02/07/2009 07:05:35 AM


Băng rộng - chìa khóa
tăng trưởng kinh tế




= > Kinh tế có phát triển mạnh hay không phụ thuộc vào Viễn thông [Y]


ICTnews – Theo Ngân
hàng thế giới, nền công nghiệp băng thông rộng đã tạo công ăn việc làm và thúc
đẩy cả xã hội phát triển.





Trong bản báo cáo công bốngày
30/6/2009, Ngân hàng Thế giới (World Bank) khẳng định truy cập Internet và dịch
vụ điện thoại di động tốc độ cao chính là chìa khóa tạo nên tăng trưởng kinh tế
và tạo công ăn việc làm tại những nước đang phát triển. Thêm vào đó, Viện phát
triển Thông tin truyền thông của World Bank cũng báo cáo rằng, khi tỉ lệ kết
nối Internet tốc độ cao tăng 10% thì kinh tế cũng tăng trưởng lên 1,3%.



Theo Mohsen Khali, giám đốc bộ phận
công nghệ thông tin truyền thông toàn cầu của World Bank, từ năm 2000 đến 2007,
lượng người sử dụng Internet tại các nước đang phát triển tăng gấp 10 lần. Hiện
tại lượng thuê bao di động tại các nước này lên đến con số 4 tỉ. Công nghệ đã
tạo ra những cơ hội thật kỳ lạ, chính phủ các nước có thể làm việc với khối
doanh nghiệp tư nhân nhằm thúc đẩy việc mở rộng mạng lưới băng thông rộng và
cung cấp dịch vụ viễn thông tới những khách hàng có thu nhập thấp.



Bản báo cáo mô tả ngành di động như
một thứ quyền lực nhất, phổ cập dịch vụ cá nhân và công cộng tới hàng trăm
triệu người tại các nước đang phát triển.



Băng thông rộng đã tạo ra cả một
ngành công nghiệp mới, cung cấp dịch vụ Công nghệ thông tin cơ bản tại từng địa
phương. Nền công nghiệp này đã tạo thêm công ăn việc làm cho giới trẻ, tăng
năng suất xuất khẩu và thúc đẩy cả xã hội phát triển.



Tuy nhiên, số người sử dụng băng
thông rộng tại các nền kinh tế đang phát triển vẫn chưa nhiều. Tính đến năm
2007, mới chỉ có khoảng 5% số người có thu nhập thấp sử dụng băng thông rộng và
họ sống chủ yếu ở khu vực trung tâm, thành thị. Tuy nhiên, Chính phủ có thể
đóng vai trò chủ đạo trong việc phổ cập băng thông rộng bằng cách ban hành các
chính sách nhằm khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và đầu tư cá nhân.



Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ
nhiều dự án công nghệ thông tin truyền thông tại hơn 100 nước với danh mục đầu
tư lên đến hơn 3 tỉ USD.





Thanh Vân - Theo AFP[h1]Cáp quang: Từ vật liệu triệu đô đến phế liệu 2.000 đồng/kg[/h1]Nhân loại chỉ mới sử dụng cáp quang
xuyên đại dương từ năm 1988. Từ đây, đã mở ra thời kỳ mới trong viễn
thông với hàng loạt ứng dụng, trong đó có Internet. Ở Việt Nam, cả hệ
thống viễn thông từ loại vật liệu mới, hiện đại và đắt giá này suýt nữa
đã biến thành đồng nát.



[table]


|



Cáp quang - cuộc cách mạng trong viễn thông |



[/table]
Từ những năm 50 của thế kỷ XX, người
ta đã dùng cáp kim loại xuyên đại dương để chuyển tải những cuộc đàm
thoại từ nước này sang nước khác. Ở Việt Nam, trước 75, để phục vụ mục
đích chiến tranh, Mỹ cũng đã đặt một đường cáp ngầm để liên lạc giữa
Washington và Sài Gòn vào đầu những năm 1970.
Người viết bài này còn
nhớ, vào năm 1975, khi có mặt ở Cam Ranh vào thời điểm ấy, một đồng chí
bộ đội dẫn đường đưa đến một toà nhà kiên cố với biển đề “Đầu cáp ngầm
đại dương”. Đồng chí bộ đội kể: “Khi giải phóng Cam Ranh, một đồng chí
chỉ huy của ta lia trọn hai băng đạn vào hệ thống máy móc. Viên thiếu
uý chế độ cũ phụ trách kỹ thuật đi cùng buồn rầu nói: "Băng đạn vừa rồi
của quý anh trị giá cả triệu đôla đó !”.


