PTC có thực sự tiềm năng
  • Thông báo


    + Trả lời Chủ đề
    Trang 9 của 41 Đầu tiênĐầu tiên ... 7 8 9 10 11 19 ... CuốiCuối
    Kết quả 161 đến 180 của 811
    1. #161
      Ngày tham gia
      Jul 2008
      Bài viết
      693
      Được cám ơn 4 lần trong 4 bài gởi

      Mặc định Re: * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .



      "...khu đất vàng bị bỏ hoang...". T/p vừa có QĐ qui hoạch thế mà gọi là bỏ hoang? Có ý đồ gì đây...mà sao nvpt *** thế nhỉ, có mảnh đất nằm giữa lòng t/p mà không khai thác để kẻ khác dòm ngó muốn lấy....

      Các bác có cp PTC sợ thì bán ngay đi, để khi mất mảnh đất vàng ấy thì vnpt không có cái để giao PTC làm ăn đâu, lại càng thiệt hơn còn tôi thì vẫn cứ mua vào cho vui vậy.

    2. #162
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .




      Ngân hàng Thế giới: Kinh tế Việt Nam đang
      lấy lại tốc độ tăng trưởng

      (Chinhphu.vn) Chính phủ Việt Nam đã ban hành
      các chính sách kịp thời và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, như hỗ trợ lãi
      suất, thực hiện các chương trình kích cầu vào những lĩnh vực trọng điểm… để ứng
      phó khủng hoảng kinh tế toàn cầu khá hiệu quả so với các nước khác nên kinh tế
      Việt Nam đang có những chuyển biến tích cực.


      (04/06/2009-06:14:00 PM)


      Đây là đánh giá của ông Martin Rama, Chuyên gia kinh tế trưởng
      của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam (nguyên Quyền Giám đốc WB Việt Nam) tại
      buổi họp báo trước thềm Hội nghị giữa kỳ nhóm các nhà tài trợ cho Việt Nam năm
      2009 (CG), chiều 4/6 tại Hà Nội.


      Ông Martin Rama cho rằng, Việt Nam có nền kinh tế năng động và
      có một số đặc điểm riêng như dân số trẻ và thị trường lao động linh hoạt đã giúp
      giảm thiểu các tác động xã hội của suy giảm kinh tế. Mức độ tổn thương thấp vì
      người dân và doanh nghiệp không dựa nhiều vào nguồn vốn vay, khả năng kinh doanh
      linh hoạt thể hiện qua việc tìm kiếm các bạn hàng và thị trường xuất khẩu mới…
      “Những lý do trên đã giúp nền kinh tế Việt Nam có những dấu hiệu rõ nét về khả
      năng phục hồi kinh tế.”, ông Martin Rama phân tích.


      Theo đánh giá mới nhất của WB về tình hình kinh tế Việt Nam gần
      đây thì ngành xây dựng đang phục hồi mạnh, GDP của ngành xây dựng năm 2008 giảm
      0,4% nhưng trong quý I/2009 tăng trên 6,9% và WB dự kiến có thể đạt tăng trưởng
      2 con số cho cả năm 2009.


      Tình hình xuất khẩu của Việt Nam cũng được đánh giá là khá hơn
      so với các nước trong khu vực. Mặc dù xuất khẩu là một trong những lĩnh vực bị
      ảnh hưởng nặng nề nhất khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra nhưng tăng
      trưởng xuất khẩu của Việt Nam trong quý I/2009 đạt 7,4%, (trong khi đó các nước
      trong khu vực đều tăng trưởng âm). WB đánh giá Việt Nam đã có những nỗ lực lớn
      trong việc đẩy mạnh xuất khẩu, các hoạt động kinh tế đang hồi phục, lấy lại tốc
      độ tăng trưởng và đi lên.


      Đối với những tác động xã hội của suy giảm kinh tế, trong đó có
      thị trường lao động, theo các đánh giá tác động nhanh do Viện Khoa học Xã hội
      Việt Nam (VASS) kết hợp với WB tiến hành tại một số chợ lao động, làng nghề và
      các khu công nghiệp gần Hà Nội trong tháng 2,3,4 thì ảnh hưởng tiêu cực lớn như:
      Tái nghèo, thiếu ăn, bán đất, vô gia cư… là không phổ biến; tình trạng mất việc
      chỉ phổ biến đối với lao động thời vụ và người ký hợp đồng ngắn hạn.


      Theo WB, thị trường lao động đô thị hiện nay đang nhộn nhịp trở
      lại. Đặc biệt là thị trường lao động dành cho những lao động tay nghề cao và thủ
      công sẽ tăng lên.


      WB cũng đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam nhằm góp phần
      đảm bảo tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội
      như: Tách biệt từng giai đoạn hỗ trợ lãi suất; chuyển dịch từ chính sách tiền tệ
      sang chính sách tài khóa; cụ thể hơn các khoản chi tiêu của gói kích cầu lần
      hai, tăng đầu tư cho các dự án cấp bách; đẩy nhanh việc giải ngân các nguồn vốn
      ODA; tăng cường chất lượng công tác giám sát ngân hàng; tiếp tục cải cách khu
      vực công; tăng cường công bằng xã hội, đảm bảo đủ nguồn vốn cho các chương trình
      hỗ người nghèo.


      Tại buổi họp báo, WB cũng thông báo, Hội nghị CG sẽ chính thức
      được tổ chức tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk trong hai ngày từ
      8-9/06/2009.


      Hội nghị lần này sẽ tập trung thảo luận vào các chủ đề chính
      như: Đánh giá tình hình phát triển kinh tế vĩ mô, những diễn biến mới và triển
      vọng tăng trưởng cho năm 2009; Ảnh hưởng xã hội bắt nguồn từ việc suy giảm kinh
      tế và chính sách thích ứng của Chính phủ; Quản trị công và chống tham nhũng,
      trong đó tập trung vào việc thực hiện Chiến lược Phòng, chống tham nhũng đến năm
      2020; Biến đổi khí hậu: Thích nghi và giảm thiểu tác động; Hiệu quả viện trợ và
      tiến triển của quá trình hài hòa thủ tục.


      Trước thềm Hội nghị CG 2009, Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam
      (VBF), một hoạt động gắn với Hội nghị dành cho các doanh nghiệp trong và ngoài
      nước đã được Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) (thuộc nhóm WB hỗ trợ khu vực tư
      nhân) và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đồng tổ chức. Các doanh nghiệp đã đối thoại với
      Chính phủ về thị trường vốn và ngân hàng, sản xuất và phân phối, du lịch; nghe
      và thảo luận về kết quả khảo sát về các trở ngại trong thủ tục hành chính đối
      với doanh nghiệp và nhà đầu tư; Ấn tượng của doanh nghiệp trong và ngoài nước về
      môi trường kinh doanh tại Việt Nam./.





      Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật
      Bản: Cơ hội cho cả hai bên

      (VOV) - Doanh nghiệp và người dân hai nước sẽ
      có điều kiện tiếp cận sâu, rộng hơn các nguồn vốn, công nghệ, tài nguyên và
      nhiều dịch vụ khác


      5:29 PM, 28/06/2009


      Quốc hội Nhật Bản vừa chính thức thông qua Hiệp
      định đối tác kinh tế với Việt Nam. Phóng viên VOV thường trú tại Nhật Bản phỏng
      vấn ông Vũ Văn Trung, Tham tán thương mại, Trưởng cơ quan Thương vụ Việt Nam tại
      Nhật Bản về kế hoạch thực thi Hiệp định này.


      Phóng viên: Xin ông cho biết
      ý nghĩa của Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản?



      Ông Vũ Văn Trung: Hiệp
      định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản là hiệp định tự do thương mại đầu tiên
      của Việt Nam ký kết với đối tác nước ngoài kể từ khi Việt Nam chính thức trở
      thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Đây là Hiệp định tự do
      thương mại thứ 10 của Nhật Bản ký kết với các đối tác nước ngoài.


