thức và phần mềm để số hoá thông tin và xây
dựng CSDL. Ghi nhận đây là "ý tốt" cho vấn đề này. Song đây thực chất cũng chỉ
là "phần ngọn" mang tính giải pháp trước mắt và cục bộ.

Vì thế các chuyên
gia cho rằng, một khi vẫn thiếu "đầu tàu" (ai chủ trì), thiếu chiến lược (bắt
đầu từ đâu, như thế nào, mục tiêu và lộ trình ra sao), thiếu đồng bộ (đội ngũ
thực hiện và chuẩn thực hiện)... thì câu chuyện số hoá và xây dựng CSDL cho tài
chính công nói riêng và dịch vụ hành chính công nói chung vẫn chỉ là... xu
hướng.



Phạm Anh
[table]


[h1]Viễn thông Việt Nam tăng tốc trong thời hội
nhập[/h1]
[/table]
[table]


Thứ hai, 21 Tháng một 2008, 05:54 GMT+7
[/table]
[/table]




Các công nghệ mới được đầu tư nhiều hơn so
với năm trước, thị trường mở rộng hơn với các gói sản phẩm đa dạng, đầy cạnh
tranh, các chính sách cơ chế có sự cải tiến rõ rệt... Đó là những thứ có thể
nhìn thấy của viễn thông Việt Nam trước thềm năm mới 2008 và trước ngưỡng cửa
hội nhập.




[table]





Thứ trưởng Lê Nam Thắng đang đối thoại trực
tuyến trên TS hôm 9/1/2008. (Ảnh: LAD)
[/table]
Nóng bỏng thị
trường



Thị
trường viễn thông vẫn tiếp tục sôi động trong năm 2008 bởi các gương mặt mới sẵn
sàng nhảy vào cuộc cạnh tranh vốn đang “nóng”. Thông tin về công ty di động
Vimpelcom sắp vào VN và liên doanh với 1 tổng công ty
của bộ Công an để xin giấy phép cung cấp dịch vụ 3G, được Thứ trưởng Lê
Nam Thắng giải đáp tại cuộc
đối thoại trực tuyến hôm 9/1 trên VietNamNet : Theo quy định của pháp luật
VN, nếu các công ty nước ngoài muốn tham gia thị trường, phải thông qua hình
thức đầu tư trực tiếp (thành lập công ty hoặc gián tiếp (thông qua mua cổ phần
doanh nghiệp trong nước).



“Chúng tôi chưa có thông tin cụ thể là Công ty Vimpelcom
sẽ tham gia dưới hình thức nào nên khó có thể trả lời chính xác câu hỏi này. Tuy
nhiên, đã có một số công ty nước ngoài khác như G-Tel đã được Thủ tướng đồng ý
về nguyên tắc để tham gia vào thị trường viễn thông VN. Tuy nhiên việc tham gia
thị trường vẫn phải tuân theo đầy đủ quy định của Pháp luật về cấp phép. Hiện
giờ chúng tôi đang xem xét cấp phép cho G-Tel theo đúng các quy định về quản lý
viễn thông của VN”.



Thứ trưởng Lê Nam Thắng cũng cho
biết quan điểm của Bộ TT-TT về việc một DN cung cấp dịch vụ muốn chuyển từ nền
tảng công nghệ này sang một nền tảng công nghệ khác rằng : "Chính sách quản lý chung của Bộ là trung lập về mặt công
nghệ. Các doanh nghiệp căn cứ vào năng lực của mình, vào nhu cầu thị trường và
thực tế công nghệ để lựa chọn công nghệ cung cấp".



dụ, China Unicom của Trung Quốc vừa khai thác cả GSM lẫn CDMA. Ở Úc, mạng
Telstra đã chuyển từ GSM lên WCDMA ngay trên nền băng tần 800.



Và vì
thế, Bộ TT-TT không phản đối việc doanh nghiệp chuyển từ công nghệ này sang công
nghệ khác, miễn là việc làm đó không ảnh hưởng đến quyền lợi khách hàng và doanh
nghiệp, cũng như không gây xáo trộn gì lớn cho thị trường.