Phải chăng những kẻ hám
lợi đã đánh hơi thấy món lợi từ số cáp đồng không dùng đến nữa, bỏ lại
dưới đáy biển để bắt đầu lao vào khai thác để rồi "ăn" luôn vào hệ
thống cáp quang xuyên đại dương vốn dùng thay thế cáp ngầm bằng kim
loại?


Từ sợi quang đến cáp quang: Vật liệu lý tưởng cho truyền thông



[table]


|




Cấu trúc của cáp quang: Trong cùng là
“lõi” (core), tức những bó sợi quang làm nhiệm vụ truyền dẫn dữ liệu.
Tiếp đó là lớp phủ (cladding), thường là polyme flo hoá để tăng độ phản
chiếu, ngăn chặn sự thất thoát và suy giảm thông tin. Bên ngoài là lớp
bảo vệ (coating) thường bằng nhựa cứng, chống ăn mòn ở môi trường ẩm
ướt như đáy biển. (Ảnh: Globalimpexonline)

|



[/table]
Sợi quang (optical fiber) đầu tiên
bằng thuỷ tinh được một giáo sư người Anh là Narinder S. Kapary chế tạo
vào năm 1955, dựa trên công trình của một nhà vật lý Ireland là John
Tydall (1820-1893), người đã chứng minh một số đặc điểm của việc vận
chuyển ánh sáng bằng sự phản chiếu nội bộ (liên tục nhiều lần vào thành
sợi).

Lúc đầu, sợi quang học
chỉ được sử dụng vào mục đích trang trí, bảng tín hiệu hoặc bảng quảng
cáo hoặc dùng trong một số dụng cụ y tế như dẫn sáng vào vị trí cần sửa
răng hoặc trong máy soi dạ dày (gastroscope), ống soi phế quản
(bronchoscope), đèn nội soi (medical endoscope) trong khám, chẩn đoán
bệnh và phẫu thuật y tế. Sợi quang cũng dùng trong “nội soi công
nghiệp” (industrial endoscope) để theo dõi hoạt động của những nơi
không thể tiếp cận trực tiếp, như kiểm tra bên trong động cơ máy bay
phản lực chẳng hạn.


Song ứng dụng chủ yếu
của sợi quang chính là trong ngành viễn thông và công nghệ thông tin:
làm dây dẫn truyền dữ liệu, âm thanh, hình ảnh v.v... Để tăng độ phản
chiếu ánh sáng, lớp vỏ ngoài của sợi thường được tráng một loại chất
phủ nào đó. Tuy nhiên, sợi truyền dẫn ở những khoảng cách lớn bao giờ
cũng là sợi thuỷ tinh vì tiêu hao quang là thấp nhất.


Dùng trong ngành bưu
điện và viễn thông, sợi quang thay sự truyền dẫn bằng xung điện tử
trong kim loại như trước đây bằng xung ánh sáng, tỏ ra có nhiều ưu thế
vượt trội so với sợi kim loại truyền thống là đồng.


Sợi quang mềm dẻo và dễ
uốn, dễ tập hợp thành bó. Ánh sáng truyền qua sợi quang không bị suy
giảm nên bảo đảm được chất lượng thông tin, dữ liệu. Thêm vào đó, ánh
sáng được điều biến ở tốc độ cao 40 Gb/s, mỗi sợi trong bó (cáp) mang
những kênh độc lập. Một dây cáp bằng sợi quang có thể “chuyên chở” các
dữ liệu với tốc độ 14.444 Tb/s.