      Hiệp định này có ý nghĩa quan trọng, tạo ra một
      khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho cả Việt Nam và Nhật Bản. Vì đây là Hiệp định có
      phạm vi rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư, công nghiệp,
      nông nghiệp, lao động, sở hữu trí tuệ. Doanh nghiệp sẽ có nhiều điều kiện xúc
      tiến các hoạt động thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác.


      Về Thương mại, theo qui định, trong vòng 10 năm
      tới, hai nước tiến tới đưa hơn 92% giá trị xuất nhập khẩu được hưởng chế độ miễn
      thuế. Khoảng 94,53% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Nhật Bản sẽ hưởng chế
      độ giảm thuế và kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản vào Việt Nam được hưởng chế độ
      này là 87,66%. Nhóm mặt hàng được hưởng ưu đãi thuế mạnh nhất gồm thủy sản, nông
      sản, dệt may, sắt thép, hóa chất và linh kiện điện tử.


      Viêc thông qua Hiệp định này đáp ứng lòng mong mỏi
      của cộng đồng doanh nghiệp cũng như người dân của hai nước, góp phần đưa quan hệ
      Viêt Nam - Nhật Bản trở thành quan hệ đối tác chiến lược.


      Phóng viên: Để hiệp định đối
      tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản phát huy giá trị thực tiễn thì phía Việt Nam cần
      phải có những nỗ lực gì trong giai đoạn hiện nay cũng như trong tương lai, thưa
      ông?



      Ông Vũ Văn Trung: Nét cơ
      bản của Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam- Nhật Bản là tạo ra khung pháp lý,
      tạo điều kiện cho quan hệ hợp tác hai nước ngày càng phát triển. Để thực hiện và
      phát huy những lợi thế đó, chúng tôi cho rằng, từ cả hai phía, đặc biệt là phía
      Việt Nam phải nỗ lực rất nhiều để hưởng những ưu đãi mà Hiệp định mang
      lại.


      Về lĩnh vực Thương mại, Nhật Bản là thị trường lớn
      thứ hai của Việt Nam trong lĩnh vực xuất khẩu, sau Mỹ. Trong nhiều năm qua, kim
      ngạch xuất khẩu có tăng trưởng nhưng chưa thật mạnh mẽ so với mong muốn của cả
      hai bên. Việc duy trì độ bền vững của tăng trưởng này cũng là một vấn đề. Chúng
      tôi cho rằng, để tận dụng sự ưu đãi của Hiệp định, Việt Nam phải nỗ lực tìm
      nhiều nguồn hàng xuất khẩu chất lượng cao, giá thành hạ, đáp ứng nhu cầu thị
      hiếu của thị trường Nhật, thay đổi cơ cấu mở rộng các mặt hàng xuất khẩu sang
      Nhật Bản.


      Các mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam
      sang Nhật Bản là nông sản, thủy sản, dệt may, thủ công mỹ nghệ và khoáng sản
      thô. Muốn chiếm lĩnh thị trường Nhật Bản một cách ổn định và lâu dài, tăng nhanh
      kim ngạch xuất khẩu cần cải tiến cơ cấu xuất khẩu mặt hàng công nghiệp chế tạo.



      Thị trường Nhật Bản là một trong những thị trường
      có yêu cầu cao về chất lượng, đặc biệt là vấn đề kiểm dịch, vệ sinh an toàn thực
      phẩm. Mặc dù lâu nay, Việt Nam đã có nhiều cố gắng song cần phải nỗ lực hơn nữa
      để giảm thiểu những vụ vi phạm như dư lượng chất kháng sinh trong mặt hàng xuất
      khẩu tôm đông lạnh. Còn về các mặt hàng trái cây có hạt, rau xanh vẫn chưa được
      phép nhập khẩu vào Nhật Bản ở dạng tươi do vấn đề kiểm dịch. Tới đây, Việt Nam
      cần chú trọng làm tốt từ khâu sản xuất đến kiểm dịch bảo đảm đúng yêu cầu của
      nước bạn về kiểm dịch thực vật. Như vậy, Nhật Bản mới có thể khai thác hết tiềm
      năng trái cây và hoa quả nhiệt đới của Việt Nam. Nhật Bản và Việt Nam cũng đã
      nhất trí xây dựng trung tâm kiểm dịch và kiểm định mặt hàng xuất khẩu sang Nhật
      Bản.


      Về hợp tác đào tạo nguồn nhân lực, phía Nhật Bản
      qui định một cách khắt khe về vấn đề tiếp nhận người lao động từ nước ngoài
      trong các lĩnh vực y tế và dịch vụ khác. Sau khi đạt được thỏa thuận của Hiệp
      định, trong thời gian tới, hai bên phải qui chuẩn hóa về đào tạo đối với y tá,
      hộ lý và các lao động dịch vụ khác. Ngoài ra, cần có tiêu chuẩn hài hòa hợp tác
      kỹ thuật và cấp chứng chỉ các ngành chuyên nghiệp mới có thể đưa kỹ thuật viên,
      kỹ sư lành nghề sang lao động tại Nhật Bản. Các lĩnh vực khác như: Du lịch, giao
      thông vận tải, môi trường... Việt Nam cũng phải cố gắng vươn lên ở trình độ khu
      vực để có thể hợp tác tốt với phía Nhật Bản.


      Để thực hiện hiệu quả Hiệp định, trước mắt và lâu
      dài, hai nước còn nhiều việc phải làm. Tôi tin tưởng với sự chỉ đạo của Chính
      phủ và những nỗ lực của các bộ ngành liên quan, các doanh nghiệp, trong tương
      lai không xa Việt Nam sẽ tận dụng được nhiều lợi thế của hiệp định, đưa quan hệ
      hợp tác giữa hai nước phát triển vượt bậc trong nhiều lĩnh vực.


      Phóng viên: Xin trân
      trọng cảm ơn ông ./.





    3. #163
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .



      Vào WTO, viễn thông trong nước vẫn nắm đa số vốn và quyền kiểm soát mạng
      lưới

      Chính phủ - 20/12/2006

      (Website Chính phủ) - Khi Việt Nam
      gia nhập WTO, một trong những lĩnh vực nhạy cảm và dự đoán sẽ chịu tác động
      nhiều nhất là Bưu chính - Viễn thông. Có nhiều chuyên gia nghiên cứu thị trường
      cho rằng, ngành Bưu chính - Viễn thông nếu không có kế hoạch, chiến lược cụ thể
      sẽ dẫn đến không làm chủ được thị trường. Để nhằm làm rõ ý kiến trên, phóng viên
      Website Chính phủ đã có cuộc trao đổi với ông Vũ Đức Đam, Uỷ viên dự khuyết
      Trung ương ****, Thứ trưởng Bộ Bưu chính - Viễn thông về vần đề này.

      




      Ngành bưu
      chính tiến tới sẽ thực hiện nhiều dịch vụ công từ cơ quan quản lý Nhà nước - Thứ
      trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông Vũ Đức Đam nhận định

      Ảnh Website Chính
      phủ

      Khi Việt Nam gia nhập WTO, lĩnh vực luôn được nhận định là nhạy cảm
      nhất mà các nhà đầu tư nước ngoài sẽ nhắm vào là thông tin di động. Ông có đánh
      giá như thế nào trước nhận định này và theo ông các doanh nghiệp của Việt Nam
      liệu có bị thôn tính không?

      Ông Vũ Đức Đam: Thông tin di động hiện nay
      và trong tương lai là lĩnh vực phát triển sôi động và đầy hứa hẹn nhất nên các
      nhà đầu tư quan tâm là chuyện tự nhiên. Thông tin không chỉ là ngành kinh tế mũi
      nhọn, là yếu tố đầu vào của các ngành kinh tế - xã hội mà còn là công cụ phục vụ
      lãnh đạo nên không thể để bất kỳ ai thôn tính. Trong những năm qua, ngành bưu
      điện đã ý thức được tầm quan trọng lĩnh vực này để không bị thua thiệt khi Việt
      Nam gia nhập WTO. Các doanh nghiệp đã có những bước phát triển tương đối lớn
      mạnh và vững chắc. Nhà nước cũng như Chính phủ đã có cơ chế kinh tế đảm bảo các
      dịch vụ công ích để các doanh nghiệp có thể cạnh tranh bình đẳng. Thêm vào đó,
      cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO cũng xác định lộ trình mở dần và có giới hạn
      đảm bảo doanh nghiệp Việt Nam vẫn nắm đa số vốn và quyền kiểm soát mạng lưới. Vì
      vậy, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ có hợp tác mạnh mẽ, sâu rộng hơn với các đối
      tác nước ngoài trên cơ sở hai bên cùng có lợi, chứ không phải thôn tính nhau .
      Đương nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam và cả cơ quan hoạch định chính sách cũng
      nên coi đây là điều cảnh báo thường trực nếu chúng ta không nỗ lực đổi mới quản
      trị và nâng cao năng lực công nghệ.