Thứ
trưởng Lê Nam Thắng cũng lần đầu tiên xác nhận với PV TS thông tin xin
chuyển từ cung cấp dịch vụ viễn thông trên nền CDMA sang GSM của nhà cung cấp HT
Mobile: “Đúng là HT Mobile đã có công văn gửi đến Bộ TT-TT xin chuyển từ
CMDA sang e-GSM, tức là GSM mở rộng. Hiện tại chúng tôi đang xem xét và nghiên
cứu công văn này”.



Thứ trưởng Bộ TT-TT cho rằng, đối
với 1 thị trường viễn thông như Việt Nam, số lượng 6 nhà cung cấp dịch vụ như
hiện nay đã là vừa đủ. Nếu có thêm 1 nhà
cung cấp thứ 7 thì sẽ là quá nhiều. Bởi như hiện nay, thị trường viễn thông VN vẫn còn nhỏ, quy mô của các DN
nhỏ, nên hiện tại số lượng DN chưa ảnh hưởng nhiều. “Nhưng về lâu dài, khi
giá cước giảm, cạnh tranh tăng, tôi cho rằng con số này là
nhiều”.



Tuy
nhiên, giải thích theo Pháp lệnh BCVT và
Nghị định 160 của Chính phủ, Thứ trưởng Lê Nam Thắng nói, nếu DN nào đáp ứng các
yêu cầu về tài nguyên, quy hoạch, Bộ TT-TT sẽ xem xét cấp phép, cung cấp hạ tầng
và cung cấp dịch vụ. Nếu DN đáp ứng các điều kiện cấp phép về tài nguyên viễn
thông theo đúng quy hoạch thì Bộ TT-TT sẽ xem xét cấp phép. Theo đúng quy định
WTO, thị trường không hạn chế số lượng DN tham gia. Việc
tham gia thị trường phụ thuộc chủ yếu vào tần số tài nguyên VT.



“Chúng tôi cũng kiến nghị với Chính phủ, làm sao không
chỉ các DN Nhà nước được tham gia thị trường viễn thông VN”.



Trả lời một câu hỏi của độc giả
tại Bắc Giang về việc hiện có nhiều DN được cấp phép nhưng không triển khai, thì
Bộ có thu hồi giấy phép không, Thứ trưởng Lê Nam Thắng cho biết: Liên quan đến
việc cấp phép, DN phải có đề án xin phép, trong đó ngoài tư cách pháp lý thì có
2 nội dung chính là đề án kỹ thuật và phương án kinh doanh chỉ rõ trong 5 năm
đầu triển khai thực hiện đề án như thế nào? Quy định hiện hành đã có những yêu
cầu, ví dụ DN cung cấp dịch vụ điện thoại di động phải mở rộng vùng phủ sóng như
thế nào, tăng thuê bao ra sao?


Tuy
nhiên, trong quá trình triển khai giấy phép thì có DN tuân thủ đúng, thậm chí
triển khai vượt kế hoach họ đề ra. Nhưng cũng có DN triển khai chậm, và có DN
chưa triển khai theo cam kết. Theo quy định, sau 2 năm không triển khai dịch vụ
Internet thì thu hồi giấy phép nếu không có lý do chính đáng.

Nhưng cũng
còn phụ thuộc vào sự phát triển thị trường. Bộ sẽ trên cơ sở cam kết của DN và
sự phát triển thị trường để có hình thức xử lý phù hợp. Thời gian tới Bộ sẽ giám
sát mạnh hơn việc triển khai của DN, biện pháp mạnh tay hơn để đảm bảo việc
triển khai của DN.


Quản lý chặt chẽ hơn các
DN chiếm thị phần khống chế !



Trả lời
thắc mắc về việc căn cứ vào đâu để Bộ xác định một hay một nhóm DN chiếm thị
phần khống chế? Thị phần ở đây được hiểu là doanh thu, thuê bao hay lưu lượng?,
Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính Bộ TT-TT Nguyễn Minh Sơn cho biết :

Việc Bộ phân định DN chiếm thị phần khống chế và
không chế là nhằm mục tiêu để quản lý, lành mạnh hóa thị trường và thúc đẩy cạnh
tranh. Tiêu chí để phân biệt DN chiếm thị phần khống chế và không chiếm là dựa
trên Luật cạnh tranh. Theo quyết định 39 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý giá
cước các dịch vụ BCVT và thông tư 02 của Bộ quy định, DN chiếm thị phần khống
chế là DN chiếm thị phần doanh thu hoặc lưu lượng từ 30% trở lên đối với dịch vụ
mà DN đó cung cấp và gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc thâm nhập thị trường của
các DN khác. Đó gọi là DN chiếm thị phần khống chế.