[table]


|



Cáp quang lên tem. (Ảnh: Bussiness Week) |



[/table]
Khác hẳn cáp kim loại, sợi quang được
“miễn dịch” với sự giao thoa điện nên tránh được hiện tượng nhiễu mà
trước đây phải xử lý phức tạp. Không dẫn điện, sợi quang hoạt động an
toàn trong môi trường cháy nổ. Sợi quang có thể kéo từ khối nóng chảy
có kích thước nhỏ hơn sợi đồng. Tỷ trọng của vật liệu lại nhỏ, nên bó
sợi gọn nhẹ hơn. Khi hoạt động, không cần những máy phát cao áp nên
năng lượng tiêu thụ ít. Sợi quang thích hợp một cách lý tưởng với những
thông tin số hoá. Một sợi kích thước chỉ bằng một sợi tóc có thể truyền
được một nghìn tỷ bit trong một giây. Và cuối cùng, về tính kinh tế, do
những nguyên nhân trên, sợi quang luôn luôn rẻ hơn, chi phí xây dựng
thấp hơn sợi truyền thông tin truyền thống.
Chình vì thế, người ta
coi phát minh ra sợi quang là một phát minh lớn, có ảnh hưởng cực kỳ
quan trọng, có thể nói mang tính cách mạng trong ngành viễn thông.


Với các tính chất tuyệt
vời như vậy, ứng dụng chủ yếu của sợi quang là cáp quang. Cáp quang có
nhiều loại từ các vật liệu sợi khác nhau và kết cấu của cáp khác nhau.
Nói chung, cáp gồm những phần bao bọc lên nhau. Trong cùng là “lõi”
(core) - những bó sợi quang làm nhiệm vụ truyền dẫn dữ liệu, tiếp đó là
lớp phủ (cladding, thường là polyme flo hoá) để tăng độ phản chiếu,
ngăn chặn sự thất thoát và suy giảm thông tin. Tiếp đó là lớp bảo vệ
(coating) thường bằng nhựa cứng, đặc biệt quan trọng đối với môi trường
ăn mòn, ẩm ướt như đáy biển. Cuối cùng là lớp vỏ (jacket) bằng chất dẻo
hoặc cao su lưu hoá. Đối với loại cáp lớn, nhiều khi phần lõi chiếm tới
96%.


Cáp quang biển: Không có nó, không có internet



[table]


|




Lắp cáp dưới đáy biển (Ảnh: personal.psu.edu)

|



[/table]
Cáp quang dần dần thay thế cáp điện
đồng trục giữa các Trung tâm điện thoại. Từ việc sử dụng trên đất liền,
cáp quang “vươn ra” biển, nối liền các châu lục qua đại dương.
Về mặt kỹ thuật, cáp
quang chỉ là đường nối trung gian. Ở đầu phát, người ta biến xung điện
thành xung quang. Ở đầu tiếp nhận, các xung quang lại được “dịch” ra
thành xung điện để đến với người sử dụng trên những thiết bị điện tử
hiện có.


Quá trình đặt cáp dưới
biển là một quá trình khá công phu bao gồm các khâu thăm dò đáy biển
(độ sâu, địa hình…), lập bản đồ toạ độ đường cáp sẽ đi qua (tránh những
nơi lưu lượng tàu đi lại lớn hoặc khu vực đánh cá, rà quét thường xuyên
đáy biển…), tiếp đó là các khâu kỹ thuật đặt cáp, chôn cáp. Tất cả các
khâu này đều được các công nhân kỹ thuật chuyên nghiệp và máy móc
chuyên dụng (kể cả các robôt chế tạo riêng cho mục đích này) để làm
việc dưới biển sâu. Tất nhiên, sau đó phải có một đội ngũ bảo trì, theo
dõi sự hoạt động của hệ thống cáp cho an toàn và sửa chữa nếu cần thiết.


Cáp quang đầu tiên vượt
Đại Tây Dương là TAT-8 nối Mỹ-Anh-Pháp từ năm 1988. Dài 6.620 km để
truyền thông tin kỹ thuật số ở tần suất cao cho điện thoại, truyền hình
và tin học. Các đối tác là DGT (Pháp), American Telegraph and Telephone
(ATT) và British Telecom International cùng đầu tư kỹ thuật và vốn. Nó
cho phép chuyển 37.500 cuộc điện đàm cùng một lúc. Từ tháng 3/1992 đưa
vào hoạt động cáp quang TAT-9 giữa Mỹ, Canada và Pháp. Cáp quang này
dài 9.550 km, truyền được đồng thời 80.000 cuộc điện đàm, tức là gấp
đôi cáp quang TAT-8.