      Khi vào sân chơi WTO, các hãng nước
      ngoài được phép mua cổ phần của các nhà khai thác viễn thông Việt Nam, từ đó họ
      có thể kinh doanh theo phân đoạn thị trường. Như vậy sẽ có khả năng các doanh
      nghiệp viễn thông của Việt Nam sẽ mất thị trường. Ý kiến của ông về vấn đề này
      như thế nào?

      Ông Vũ Đức Đam: Khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp
      nước ngoài sẽ đầu tư và khai thác thị trường Việt Nam nhiều hơn thông qua việc
      mua cổ phần của các nhà khai thác viễn thông Việt Nam. Trước đây, chúng ta
      thường được nghe nói nhiều tới các hình thức đầu tư trực tiếp như hợp đồng hợp
      tác kinh doanh hay liên doanh và tỷ lệ góp vốn trong liên doanh rất được chú
      trọng. Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư theo hình thức gián
      tiếp vì hình thức này sẽ cho phép dòng vốn đầu tư được tập trung nhanh hơn, linh
      hoạt hơn. Điều này mang lại cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước nhưng cũng là
      thách thức lớn, vì dòng vốn có thể đến rất nhanh nhưng cũng có thể được rút ra
      rất nhanh. Nếu các doanh nghiệp Việt Nam và cả cơ quan hoạch định chính sách
      không dự đoán trước được tình hình này thì khi nguồn vốn của các nhà đầu tư nước
      ngoài rút nhanh sẽ gây xáo trộn ở cả quy mô doanh nghiệp và ngành. Và việc cổ
      phần hoá doanh nghiệp nào, tới mức độ nào là quyền của phía Việt Nam. Vì thế, để
      khắc phục tình trạng trên, tiến trình cổ phần hoá ở các doanh nghiệp cần được
      thực hiện theo một lộ trình chủ động, khoa học. Đồng thời, đội ngũ cán bộ quản
      trị doanh nghiệp và cả quản lý nhà nước cũng cần được cập nhật, nâng cao kiến
      thức, kỹ năng về thị trường vốn.

      Khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh
      nghiệp viễn thông Việt Nam đã chuẩn bị như thế nào để cạnh tranh với các nhà đầu
      tư nước ngoài, nhất là về năng lực tài chính và đãi ngộ nhân sự?

      Ông Vũ
      Đức Đam: Cơ quan quản lý nhà nước đã có hướng dẫn và quy định cụ thể để giúp các
      doanh nghiệp có thể chủ động chuẩn bị khi Việt Nam gia nhập WTO. Quá trình đổi
      mới về cơ cấu tổ chức và tài chính doanh nghiệp hiện đang được thúc đẩy mạnh mẽ.
      Các Tổng công ty nhà nước được sắp xếp theo hướng hình thành các tập đoàn kinh
      tế mạnh, hoạt động tự chủ, đa ngành nghề. Các bước chuẩn bị cho thực hiện cổ
      phần hoá được xúc tiến tích cực. Việc cải tổ mạnh mẽ về cơ cấu nhân sự và tiền
      lương cũng được thúc đẩy mạnh mẽ nhằm thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cao.
      Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhìn nhận là năng lực tài chính của các doanh
      nghiệp Việt Nam còn hạn chế, chế độ đãi ngộ cũng chưa thật sự hấp dẫn nếu so với
      các tập đoàn lớn nước ngoài. Điều quan trọng tôi muốn nói là các doanh nghiệp
      cần cố gắng khai thác hết tiềm lực của mình. Ví dụ, quyền khai thác dịch vụ hoặc
      sử dụng tần số vô tuyến cũng chính là nguồn vốn. Hoặc như bên cạnh thu nhập thì
      việc tạo môi trường để cán bộ, người lao động được thể hiện hết năng lực, thấy
      mình có ích cho doanh nghiệp, cho cộng đồng, cho đất nước cũng hết sức cần thiết
      và hữu ích.

      Giả dụ tôi là một nhà đầu tư nước ngoài, tôi có thể vào Việt
      Nam thuê một đường kênh đi quốc tế và khai thác lại trên kênh đó được không? Các
      doanh nghiệp viễn thông Việt Nam đã dự đoán được khả năng này chưa?

      Ông
      Vũ Đức Đam: Câu trả lời là "có" vì theo cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO thì
      nhà đầu tư nước ngoài có thể lựa chọn hình thức hợp tác dưới dạng liên doanh với
      một doanh nghiệp có hạ tầng mạng, hoặc thuê mua lại hạ tầng mạng của các doanh
      nghiệp khác để khai thác. Các doanh nghiệp Việt Nam đã biết những cam kết này và
      chắc chắn sẽ có những chuẩn bị cần thiết. Cũng cần nói thêm là việc thuê hạ tầng
      để khai thác dịch vụ trên thế giới đã phát triển rất mạnh mẽ. Điều này hướng các
      nhà khai thác có hạ tầng mạng tập trung nguồn lực vào xây dựng, làm chủ mạng
      lưới - nhất là mạng đường trục, bán sỉ dịch vụ, cho thuê lưu lượng và huy động
      các doanh nghiệp khác thuê hạ tầng, lưu lượng và bán lại dịch vụ.

      Một
      khía cạnh khác cũng đang được các doanh nghiệp viễn thông trong nước quan tâm là
      khi Việt Nam vào WTO, các nhà đầu tư nước ngoài có quyền được xây dựng tổng đài
      cửa quốc tế không, thưa ông?

      Ông Vũ Đức Đam: Theo cam kết gia nhập WTO
      của Việt Nam, việc xây dựng cơ sở hạ tầng mạng, bao gồm các thiết bị chuyển
      mạch, truyền dẫn cần thiết cho việc cung cấp dịch vụ kể cả dịch vụ quốc tế được
      thực hiện thông qua các hình thức hợp tác với nhà cung cấp dịch vụ viễn thông
      được cấp phép tại Việt Nam như Hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC) hoặc liên doanh
      (JV) với phần vốn góp của phía nước ngoài không quá 49% vốn pháp định.


      Gia nhập WTO, Bưu chính - viễn thông được coi là một trong những lĩnh
      vực bị tác động mạnh nhất. Theo ông, ngành bưu chính của Việt Nam sẽ phải giải
      quyết những vấn đề gì khi công nghệ điện tử ngày càng thay thế và giải pháp cho
      ngành là gì?

      Ông Vũ Đức Đam: Mạng lưới bưu chính của nước ta được thế
      giới đánh giá cao về diện bao phủ, bán kính và cả chất lượng phục vụ. Điều đó
      cũng góp phần khẳng định thêm chính sách xã hội ưu việt của **** và Nhà nước ta.
      Những năm qua, các doanh nghiệp mới đã tham gia cạnh tranh khá cởi mở trong dịch
      vụ chuyển phát nhanh. Quá trình tách bưu chính khỏi viễn thông cũng được bắt
      đầu. Việt Nam vào WTO, ngành bưu chính đứng trước bài toán phải đảm bảo công
      việc, thu nhập cho một lực lượng lao động đông đảo, trong khi những dịch vụ hấp
      dẫn thì đang cạnh tranh. Thực tế hiện nay, công nghệ điện tử đang dần thay thế
      các dịch vụ bưu chính truyền thống. Điện tử hoá bưu chính không chỉ giúp ngành
      bưu chính đứng vững mà còn mở ra thị trường mới. Lợi thế của mạng lưới các bưu
      cục, truyền thống gần và gắn kết với cơ sở, với dân… nếu được phát huy sẽ giúp
      ngành bưu chính hợp tác hiệu quả với ngành viễn thông, các ngành khác và cả
      chính quyền như một hệ thống phân phối, cung cấp các dịch vụ đa dạng. Nhân viên
      bưu chính sẽ không chỉ là người đưa thư, gửi nhận bưu kiện… như chúng ta vẫn
      hình dung mà có thể trở thành người đưa nhiều dịch vụ từ các doanh nghiệp, kể cả
      một số dịch vụ hành chính công từ cơ quan nhà nước, tới người dân thuận lợi hơn.
      Đối với dịch vụ bưu chính cơ bản, chương trình Bưu chính công ích sẽ giúp ngành
      Bưu chính đảm bảo dịch vụ này mà không ảnh hưởng tới sức cạnh tranh khi vươn ra
      làm các dịch vụ khác.