Còn nhóm 2 DN chiếm thị phần
khống chế thì có mấy định nghĩa thế này: là 2 DN chiếm thị phần doanh thu hoặc
lưu lượng từ 50% trở lên đối với dịch vụ mà DN đó cung cấp và gây ảnh hưởng trực
tiếp đến việc thâm nhập thị trường của các DN khác. Nhóm 3 DN chiếm thị phần
khống chế là có thị phần doanh thu, lưu lượng từ 65% trở lên, 4 DN thì chiếm 75%
trở lên. Điều này được quy định trong Luật cạnh tranh, được áp dụng cho các DN
BCVT và cũng phù hợp với thông lệ quốc tế.


Làm
thế nào để các DN viễn thông có thể cạnh tranh bình đẳng, không có hiện tượng
chèn ép trong quá trình kinh doanh, ông Sơn cũng cho biết một vài quan điểm của
nhà quản lý :



“Chính sách thì có nhiều, chỉ xin
đơn cử như vấn đề kết nối. Trước đây chúng ta kết nối theo cơ chế xin cho, khiến
DN mới khi muốn kết nối với DN chủ lực gặp rất nhiều khó khăn. Ngay sau đó, Bộ
đã có chỉ đạo xây dựng quy chế kết nối dựa trên cơ chế kinh tế, nên đã đảm bảo
cho vấn đề kết nối đến nay đã trở nên hết sức bình đẳng. Các DN đều dựa trên hợp
đồng kinh tế để tiến hành kết nối.


Một biện pháp nữa như tôi vừa nói
là vấn đề quản lý DN theo thị phần khống chế. Những DN chiếm thị phần khống chế
thì có cách quản lý chặt chẽ hơn. Những DN không chiếm thị phần khống chế được
tự do hơn về một số mặt, chẳng hạn quyết định giá cước và vấn đề kết nối để có
điều kiện phát triển. Chúng ta có thể thấy thị trường viễn thông VN thời gian
qua phát triển khá tốt, đứng thứ nhất thứ nhì thế giới về tốc độ phát
triển.


Có những vấn đề cụ thể xảy ra,
chẳng hạn như DN này không cho DN kia triển khai cung cấp dịch vụ giá trị gia
tăng... thì đó là việc thoả thuận giữa các DN. Còn Bộ chỉ đảm bảo cho việc khách
hàng của các DN không bị phân biệt đối xử”.


Chạy đua 3G, Wimax và
NGN



Dự kiến, Bộ TT-TT sẽ phát hồ sơ
mời thi tuyển cấp phép cung cấp dịch vụ 3G vào đầu tháng 2/2008. Như vậy, DN sẽ
có 3 tháng để chuẩn bị hồ sơ, sau đó Hội đồng sẽ chấm điểm các hồ sơ (trong 1
tháng), báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ và tiến hành cấp phép cho các hồ
sơ trúng tuyển trong quý II/2008. Khi được cấp phép, có thể doanh nghiệp sẽ mất
1-2 năm để đầu tư mạng lưới, triển khai và sau đó mới có thể cung cấp dịch
vụ.


Trước lo ngại về việc dịch vụ 3G sẽ sử dụng băng tần nào
và công nghệ này có bị chồng chéo với phổ tần của GSM và CDMA hiện đang sử dụng
hay không, ông Đoàn Huy Hoan, Cục trưởng Cục Tần số, Bộ TT-TT cho
biết
: Theo quy hoạch băng tần cho các hệ thống thông tin di
động IMT-2000 (còn gọi là 3G) thì dải tần phân bổ cho 3G là 1900-1980 MHz,
2010-2025 MHz, 2110-2170 MHz. Bộ TT-TT đã quy hoạch cho 4 nhà khai thác được
cung cấp dịch vụ 3G trên băng tần này, nên trong mỗi nhà khai thác được cấp ít
nhất 15 MHz trong các đoạn băng tần 1920-1980 MHz/2110-2170 MHz và 5 MHz trong
đoạn 1900-1920 MHz.