Từ ngày đó, cáp quang
trở nên phổ biến và là phương tiện không thể thiếu được trong ngành bưu
chính viễn thông. Cáp quang đã làm các nước kết nối với nhau, là đường
truyền Internet, fax, các dữ liệu thông tin và cả một số chương trình
truyền hình không qua vệ tinh địa tĩnh. Một cuộc điện thoại xuyên quốc
gia nếu dùng đường truyền của cáp quang dưới biển nghe rõ hơn hẳn nghe
qua sóng điện từ của vệ tinh vì không bị nhiễu bởi tạp âm.


Theo nhận định của các
chuyên gia, nếu như hệ thống cáp quang chưa ra đời, rất có thể mạng
Internet đang ở trạng thái trì trệ và khó hình dung ra nó sẽ trở thành
một mạng toàn cầu, một kho tri thức vô tận mà ai cũng có quyền tiếp
cận. Thế giới sẽ không “hội nhập” ở mức độ phổ biến như hiện nay.


Tổn thất bước đầu: Gần 6 triệu USD



[table]


|



Cáp bị cắt trộm ở vùng biển thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu (Ảnh: Ngọc Nguyện) |



[/table]
Vậy là những tuyến cáp quang ngầm dưới biển của Việt Nam đã bị xâm hại nghiêm trọng.
1.500 tấn cáp ngầm dưới
biển, trải dài 100 km đã trở thành phế liệu để “khai thác” như của Trời
cho và lấy lên để… bán đồng nát! Theo các nguồn tin, tuyến cáp quang bị
“khai thác” làm phế liệu chủ yếu thuộc tuyến APCN (Asia Pacific Cable
Network), đó là tuyến cáp quang lớn đi qua vùng biển Việt Nam chứ không
cập bờ Việt Nam, có chiều dài 12.000 km, dung lượng 10 Gb/s và tổng chi
phí đầu tư 640 triệu đôla.



Một tuyến nữa của chính
Bộ Bưu Chính Viễn thông Việt Nam bị “đào bới”, cắt bỏ và vớt lên bán là
tuyến TVH. Nguy cơ Việt Nam bị cô lập về thông tin sẽ xảy ra nếu sự
việc không được ngăn chặn kịp thời.


Từ tổn thất, các chuyên
gia đã có những đánh giá bước đầu là để phục hồi sẽ tốn kém 5.843.647
đôla Mỹ và 3 tháng sửa chữa. Cái lợi mà những kẻ phá hoại thu được, như
chúng ta đã thấy từ những nguyên vật liệu cấu tạo nên cáp quang, thật
nhỏ nhoi, vài chục nghìn đồng một kg, thậm chí chỉ 2.000 đồng/kg. Trong
khi đó, theo Công ty viễn thông quốc tế (VTI) vào thời điểm xây dựng
tuyến cáp quang TVH năm 1994, giá 1 km cáp quang đã là 13.000 USD
.


Một điều khó tưởng
tượng là có người (nhất định phải ở cơ quan có trách nhiệm về cáp
quang) đã bán thông tin về toạ độ của tuyến cáp, chỉ dẫn cho người
“khai thác” khỏi mất công tìm kiếm để lấy tiền! Theo báo chí cho biết,
một công dân ở Bà Rịa - Vũng Tàu đã đứng đơn xin phép hẳn hoi (!) chính
quyền địa phương để khai thác cáp mà người này gọi là "cáp quang thời
Mỹ ngụy không sử dụng được". Đồng thời, trong đơn còn chỉ rõ ra khu vực
có cáp là ở... tọa độ 06046’N - 108019’E!


Ngày 9/8, công dân này đưa đơn xin
phép khai thác cáp thì đến ngày 16/8, tức là chỉ trong vòng có 1 tuần
thôi, hai cơ quan là Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu và UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã chấp thuận cái rẹt! Và, hậu quả
như ta đã biết...