      Xin ông cho biết, về phương diện Bộ, hiện Bộ đã có
      chiến lược gì để giúp đỡ các doanh nghiệp bưu chính, viễn thông của Việt Nam?


      Ông Vũ Đức Đam: Kể từ khi thành lập, Bộ Bưu chính, Viễn thông đã rất nỗ
      lực phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
      tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy ngành BCVT-CNTT phát triển vì lợi ích quốc
      gia, cộng đồng và các doanh nghiệp. Các chiến lược, quy hoạch phát triển bưu
      chính, viễn thông, công nghệ thông tin, công nghiệp điện tử tin học… được Bộ
      trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đều tính kỹ tới xu hướng phát triển công
      nghệ và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong lĩnh vực CNTT, thị trường đã có thể coi
      là được mở hoàn toàn. Lĩnh vực bưu chính và viễn thông cũng đã xoá bỏ độc quyền.
      Không chỉ tạo dựng khung pháp lý, chính sách phát triển mà các vấn đề nghiệp vụ
      kỹ thuật, như kết nối giữa các doanh nghiệp, cũng được Bộ chú trọng hướng dẫn,
      làm đầu mối để các doanh nghiệp dần giải quyết với nhau theo cơ chế thị trường
      và thông lệ quốc tế. Có thể thấy việc xoá độc quyền doanh nghiệp, tạo cạnh tranh
      đã đã thực sự tạo động lực và cả áp lực khiến các doanh nghiệp phải đổi mới hơn,
      năng động hơn, hiệu quả hơn. Vì vậy, mạng lưới, dịch vụ bưu chính, viễn thông
      hiện nay đang phát triển rất mạnh mẽ, người dân được tiếp cận dịch vụ đa dạng
      hơn, giá cả phải chăng hơn. Môi trường cạnh tranh cũng giúp các doanh nghiệp
      nhận rõ những hạn chế, bất cập. Trong đó có những bất cập mang tính chất nội tại
      của doanh nghiệp và cũng có cả những bất cập đòi hỏi sự định hướng, chỉ đạo tháo
      gỡ từ Nhà nước. Có thể kể tới vấn đề làm thế nào để các doanh nghiệp nhà nước
      thực hiện được các dự án đầu tư kịp thời trong điều kiện công nghệ, thị trường
      thiết bị cũng như dịch vụ viễn thông thay đổi với tốc độ chóng mặt; hay vấn đề
      làm thế nào để các doanh nghiệp có thể sử dụng chung hạ tầng nhằm giảm chi phí,
      tiết kiệm đầu tư v.v. Đặc biệt là vấn đề cơ chế để các doanh nghiệp chú trọng
      đầu tư kết hợp với nghiên cứu - phát triển, đào tạo nhân lực. Cụ thể, từng
      ngành, từng doanh nghiệp, nếu tiềm lực công nghệ, kể cả sản xuất, khai thác và
      quản trị… không được tăng cường đủ mạnh thì sẽ bị thua thiệt trong cạnh tranh,
      hội nhập. Hiện nay, Bộ Bưu chính, Viễn thông đang tích cực phối hợp cùng các Bộ,
      ngành và các doanh nghiệp để giải quyết và kiến nghị giải quyết những vấn đề như
      vậy.
      Xin trân trọng cảm ơn ông ./.
      Phố Wall đảo chiều thành công

      07 Tháng Bảy 2009 07:38
      [img]http://sacombank-sbj.com/UploadFolder/image/TinTucThiTruong/my%285%29.jpg" alt="" vspace="5" width="310" align="left" height="266" hspace="5">Ngày 6/7, chứng khoán Mỹ đã có phiên đảo chiều lên điểm trước các đợt gom mua cổ phiếu đã xuống thấp phiên trước đó.

    4. #164
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .



      02/07/2009 07:05:35 AM


      Băng rộng - chìa khóa
      tăng trưởng kinh tế




      = > Kinh tế có phát triển mạnh hay không phụ thuộc vào Viễn thông [Y]


      ICTnews – Theo Ngân
      hàng thế giới, nền công nghiệp băng thông rộng đã tạo công ăn việc làm và thúc
      đẩy cả xã hội phát triển.





      Trong bản báo cáo công bốngày
      30/6/2009, Ngân hàng Thế giới (World Bank) khẳng định truy cập Internet và dịch
      vụ điện thoại di động tốc độ cao chính là chìa khóa tạo nên tăng trưởng kinh tế
      và tạo công ăn việc làm tại những nước đang phát triển. Thêm vào đó, Viện phát
      triển Thông tin truyền thông của World Bank cũng báo cáo rằng, khi tỉ lệ kết
      nối Internet tốc độ cao tăng 10% thì kinh tế cũng tăng trưởng lên 1,3%.



      Theo Mohsen Khali, giám đốc bộ phận
      công nghệ thông tin truyền thông toàn cầu của World Bank, từ năm 2000 đến 2007,
      lượng người sử dụng Internet tại các nước đang phát triển tăng gấp 10 lần. Hiện
      tại lượng thuê bao di động tại các nước này lên đến con số 4 tỉ. Công nghệ đã
      tạo ra những cơ hội thật kỳ lạ, chính phủ các nước có thể làm việc với khối
      doanh nghiệp tư nhân nhằm thúc đẩy việc mở rộng mạng lưới băng thông rộng và
      cung cấp dịch vụ viễn thông tới những khách hàng có thu nhập thấp.



      Bản báo cáo mô tả ngành di động như
      một thứ quyền lực nhất, phổ cập dịch vụ cá nhân và công cộng tới hàng trăm
      triệu người tại các nước đang phát triển.



      Băng thông rộng đã tạo ra cả một
      ngành công nghiệp mới, cung cấp dịch vụ Công nghệ thông tin cơ bản tại từng địa
      phương. Nền công nghiệp này đã tạo thêm công ăn việc làm cho giới trẻ, tăng
      năng suất xuất khẩu và thúc đẩy cả xã hội phát triển.



      Tuy nhiên, số người sử dụng băng
      thông rộng tại các nền kinh tế đang phát triển vẫn chưa nhiều. Tính đến năm
      2007, mới chỉ có khoảng 5% số người có thu nhập thấp sử dụng băng thông rộng và
      họ sống chủ yếu ở khu vực trung tâm, thành thị. Tuy nhiên, Chính phủ có thể
      đóng vai trò chủ đạo trong việc phổ cập băng thông rộng bằng cách ban hành các
      chính sách nhằm khuyến khích cạnh tranh lành mạnh và đầu tư cá nhân.



      Ngân hàng Thế giới đã hỗ trợ
      nhiều dự án công nghệ thông tin truyền thông tại hơn 100 nước với danh mục đầu
      tư lên đến hơn 3 tỉ USD.





      Thanh Vân - Theo AFP[h1]Cáp quang: Từ vật liệu triệu đô đến phế liệu 2.000 đồng/kg[/h1]Nhân loại chỉ mới sử dụng cáp quang
      xuyên đại dương từ năm 1988. Từ đây, đã mở ra thời kỳ mới trong viễn
      thông với hàng loạt ứng dụng, trong đó có Internet. Ở Việt Nam, cả hệ
      thống viễn thông từ loại vật liệu mới, hiện đại và đắt giá này suýt nữa
      đã biến thành đồng nát.