Hiện
tại, theo quy định của Bộ, các doanh nghiệp có thể tự lựa chọn sử dụng một trong
hai công nghệ 3G phổ biến nhất hiện nay là WCDMA và CDMA 2000 để cung cấp dịch
vụ 3G trên băng tần này, chứ không quy định cứng là phải sử dụng công nghệ nào.
Đây là 2 công nghệ khả thi và được ứng dụng phổ biến trên băng tần mà Bộ dự định
cấp phép.



Các
băng tần quy hoạch và đang được sử dụng cho các hệ thống GSM là 890-915
MHz/935-960 MHz, 1710-1785 MHz/1805-1880 MHz; cho CDMA là 829-845MHz/874-890 MHz
và 453,08-457,37 MHz/ 463,08-467,37 MHz.



Như
vậy, băng tần dành cho 3G và WiMax không trùng với băng tần dành cho GSM và
CDMA. Tuy nhiên, trong tương lai các công nghệ 3G và trên 3G có thể được phát
triển ngay trong các băng tần quy hoạch cho GSM và CDMA.


Hiện đại hóa quy hoạch
tần số



Đối
với việc quy hoạch và phát triển các kênh truyền hình dựa trên việc phân bổ và
quy hoạch tần số của cơ quan quản lý và khắc phục tình trạng “mạnh ai nấy làm”
của các đài truyền hình, Cục trưởng Cục Tần số Đoàn Huy Hoan cho biết: Trước
hết, phải khẳng định rằng tình trạng các đài PT-TH tỉnh "mạnh ai nấy làm" của
những năm trước đây hiện nay đã chấm dứt. Hiện tại, bộ TT-TT đã tăng cường đẩy
mạnh quản lý tần số đối với phát thanh truyền hình trên cả phương diện quy hoạch
và thực thi pháp luật.



Nếu
như trước đây, cuối những năm 90, báo chí đưa ra bàn bạc về một sự kiện gọi là
"Cuộc chiến trên tần số phát thanh truyền hình" thì ngày nay, vấn đề đó cơ bản
đã được giải quyết chứ không phải ở tình trạng mạnh ai nấy làm. Bộ TT-TT đã ban
hành các quy hoạch về kênh tần số cho truyền hình tương tự mặt đất, kênh tần số
cho phát thanh FM.



Khi
tuân thủ các quy hoạch này thì hầu hết các đài phát thanh truyền hình của trung
ương và địa phương đều thực hiện đúng quy hoạch. Tuy nhiên, một số đài đang
trong quá trình chuyển đổi từ kênh tần số cũ sang kênh tần số được quy hoạch thì
có những kênh chưa được chấm dứt hoàn toàn. Hai quy hoạch này vẫn đang tiếp tục
được nghiên cứu, điều chỉnh, sửa đổi để cho phù hợp với điều kiện phát triển
hiện nay là có thêm các đài được phép cung cấp dịch vụ truyền hình. Đối với các
đài địa phương, sở dĩ Bộ quy hoạch mỗi 1 đài địa phương chỉ có 1 kênh tần số
được phát truyền hình analog trừ TP.HCM và Hà Nội là dựa trên tiềm năng của
nguồn tài nguyên phổ tần.



Hiện
Việt Nam không có đủ tần số để quy hoạch và cấp phép nhiều hơn 1 kênh cho các
đài PT-TH địa phương và thực tế thì điều đó cũng phù hợp với năng lực sản xuất
chương trình của các đài địa phương.



Các
quy hoạch này đang được nâng cấp lên một bước. Bộ TT-TT đang trình Thủ tướng ban
hành quy hoạch về truyền dẫn sóng phát thanh, truyền hình. Hy vọng, khi thực
hiện quy hoạch này một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh thì trong tương lai, tình trạng
phát triển tự do trong phát thanh truyền hình sẽ hoàn toàn chấm dứt.





Số hóa hạ tầng truyền dẫn phát
sóng

Lộ trình tiến tới "số
hóa" hạ tầng truyền dẫn phát sóng ở VN đã được Bộ TT-TT đưa ra bằng 6 mục tiêu
và 4 định hướng cơ bản trong Quy hoạch Phát thanh truyền hình đến năm 2020 đã
trình Thủ tướng.