[table]

Cáp quang truyền dẫn thông tin như thế nào?

|




Cáp quang là những
sợi bằng thuỷ tinh, thường có đường kính 120 µm. Cáp quang được sử dụng
để truyền tải những tín hiệu bằng những xung ánh sáng ở khoảng cách
trên 50 km mà không cần thiết bị lặp lại. Những tín hiệu này có thể
được mã hoá thành những ngôn ngữ giao tiếp hay dữ liệu trên máy tính.
Một cáp quang tiêu chuẩn có thể truyền đi hơn 10 triệu thông tin trong
một giây bằng tia laser.



Xu hướng sử dụng ánh sáng trong truyền tải thông tin đã phát triển từ
những năm 1990, với việc phát minh ra laser. Thoạt tiên, khoảng cách
truyền tin rất ngắn. Nhưng khi các kỹ thuật sản xuất thuỷ tinh tinh
khiết phát triển vào những năm 1970, cáp quang trở thành kế hoạch khả
thi khi thực hiện truyền tin ở khoảng cách vừa phải. Cùng với sự phát triển của vật liệu bán dẫn vào thập niên 80, cả thế giới được cài đặt mạng lưới liên lạc bằng cáp quang


Cáp quang có thể truyền
tải những ký hiệu mà không tốn nhiều năng lượng như cáp đồng và với
băng thông cao hơn rất nhiều. Điều đó có nghĩa là cáp quang có thể tải
nhiều kênh thông tin vượt qua khoảng cách dài hơn mà không đòi hỏi
nhiều thiết bị lặp lại. Tuy
nhiên, cáp quang không có khả năng nối kết dễ dàng như cáp đồng và đòi
hỏi những huấn luyện nhân sự đặc biệt cùng với những trang thiết bị đo
và kết nối chính xác.


Thế nhưng, thực tế những
vật liệu thô để làm ra cáp quang như cát là rất phong phú và rẻ, giá
của một mét cáp quang vẫn rất đắt đỏ hơn cáp đồng trong công nghệ sản
xuất và lắp đặt. Nhưng có thể nói rằng, nếu tính toán trong thời gian
lâu dài, cáp quang tiện ích hơn cáp đồng vì có thể mang đi nhiều thông
tin hơn, trên một khoảng cách xa hơn và không cần nhiều thiết bị lặp
lại.


Cáp quang có thể
sử dụng trong viễn thông, kết nối mạng nội bộ (Local Area Networks
(LANs), truyền hình cáp, các cảm biến (sensor) cáp quang. Các sensor
này dùng trong môi trường gas, hoá học, áp suất, nhiệt độ… Thông
tin trên cáp quang rất khó bị nghe trộm, không bị ảnh hưởng bởi điện từ
nhiễu từ các tín hiệu radio, hệ thống đánh lửa trong xe hơi, hệ thống
chiếu sáng… Nó còn hoàn toàn an toàn nếu có vụ nổ hay cháy xảy ra.

[*]
H. Cát (Lược dịch theo floti.bell.ac.uk, www.tiscali.co.uk)[/list][/table]



== > Năm 2007 là năm mà VNPT .v.v. bị trộm cắp cáp quang ... gây nên tổn thất lớn . Điều nầy phản ảnh vào LNST của năm sau đó , tức năm 2008 .
[h1]Chế tạo sợi quang từ bọt biển[/h1]




Loài bọt biển này có thể tạo nên đột phá trong công nghệ quang sợi.


Các
nhà khoa học Mỹ tuyên bố rằng họ vừa xác định được một loại bọt biển
sống dưới đáy biển sâu có thể sản sinh những sợi mỏng trong suốt. Loại
sợi tự nhiên này có khả năng truyền ánh sáng tốt hơn cáp quang trong
viễn thông. Ngoài ra, nó còn mềm dẻo hơn cáp quang - loại sợi dễ gãy
khi bị bẻ cong quá mức.



Joanna
Aizenberg, người phụ trách cuộc nghiên cứu tại Trung tâm thí nghiệm
Bell, nói: "Loại sợi sinh học tự nhiên này có thể đem thắt thành nút mà
vẫn không gãy - điều này thật là kỳ diệu".