      [table]


      |



      Cáp quang - cuộc cách mạng trong viễn thông |



      [/table]
      Từ những năm 50 của thế kỷ XX, người
      ta đã dùng cáp kim loại xuyên đại dương để chuyển tải những cuộc đàm
      thoại từ nước này sang nước khác. Ở Việt Nam, trước 75, để phục vụ mục
      đích chiến tranh, Mỹ cũng đã đặt một đường cáp ngầm để liên lạc giữa
      Washington và Sài Gòn vào đầu những năm 1970.
      Người viết bài này còn
      nhớ, vào năm 1975, khi có mặt ở Cam Ranh vào thời điểm ấy, một đồng chí
      bộ đội dẫn đường đưa đến một toà nhà kiên cố với biển đề “Đầu cáp ngầm
      đại dương”. Đồng chí bộ đội kể: “Khi giải phóng Cam Ranh, một đồng chí
      chỉ huy của ta lia trọn hai băng đạn vào hệ thống máy móc. Viên thiếu
      uý chế độ cũ phụ trách kỹ thuật đi cùng buồn rầu nói: "Băng đạn vừa rồi
      của quý anh trị giá cả triệu đôla đó !”.


      Phải chăng những kẻ hám
      lợi đã đánh hơi thấy món lợi từ số cáp đồng không dùng đến nữa, bỏ lại
      dưới đáy biển để bắt đầu lao vào khai thác để rồi "ăn" luôn vào hệ
      thống cáp quang xuyên đại dương vốn dùng thay thế cáp ngầm bằng kim
      loại?


      Từ sợi quang đến cáp quang: Vật liệu lý tưởng cho truyền thông



      [table]


      |




      Cấu trúc của cáp quang: Trong cùng là
      “lõi” (core), tức những bó sợi quang làm nhiệm vụ truyền dẫn dữ liệu.
      Tiếp đó là lớp phủ (cladding), thường là polyme flo hoá để tăng độ phản
      chiếu, ngăn chặn sự thất thoát và suy giảm thông tin. Bên ngoài là lớp
      bảo vệ (coating) thường bằng nhựa cứng, chống ăn mòn ở môi trường ẩm
      ướt như đáy biển. (Ảnh: Globalimpexonline)

      |



      [/table]
      Sợi quang (optical fiber) đầu tiên
      bằng thuỷ tinh được một giáo sư người Anh là Narinder S. Kapary chế tạo
      vào năm 1955, dựa trên công trình của một nhà vật lý Ireland là John
      Tydall (1820-1893), người đã chứng minh một số đặc điểm của việc vận
      chuyển ánh sáng bằng sự phản chiếu nội bộ (liên tục nhiều lần vào thành
      sợi).

      Lúc đầu, sợi quang học
      chỉ được sử dụng vào mục đích trang trí, bảng tín hiệu hoặc bảng quảng
      cáo hoặc dùng trong một số dụng cụ y tế như dẫn sáng vào vị trí cần sửa
      răng hoặc trong máy soi dạ dày (gastroscope), ống soi phế quản
      (bronchoscope), đèn nội soi (medical endoscope) trong khám, chẩn đoán
      bệnh và phẫu thuật y tế. Sợi quang cũng dùng trong “nội soi công
      nghiệp” (industrial endoscope) để theo dõi hoạt động của những nơi
      không thể tiếp cận trực tiếp, như kiểm tra bên trong động cơ máy bay
      phản lực chẳng hạn.


      Song ứng dụng chủ yếu
      của sợi quang chính là trong ngành viễn thông và công nghệ thông tin:
      làm dây dẫn truyền dữ liệu, âm thanh, hình ảnh v.v... Để tăng độ phản
      chiếu ánh sáng, lớp vỏ ngoài của sợi thường được tráng một loại chất
      phủ nào đó. Tuy nhiên, sợi truyền dẫn ở những khoảng cách lớn bao giờ
      cũng là sợi thuỷ tinh vì tiêu hao quang là thấp nhất.


      Dùng trong ngành bưu
      điện và viễn thông, sợi quang thay sự truyền dẫn bằng xung điện tử
      trong kim loại như trước đây bằng xung ánh sáng, tỏ ra có nhiều ưu thế
      vượt trội so với sợi kim loại truyền thống là đồng.


      Sợi quang mềm dẻo và dễ
      uốn, dễ tập hợp thành bó. Ánh sáng truyền qua sợi quang không bị suy
      giảm nên bảo đảm được chất lượng thông tin, dữ liệu. Thêm vào đó, ánh
      sáng được điều biến ở tốc độ cao 40 Gb/s, mỗi sợi trong bó (cáp) mang
      những kênh độc lập. Một dây cáp bằng sợi quang có thể “chuyên chở” các
      dữ liệu với tốc độ 14.444 Tb/s.



      [table]


      |



      Cáp quang lên tem. (Ảnh: Bussiness Week) |



      [/table]
      Khác hẳn cáp kim loại, sợi quang được
      “miễn dịch” với sự giao thoa điện nên tránh được hiện tượng nhiễu mà
      trước đây phải xử lý phức tạp. Không dẫn điện, sợi quang hoạt động an
      toàn trong môi trường cháy nổ. Sợi quang có thể kéo từ khối nóng chảy
      có kích thước nhỏ hơn sợi đồng. Tỷ trọng của vật liệu lại nhỏ, nên bó
      sợi gọn nhẹ hơn. Khi hoạt động, không cần những máy phát cao áp nên
      năng lượng tiêu thụ ít. Sợi quang thích hợp một cách lý tưởng với những
      thông tin số hoá. Một sợi kích thước chỉ bằng một sợi tóc có thể truyền
      được một nghìn tỷ bit trong một giây. Và cuối cùng, về tính kinh tế, do
      những nguyên nhân trên, sợi quang luôn luôn rẻ hơn, chi phí xây dựng
      thấp hơn sợi truyền thông tin truyền thống.
      Chình vì thế, người ta
      coi phát minh ra sợi quang là một phát minh lớn, có ảnh hưởng cực kỳ
      quan trọng, có thể nói mang tính cách mạng trong ngành viễn thông.


      Với các tính chất tuyệt
      vời như vậy, ứng dụng chủ yếu của sợi quang là cáp quang. Cáp quang có
      nhiều loại từ các vật liệu sợi khác nhau và kết cấu của cáp khác nhau.
      Nói chung, cáp gồm những phần bao bọc lên nhau. Trong cùng là “lõi”
      (core) - những bó sợi quang làm nhiệm vụ truyền dẫn dữ liệu, tiếp đó là
      lớp phủ (cladding, thường là polyme flo hoá) để tăng độ phản chiếu,
      ngăn chặn sự thất thoát và suy giảm thông tin. Tiếp đó là lớp bảo vệ
      (coating) thường bằng nhựa cứng, đặc biệt quan trọng đối với môi trường
      ăn mòn, ẩm ướt như đáy biển. Cuối cùng là lớp vỏ (jacket) bằng chất dẻo
      hoặc cao su lưu hoá. Đối với loại cáp lớn, nhiều khi phần lõi chiếm tới
      96%.


      Cáp quang biển: Không có nó, không có internet



      [table]


      |




      Lắp cáp dưới đáy biển (Ảnh: personal.psu.edu)

      |



      [/table]
      Cáp quang dần dần thay thế cáp điện
      đồng trục giữa các Trung tâm điện thoại. Từ việc sử dụng trên đất liền,
      cáp quang “vươn ra” biển, nối liền các châu lục qua đại dương.
      Về mặt kỹ thuật, cáp
      quang chỉ là đường nối trung gian. Ở đầu phát, người ta biến xung điện
      thành xung quang. Ở đầu tiếp nhận, các xung quang lại được “dịch” ra
      thành xung điện để đến với người sử dụng trên những thiết bị điện tử
      hiện có.