6 mục tiêu: Thứ nhất là đến năm
2015, phải đảm bảo TH được phủ sóng 95% dân cư. Đến năm 2020, phủ sóng hầu hết
các địa phương trên toàn quốc. Phát thanh, đặc biệt sóng phát thanh AM và FM,
đến năm 2015: phủ sóng toàn bộ dân cư. Thực hiện việc số hóa toàn bộ hạ tầng
truyền dẫn phát sóng trước năm 2020.


Đối với Phát thanh cũng khuyến
khích số hóa trước năm 2020. Truyền hình cáp, đến năm 2015, bảo đảm 100% trung
tâm các tỉnh, thành phố có mạng truyền hình cáp, với việc ứng dụng rộng rãi cáp
quang và ngầm hóa mạng ngoại vi. Và mục tiêu thứ 6 là bảo đảm cho người dân, đặc
biệt người dân ở vùng sâu vùng xa và biên giới hải đảo được cung cấp đầu thu TH
số, với giá cước phù hợp, ưu đãi.


Để đạt được mục tiêu này, quy
hoạch đưa ra 4 định hướng quan trọng: Thứ nhất là xây dựng hạ tầng
truyền dẫn PT-TH hiện đại, tiên tiến, thống nhất về mặt tiêu chuẩn công nghệ;
bảo đảm có thể chuyển tải được tất cả các dịch vụ CNTT, phát thanh, truyền hình
trên cùng một hạ tầng.


Thứ hai là phân định rõ hoạt động về sản xuất chương trình nội
dung với hoạt động truyền dẫn, nhằm mục tiêu để hình thành thị trường cung cấp
dịch vụ truyền dẫn PT-TH với hai tiêu chí: hoạt động về nội dung theo luật báo
chí, và chuẩn của hạ tầng công nghệ PTTH theo các quy hoạch viễn thông,
Internet. Mục tiêu này là thúc đẩy và tạo điều kiện mọi thành phần kinh tế tham
gia phát triển hạ tầng truyền dẫn PT-TH.


Thứ ba,đẩy mạnh quá trình số hóa toàn bộ hạ tầng truyền dẫn
phát sóngPT-TH, đến năm 2010, ngừng hệ thống tương tự để chuyển sang
toàn bộPT-THsố trước năm 2020. Trong năm 2008, nếu quy hoạch này
được Thủ tướng phê duyêt, Bộ cũng sẽ chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên
quan xây dựng đề án Số hóa truyền dẫn phát sóngPT-TH.


Thứ tư, xác định hạ tầng phục vụ cho các chương trình truyền
dẫn PT-TH công ích, phân biệt với các hạ tầng truyền dẫn có mục
đích khác để có cơ chế chính sách phù hợp về vốn, đầu tư, thuế...Chúng tôi cũng
rất hy vọng quy hoạch được Thủ tướng sớm phê duyệt để tạo điều kiện phát triển
hạ tầng truyền dẫn sóng PT-TH và tăng cường công tác quản lý về mặt cộng nghệ, chất
lượng, tiêu chuẩn của hạ tầng này.


Thắt chặt công tác thanh
tra, đo kiểm



Việc
công khai kết quả kiểm tra cũng như những thông tin về chất lượng được thực hiện
theo quyết định số 33 của Bộ TT-TT, trong đó yêu cầu công khai tất cả kết quả
kiểm tra, tất cả những nội dung doanh nghiệp công bố chất lượng trong đó không
quy định công khai mức xử phạt. Phó Chánh thanh tra Bộ TT-TT cho biết, mức xử
phạt không có gì là bí mật cả. “Vấn đề là chúng tôi thực hiện theo đúng quy
định. Hiện nay, khi một số báo đặt câu hỏi, chúng tôi cũng trả lời rõ rằng DN
nào vi phạm và bị xử phạt bao nhiêu một cách công khai. Chúng tôi cũng xin nói
lại là chúng tôi làm hoàn toàn theo quy định. Trong đó không quy định việc công
khai mức xử phạt nên chúng tôi không nêu công khai trong đó”.



Thanh
tra Bộ TT-TT cũng giải thích việc công bố công khai kết quả kiểm tra chất lượng
dịch vụ trong năm 2007 nhưng lại có sự đính chính, rằng: “Thực ra đây là 1 sơ
suất đáng tiếc trong quá trình soạn thảo văn bản. Kết quả này liên quan đến việc
kiểm tra của Saigon Postel (SPT), trong quá trình soạn thảo văn bản, giữa bên DN
và đoàn kiểm tra cũng không phát hiện được lỗi đánh máy nhầm về chỉ tiêu thực đo
được con số cụ thể về tỷ lệ gọi thành công, kết quả đã đo trước đó là 99,82%
nhưng đánh máy nhầm thành 95,18%.