Với cái tên mỹ miều
"Lẵng hoa Venus", giống bọt biển trong suốt này sử dụng vật liệu tự
nhiên để sản sinh ra sợi mềm dẻo ở nhiệt độ thấp. Chính điều đó cho
phép các nhà khoa học hy vọng nhân bản được sợi tự nhiên. Hiện nay, mọi
phương pháp sản xuất sợi quang đều đòi hỏi sử dụng nhiệt độ cao khiến
cho sợi bị dòn, dễ gãy.


Theo Aizenberg, giống
bọt biển này còn có thể bổ sung natri vào sợi, làm tăng khả năng truyền
dẫn ánh sáng - điều không thể thực hiện được đối với sợi quang đòi hỏi
nhiệt độ cao. Bà
nói: "Một trong những thách thức đối với công nghệ là đưa phụ gia vào
cấu trúc thuỷ tinh nhằm cải thiện thuộc tính quang học. Nếu chúng ta
biết được chính xác phải làm thế nào để đưa natri vào sợi quang ở nhiệt
độ thấp như sợi thiên nhiên thì chúng ta có thể kiểm soát tất cả mọi
thuộc tính của quang học".


Giống bọt biển này sinh
trưởng tại vùng nước sâu nhiệt đới. Cao khoảng 45 cm, bộ khung hình
lưới phức tạp, cấu tạo từ hợp chất silic của nó, thường được loài tôm
lấy làm nơi trú ngụ. Ở dưới gốc, các sợi trong suốt tạo thành hình
vương miện giữ chặt bọt biển với đáy biển. Loại sợi này thường dài từ 5
đến 17 cm, mỗi sợi có kích thước bằng sợi tóc người.


Nghiên cứu nói trên là
một trong những khám phá mới nhất thuộc lĩnh vực phỏng sinh học. Đây là
nỗ lực nhằm tìm hiểu cơ chế của hệ thống sinh học và áp dụng các nguyên
tắc của nó vào công nghệ. Mặc
dù không trực tiếp tham gia nhưng Geri Richmond, nhà hóa học và khoa
học vật chất thuộc Đại học Oregon, vẫn rất quan tâm đến cuộc nghiên cứu
này. Bà nói: "Đây là một ví dụ tuyệt vời về sự tuyệt vời của thiên
nhiên khi thiết kế và xây dựng nên những hệ thống phức tạp. Chúng ta có
thể vẽ ra giấy và nghĩ cách điều khiển nó, nhưng so với thiên nhiên thì
chúng ta vẫn còn đang ở thời kỳ đồ đá".


Randy Kochevar, nhà sinh
học biển thuộc Trung tâm Thuỷ sinh Monterey ở California cho rằng ngành
phỏng sinh học đã thực hiện một cuộc "thăm dò sinh học" dưới đáy biển.
Ông nói: "Những người làm việc trong công nghiệp, y dược hoặc công nghệ
sinh học toả ra ngoài và tìm kiếm các hợp chất đáng chú ý dưới đáy biển
sâu. Ở đấy có nhiều nguồn lợi mới lạ còn chưa được khai thác."


Trong những năm gần đây,
người ta đã khám phá ra loại enzyme lấy từ vi khuẩn làm tan mỡ trong
nước lạnh để cải tiến chất lượng bột giặt; protein phát sáng ở loài sứa
cho phép bác sĩ phẫu thuật chiếu sáng và cắt bỏ tế bào ung thư; và một
loại enzyme khác lấy từ vi khuẩn sống gần các ống phun thuỷ nhiệt dưới
đáy biển có thể giúp nâng cao chất lượng thử ADN.


Kochevar nói rằng trước
khi tiến hành cuộc nghiên cứu về bọt biển, Aizenberg đã khám phá ra
trên lớp vỏ của một loài sao biển có nhiều thấu kính tí hon làm "mắt"
chung, gợi ý cho giới kỹ sư về mẫu máy cảm biến và hệ thống hướng dẫn. Ông
nói: "Thật là không thể tin nổi. Chúng tôi quan sát những vật không
được xếp vào loài có thị giác và tìm thấy các thuộc tính quang học
tuyệt vời ngay trong cơ thể chúng".


(Khánh Hà - Theo MSNBC)