      Quá trình đặt cáp dưới
      biển là một quá trình khá công phu bao gồm các khâu thăm dò đáy biển
      (độ sâu, địa hình…), lập bản đồ toạ độ đường cáp sẽ đi qua (tránh những
      nơi lưu lượng tàu đi lại lớn hoặc khu vực đánh cá, rà quét thường xuyên
      đáy biển…), tiếp đó là các khâu kỹ thuật đặt cáp, chôn cáp. Tất cả các
      khâu này đều được các công nhân kỹ thuật chuyên nghiệp và máy móc
      chuyên dụng (kể cả các robôt chế tạo riêng cho mục đích này) để làm
      việc dưới biển sâu. Tất nhiên, sau đó phải có một đội ngũ bảo trì, theo
      dõi sự hoạt động của hệ thống cáp cho an toàn và sửa chữa nếu cần thiết.


      Cáp quang đầu tiên vượt
      Đại Tây Dương là TAT-8 nối Mỹ-Anh-Pháp từ năm 1988. Dài 6.620 km để
      truyền thông tin kỹ thuật số ở tần suất cao cho điện thoại, truyền hình
      và tin học. Các đối tác là DGT (Pháp), American Telegraph and Telephone
      (ATT) và British Telecom International cùng đầu tư kỹ thuật và vốn. Nó
      cho phép chuyển 37.500 cuộc điện đàm cùng một lúc. Từ tháng 3/1992 đưa
      vào hoạt động cáp quang TAT-9 giữa Mỹ, Canada và Pháp. Cáp quang này
      dài 9.550 km, truyền được đồng thời 80.000 cuộc điện đàm, tức là gấp
      đôi cáp quang TAT-8.


      Từ ngày đó, cáp quang
      trở nên phổ biến và là phương tiện không thể thiếu được trong ngành bưu
      chính viễn thông. Cáp quang đã làm các nước kết nối với nhau, là đường
      truyền Internet, fax, các dữ liệu thông tin và cả một số chương trình
      truyền hình không qua vệ tinh địa tĩnh. Một cuộc điện thoại xuyên quốc
      gia nếu dùng đường truyền của cáp quang dưới biển nghe rõ hơn hẳn nghe
      qua sóng điện từ của vệ tinh vì không bị nhiễu bởi tạp âm.


      Theo nhận định của các
      chuyên gia, nếu như hệ thống cáp quang chưa ra đời, rất có thể mạng
      Internet đang ở trạng thái trì trệ và khó hình dung ra nó sẽ trở thành
      một mạng toàn cầu, một kho tri thức vô tận mà ai cũng có quyền tiếp
      cận. Thế giới sẽ không “hội nhập” ở mức độ phổ biến như hiện nay.


      Tổn thất bước đầu: Gần 6 triệu USD



      [table]


      |



      Cáp bị cắt trộm ở vùng biển thuộc Bà Rịa - Vũng Tàu (Ảnh: Ngọc Nguyện) |



      [/table]
      Vậy là những tuyến cáp quang ngầm dưới biển của Việt Nam đã bị xâm hại nghiêm trọng.
      1.500 tấn cáp ngầm dưới
      biển, trải dài 100 km đã trở thành phế liệu để “khai thác” như của Trời
      cho và lấy lên để… bán đồng nát! Theo các nguồn tin, tuyến cáp quang bị
      “khai thác” làm phế liệu chủ yếu thuộc tuyến APCN (Asia Pacific Cable
      Network), đó là tuyến cáp quang lớn đi qua vùng biển Việt Nam chứ không
      cập bờ Việt Nam, có chiều dài 12.000 km, dung lượng 10 Gb/s và tổng chi
      phí đầu tư 640 triệu đôla.



      Một tuyến nữa của chính
      Bộ Bưu Chính Viễn thông Việt Nam bị “đào bới”, cắt bỏ và vớt lên bán là
      tuyến TVH. Nguy cơ Việt Nam bị cô lập về thông tin sẽ xảy ra nếu sự
      việc không được ngăn chặn kịp thời.


      Từ tổn thất, các chuyên
      gia đã có những đánh giá bước đầu là để phục hồi sẽ tốn kém 5.843.647
      đôla Mỹ và 3 tháng sửa chữa. Cái lợi mà những kẻ phá hoại thu được, như
      chúng ta đã thấy từ những nguyên vật liệu cấu tạo nên cáp quang, thật
      nhỏ nhoi, vài chục nghìn đồng một kg, thậm chí chỉ 2.000 đồng/kg. Trong
      khi đó, theo Công ty viễn thông quốc tế (VTI) vào thời điểm xây dựng
      tuyến cáp quang TVH năm 1994, giá 1 km cáp quang đã là 13.000 USD
      .


      Một điều khó tưởng
      tượng là có người (nhất định phải ở cơ quan có trách nhiệm về cáp
      quang) đã bán thông tin về toạ độ của tuyến cáp, chỉ dẫn cho người
      “khai thác” khỏi mất công tìm kiếm để lấy tiền! Theo báo chí cho biết,
      một công dân ở Bà Rịa - Vũng Tàu đã đứng đơn xin phép hẳn hoi (!) chính
      quyền địa phương để khai thác cáp mà người này gọi là "cáp quang thời
      Mỹ ngụy không sử dụng được". Đồng thời, trong đơn còn chỉ rõ ra khu vực
      có cáp là ở... tọa độ 06046’N - 108019’E!


      Ngày 9/8, công dân này đưa đơn xin
      phép khai thác cáp thì đến ngày 16/8, tức là chỉ trong vòng có 1 tuần
      thôi, hai cơ quan là Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Bà Rịa - Vũng
      Tàu và UBND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã chấp thuận cái rẹt! Và, hậu quả
      như ta đã biết...





      [table]

      Cáp quang truyền dẫn thông tin như thế nào?

      |




      Cáp quang là những
      sợi bằng thuỷ tinh, thường có đường kính 120 µm. Cáp quang được sử dụng
      để truyền tải những tín hiệu bằng những xung ánh sáng ở khoảng cách
      trên 50 km mà không cần thiết bị lặp lại. Những tín hiệu này có thể
      được mã hoá thành những ngôn ngữ giao tiếp hay dữ liệu trên máy tính.
      Một cáp quang tiêu chuẩn có thể truyền đi hơn 10 triệu thông tin trong
      một giây bằng tia laser.



      Xu hướng sử dụng ánh sáng trong truyền tải thông tin đã phát triển từ
      những năm 1990, với việc phát minh ra laser. Thoạt tiên, khoảng cách
      truyền tin rất ngắn. Nhưng khi các kỹ thuật sản xuất thuỷ tinh tinh
      khiết phát triển vào những năm 1970, cáp quang trở thành kế hoạch khả
      thi khi thực hiện truyền tin ở khoảng cách vừa phải. Cùng với sự phát triển của vật liệu bán dẫn vào thập niên 80, cả thế giới được cài đặt mạng lưới liên lạc bằng cáp quang


      Cáp quang có thể truyền
      tải những ký hiệu mà không tốn nhiều năng lượng như cáp đồng và với
      băng thông cao hơn rất nhiều. Điều đó có nghĩa là cáp quang có thể tải
      nhiều kênh thông tin vượt qua khoảng cách dài hơn mà không đòi hỏi
      nhiều thiết bị lặp lại. Tuy
      nhiên, cáp quang không có khả năng nối kết dễ dàng như cáp đồng và đòi
      hỏi những huấn luyện nhân sự đặc biệt cùng với những trang thiết bị đo
      và kết nối chính xác.


      Thế nhưng, thực tế những
      vật liệu thô để làm ra cáp quang như cát là rất phong phú và rẻ, giá
      của một mét cáp quang vẫn rất đắt đỏ hơn cáp đồng trong công nghệ sản
      xuất và lắp đặt. Nhưng có thể nói rằng, nếu tính toán trong thời gian
      lâu dài, cáp quang tiện ích hơn cáp đồng vì có thể mang đi nhiều thông
      tin hơn, trên một khoảng cách xa hơn và không cần nhiều thiết bị lặp
      lại.


      Cáp quang có thể
      sử dụng trong viễn thông, kết nối mạng nội bộ (Local Area Networks
      (LANs), truyền hình cáp, các cảm biến (sensor) cáp quang. Các sensor
      này dùng trong môi trường gas, hoá học, áp suất, nhiệt độ… Thông
      tin trên cáp quang rất khó bị nghe trộm, không bị ảnh hưởng bởi điện từ
      nhiễu từ các tín hiệu radio, hệ thống đánh lửa trong xe hơi, hệ thống
      chiếu sáng… Nó còn hoàn toàn an toàn nếu có vụ nổ hay cháy xảy ra.