Thực
chất là chúng tôi đính chính lại chứ không đo lại kết quả đó, và cũng xin nói rõ
rằng lỗi này cũng là một lỗi đáng tiếc vì con số 95,78%, nếu các bạn muốn kiểm
tra thì đó chính là kết quả đo trước đó của EVN Telecom. Đó hoàn toàn là sai sót
về mặt soạn văn bản. Con số trên mạng 95,78% là thể hiện của mạng EVN Telecom.
Các bạn cũng lưu ý rằng việc đính chính này cũng không hề nói lên chất lượng của
SPT là được nâng lên hay không mà chỉ nói rằng có vi phạm hay không. Chỉ tiêu
này trước và sau khi đính chính thì cũng có kết luận rõ ràng là chỉ tiêu này của
STP và không bị vi phạm”.



Vai
trò của công tác thanh tra trong việc xử lý các tiêu cực của các đại lý
Internet, Bộ TT-TT cho biết : Để hạn chế
tiêu cực, các chủ đại lý phải tìm hiểu, nắm vững quyền hạn và trách nhiệm của
mình được quy định tại thông tư 02 về quản lý đại lý Internet; thông tư liên
tịch 60 về quản lý trò chơi trực tuyến (game online); tìm hiểu các mức xử phạt
quy định trong Nghị định 55 của CP về quản lý cung cấp và sử dụng internet; Nghị
định 56 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động văn hoá, thông
tin; thông tư 03, 05 của Bộ BC-VT cũng đã có quy định về mức xử phạt vi phạm
hành chính rất rõ ràng...

Về phản ảnh của độc giả, khi người dân hoặc chủ
đại lý phát hiện những bằng chứng cho thấy cán bộ thanh tra, kiểm tra nhũng
nhiễu, gây khó khăn, phiền hà, vòi vĩnh tiền... cần phải báo ngay cho cơ quan
quản lý nhà nước tại địa phương (Sở BC-VT) hoặc công an địa phương. Bằng nhiều
biện pháp, có thể cung cấp chứng cứ hoặc cơ quan công an vào cuộc điều tra thu
thập chứng cứ, bắt quả tang... Các hiện tượng nói trên sẽ bị xử lý nghiêm trước
pháp luật.


Hướng tới " Hội tụ tất cả
trong 1 đường dây "



Trong lộ trình phát
triển của CNT, liệu đến khi nào thì truyền hình cáp, điện thoại cố định và ADSL
có thể đi cùng trên 1 đường dây ?


Thứ
trưởng Lê Nam Thắng cho biết quan điểm riêng: Thực ra trên thế giới, người ta đã
ứng dụng hội tụ dịch vụ viễn thông, điện thoại, Internet, CNTT phát thanh truyền
hình...trên cùng một hạ tầng. Vấn đề ở đây không phải về công nghệ mà là vấn đề
kinh doanh, thị trường.


Không phải tất cả các nước phát
triển đều triển khai dịch vụ này nhưng tại một số nước đã cung cấp được trên
cùng một đôi dây vừa cung cấp được ĐT, Internet và truyền hình Thị trường ta bắt
đầu ứng dụng dịch vụ này để làm sao cung cấp được dịch vụ - dịch vụ Triplay, "3
trong 1".


Ở Việt Nam, để triển khai được
dịch vụ này phải trên cơ sở triển khai nền tảng của mạng NGN. Thực ra từ năm
2005, các doanh nghiệp Việt Nam đã triển khai mạng NGN nhưng chủ yếu là mạng
lõi, và các mạng truy cập sẽ được triển khai từ năm 2008 trên nền IP. Hy vọng
rằng, trong tương lai gần, các doanh nghiệp có thể cung cấp dịch vụ triplay - 3
trong 1 - tại Việt Nam.




Huyền
Chi
(tổng hợp)Theo_VietNamNet[/list]= > Chuyển đổi sang font chữ to khó quá. Dán vào Word rồi dán lại thì VST bị kị ...