      [*]
      H. Cát (Lược dịch theo floti.bell.ac.uk, www.tiscali.co.uk)[/list][/table]



      == > Năm 2007 là năm mà VNPT .v.v. bị trộm cắp cáp quang ... gây nên tổn thất lớn . Điều nầy phản ảnh vào LNST của năm sau đó , tức năm 2008 .
      [h1]Chế tạo sợi quang từ bọt biển[/h1]




      Loài bọt biển này có thể tạo nên đột phá trong công nghệ quang sợi.


      Các
      nhà khoa học Mỹ tuyên bố rằng họ vừa xác định được một loại bọt biển
      sống dưới đáy biển sâu có thể sản sinh những sợi mỏng trong suốt. Loại
      sợi tự nhiên này có khả năng truyền ánh sáng tốt hơn cáp quang trong
      viễn thông. Ngoài ra, nó còn mềm dẻo hơn cáp quang - loại sợi dễ gãy
      khi bị bẻ cong quá mức.



      Joanna
      Aizenberg, người phụ trách cuộc nghiên cứu tại Trung tâm thí nghiệm
      Bell, nói: "Loại sợi sinh học tự nhiên này có thể đem thắt thành nút mà
      vẫn không gãy - điều này thật là kỳ diệu".



      Với cái tên mỹ miều
      "Lẵng hoa Venus", giống bọt biển trong suốt này sử dụng vật liệu tự
      nhiên để sản sinh ra sợi mềm dẻo ở nhiệt độ thấp. Chính điều đó cho
      phép các nhà khoa học hy vọng nhân bản được sợi tự nhiên. Hiện nay, mọi
      phương pháp sản xuất sợi quang đều đòi hỏi sử dụng nhiệt độ cao khiến
      cho sợi bị dòn, dễ gãy.


      Theo Aizenberg, giống
      bọt biển này còn có thể bổ sung natri vào sợi, làm tăng khả năng truyền
      dẫn ánh sáng - điều không thể thực hiện được đối với sợi quang đòi hỏi
      nhiệt độ cao. Bà
      nói: "Một trong những thách thức đối với công nghệ là đưa phụ gia vào
      cấu trúc thuỷ tinh nhằm cải thiện thuộc tính quang học. Nếu chúng ta
      biết được chính xác phải làm thế nào để đưa natri vào sợi quang ở nhiệt
      độ thấp như sợi thiên nhiên thì chúng ta có thể kiểm soát tất cả mọi
      thuộc tính của quang học".


      Giống bọt biển này sinh
      trưởng tại vùng nước sâu nhiệt đới. Cao khoảng 45 cm, bộ khung hình
      lưới phức tạp, cấu tạo từ hợp chất silic của nó, thường được loài tôm
      lấy làm nơi trú ngụ. Ở dưới gốc, các sợi trong suốt tạo thành hình
      vương miện giữ chặt bọt biển với đáy biển. Loại sợi này thường dài từ 5
      đến 17 cm, mỗi sợi có kích thước bằng sợi tóc người.


      Nghiên cứu nói trên là
      một trong những khám phá mới nhất thuộc lĩnh vực phỏng sinh học. Đây là
      nỗ lực nhằm tìm hiểu cơ chế của hệ thống sinh học và áp dụng các nguyên
      tắc của nó vào công nghệ. Mặc
      dù không trực tiếp tham gia nhưng Geri Richmond, nhà hóa học và khoa
      học vật chất thuộc Đại học Oregon, vẫn rất quan tâm đến cuộc nghiên cứu
      này. Bà nói: "Đây là một ví dụ tuyệt vời về sự tuyệt vời của thiên
      nhiên khi thiết kế và xây dựng nên những hệ thống phức tạp. Chúng ta có
      thể vẽ ra giấy và nghĩ cách điều khiển nó, nhưng so với thiên nhiên thì
      chúng ta vẫn còn đang ở thời kỳ đồ đá".


      Randy Kochevar, nhà sinh
      học biển thuộc Trung tâm Thuỷ sinh Monterey ở California cho rằng ngành
      phỏng sinh học đã thực hiện một cuộc "thăm dò sinh học" dưới đáy biển.
      Ông nói: "Những người làm việc trong công nghiệp, y dược hoặc công nghệ
      sinh học toả ra ngoài và tìm kiếm các hợp chất đáng chú ý dưới đáy biển
      sâu. Ở đấy có nhiều nguồn lợi mới lạ còn chưa được khai thác."


      Trong những năm gần đây,
      người ta đã khám phá ra loại enzyme lấy từ vi khuẩn làm tan mỡ trong
      nước lạnh để cải tiến chất lượng bột giặt; protein phát sáng ở loài sứa
      cho phép bác sĩ phẫu thuật chiếu sáng và cắt bỏ tế bào ung thư; và một
      loại enzyme khác lấy từ vi khuẩn sống gần các ống phun thuỷ nhiệt dưới
      đáy biển có thể giúp nâng cao chất lượng thử ADN.


      Kochevar nói rằng trước
      khi tiến hành cuộc nghiên cứu về bọt biển, Aizenberg đã khám phá ra
      trên lớp vỏ của một loài sao biển có nhiều thấu kính tí hon làm "mắt"
      chung, gợi ý cho giới kỹ sư về mẫu máy cảm biến và hệ thống hướng dẫn. Ông
      nói: "Thật là không thể tin nổi. Chúng tôi quan sát những vật không
      được xếp vào loài có thị giác và tìm thấy các thuộc tính quang học
      tuyệt vời ngay trong cơ thể chúng".


      (Khánh Hà - Theo MSNBC)

    5. #165
      Ngày tham gia
      May 2009
      Bài viết
      1,760
      Được cám ơn 14 lần trong 13 bài gởi

      Mặc định Re: * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .



      Bác ơi ! cái này em nói thật lòng nhá ko có ngụ ý chọc ghẹo gì bác đâu , bác nghe đc thì nghe ko thì thôi cấm chửi bậy nhá , theo em thì sau thời gian 2,3 tháng qua hiện giờ đồ thị của em nó đã hình thành mô hình đầu vai hoàn chỉnh , vai phải thấp hơn vai trái cả mét , đường giá đang nằm dưới cả 2 đường TB , cả 3 đường đều cắm đầu đi xuống , momentum đang mạnh dần lên càng khẳng định xu hướng này là rất mạnh + với những tin tức bán ra trên TT của các tổ chức vừa qua , sắp tới nếu em nó phá ngưỡng 11,7 thì việc trở về dưới 10 là điều chắc chắn , em thì ngồi ko thất nghiệp chẳng có việc gì làm nên cứ hay xía vào chuyện người khác nhưng được cái là tốt bụng ko làm chuyện xấu bao giờ nếu lời nói có gì ko đúng chẳng qua là trình chưa tới hihihi mong bác thứ lỗi .
      Hãy biết cách mỉm cười khi buồn bã !

    6. #166
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .

      [:cuoibo]Ý kiến thỏa mái - vô tư đi []

      PTKT thì tôi đầy 1 bụng [:cuoibo]



      [h1]Intel tiến hành dự án kết nối chip bằng sợi quang[/h1]

      Thứ ba, 02 Tháng ba 2004, 09:35 GMT+7

      Phát ngôn viên của Tập đoàn sản xuất
      chip Intel vừa cho biết, hãng này đang nghiên cứu hướng thay thế sợi
      đồng bằng sợi quang cho các bo mạch chủ của máy tính. Giải pháp này sẽ
      tiết kiệm năng lượng hơn và đẩy tốc độ truyền tải dữ liệu của máy tính
      lên cao hơn.





      Hiện phòng thí nghiệm của Intel đã chế tạo hoàn chỉnh một mô hình
      mẫu mà trong đó các chip được kết nối với nhau thông qua 8 kênh quang
      học, có khả năng truyền tải dữ liệu lớn hơn 1GB/giây mang lại băng
      thông trung bình 8GB/giây. Trong điều kiện lý tưởng, mỗi kênh riêng rẽ
      có thể truyền dữ liệu ở tốc độ 3GB/giây.


      Trong thực tế, tốc độ trên thấp hơn công nghệ quang thông thường,
      thậm chí còn thấp hơn một số chuẩn kết nối trong máy tính hiện nay. Tuy
      nhiên, tất cả các thành phần đều được tổ chức trong một gói chip nên
      giá cả sẽ rẻ hơn các phần quang riêng rẽ hiện nay, ngoài ra nó còn có
      thể làm tăng tốc độ của máy tính.


      Theo Ian Young, giám đốc nhóm tích hợp công nghệ mạch cao cấp của
      Intel, trọng tâm của hướng chuyển dịch trên là giải quyết một số vấn đề
      liên quan tới các bus và liên kết nối kim loại. Không giống các sợi kim
      loại (dùng hạt electron để truyền tín hiệu), sợi quang phụ thuộc vào
      các hạt photon (lượng tử ánh sáng) để truyền tải dữ liệu, vì vậy tốc độ
      sẽ nhanh hơn và không tạo ra nhiệt lượng.


      Tuy nhiên, Ian Young cũng thừa nhận rằng dùng công nghệ sợi quang
      cho máy tính sẽ rất đắt tiền và không dễ chế tạo, và thời gian nhanh
      nhất để hoàn chỉnh công nghệ này cũng phải mất từ 5-7 năm nữa.
      Theo VDCmedia

      Cuối năm 2009, hoàn thành nhà máy chip Intel tại Việt Nam


      Thứ 6, 13/02/2009, 08:21
      Nhà máy kiểm định và đóng gói (ATM) chip của Intel dần dần rõ nét. [h1]Khi nhà máy hoạt động hết công suất, sẽ tạo ra khoảng 4.000 việc làm, kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt 5 – 6 tỉ USD/năm.[/h1]

      Nhà
      máy kiểm định và đóng gói (ATM) chip của Intel với vốn đầu tư một tỉ
      USD tại khu công nghệ cao TP.HCM, dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm
      2009, tổng
      giám đốc dự án nhà máy Intel Products Việt Nam, Rick Howarth cho biết
      sau sự kiện
      tập đoàn Intel vừa công bố tái cấu trúc lại hệ thống các nhà máy ATM
      trong khu
      vực châu Á, bao gồm việc đóng cửa một nhà máy tại Philippines, và tiến
      hành
      chuyển địa điểm hai nhà máy cũ từ Penang sang nhà máy mới tại Kulim,
      Malaysia.

      Khi nhà
      máy tại Việt Nam hoạt động hết công suất, sẽ tạo ra khoảng 4.000 việc làm, và
      kim ngạch xuất khẩu dự kiến đạt từ 5 – 6 tỉ USD/năm.

      Bà Hồ Thị
      Thu Uyên, giám đốc đối ngoại của nhà máy cho biết, trong năm 2008, Intel đã tuyển
      chọn các kỹ sư mới ra trường đào tạo thêm ở Malaysia và Trung Quốc, đồng thời
      tuyển chọn 40 sinh viên xuất sắc tại các trường đại học kỹ thuật trong nước được
      học tiếp hai năm cuối tại đại học kỹ thuật Portland State University (bang
      Oregon, Mỹ). Sau khi tốt nghiệp, họ sẽ được Intel bố trí công việc tại nhà máy
      Intel Việt Nam.

      Intel dự
      báo, mức tiêu thụ máy tính cá nhân tại Việt Nam năm nay khoảng hai triệu máy,
      tăng hơn 11% so với năm trước.

      Hiện
      nay, số hộ có máy tính ở Việt Nam bình quân khoảng 10% (một vài thành phố lớn
      như TP.HCM, Hà Nội mới có tỷ lệ 50% dân có máy tính), và internet băng thông rộng
      đang phát triển khá nhanh là những điều kiện để thị trường máy tính cá nhân Việt
      Nam phát triển. Theo Gia Vinh
      SGTT


      [h1]Chip mới = Sợi quang + điện tử[/h1]
      [table]



      Thứ ba, 29 Tháng ba 2005, 16:38 GMT+7

      [/table]
      [table]




      [table]



      [table]



      [/table]
      Là sản phẩm của Luxtera, một hãng công nghệ
      nhỏ mới thành lập, họ chip silicon mới sẽ chứa đồng thời cả bảng mạch điện tử
      truyền thống với những dây cáp quang siêu mỏng để truyền dẫn ánh sáng
      laser.


      [/table]
      [table]




      Nếu thành
      công, phát minh này sẽ hé mở tiềm năng kết hợp quá trình chế tạo chip chuyên
      nghiệp, giá rẻ của thế giới bán dẫn với tiềm năng tốc độ... siêu cao của mạng
      quang laser. Khi đó, cả hai ngành điện toán và viễn thông sẽ đều chịu một ảnh
      hưởng cực lớn của sự hội tụ này, từ thiết kế của những chiếc máy tính tương lai
      lẫn cho đến những hệ thống mạng cáp giá thấp. Các ứng dụng dành cho mạng sợi
      quang gia đình sẽ thực sự đến được với thị trường.


      Luxtera
      thành lập với sự hậu thuẫn của Viện công nghệ California, nơi nổi danh với nhiều
      công nghệ mang tính tiên phong. Hãng này dự định sẽ công bố những mẫu chip cho
      phép mạng văn phòng đạt tốc độ tới 10 gigabit nhưng giá thành vừa túi tiền trở
      thành hiện thực vào tháng 4/2006, tức là chỉ một năm nữa. Nếu lời cam kết này
      được thực hiện, tốc độ khi đó sẽ nhanh hơn hiện tại đúng... 1000 lần.


      Luxtera
      cũng là hãng đầu tiên trên thế giới công bố kế hoạch kinh doanh những con chip
      tất-cả-trong-một dựa trên phương pháp chế tạo truyền thống. Trước đó, gã khổng
      lồ Intel cũng đã từng công bố vài công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, song
      phải đến tay Luxtera, những điều mà các nhà nghiên cứu của Intel từng mô tả
      trong các tạp chí khoa học mới thực sự đạt được một bước tiến đáng kể. Năm ngoái
      Intel từng tuyên bố đã đạt được tốc độ vượt quá 1 GHz trong điều kiện phòng thí
      nghiệm.


      CEO Alex
      Dickinson của Luxtera nói rằng hãng đã tạo ra được những con chip mẫu có thể đạt
      đến tốc độ dữ liệu 10 gigabit/giây. Tốc độ này quả là có một ý nghĩa rất lớn,
      bởi kết nối mạng có dây 1 gigabit đã bắt đầu trở thành một "mặt hàng" khá phổ
      thông, nhưng 10 gigabit thì cho tới nay, vẫn chỉ mới tồn tại trong những hệ
      thống quang-điện tử phức tạp và đắt tiền.


      Sợi quang
      truyền thống ưu việt nhất ở khả năng "vận chuyển dữ liệu", trong khi hệ thống
      điện tử chạy trong dây dẫn kim loại lại là số một về xử lý dữ liệu. Giờ đây, hai
      kẻ thống trị này đang bắt đầu hội tụ với nhau, dù ngay Dickinson cũng thừa nhận
      rằng các nhà thiết kế của hãng chưa biết chắc sẽ phát triển công nghệ theo hướng
      nào. Hãng đã có kế hoạch thuê Freescale Semiconductor sản xuất chip rồi thông
      qua đó, tiếp cận với đủ loại bảng mạch điện toán khác nhau và phát triển công
      nghệ thành nhiều ứng dụng phong phú.




      (Theo VNN)
      [/table]

      [/table][table]


      [h1]Chip sợi quang Intel phá kỷ lục tốc độ[/h1]
      [/table]
      [table]


      Thứ bảy, 14 Tháng hai 2004, 10:22 GMT+7
      [/table][table]



      [table]







      [/table]
      Nhà sản xuất chip số 1 thế giới đã phát triển thành công
      phương thức đưa ánh sáng qua silicon ở mức độ 1 GHz, tăng cường băng thông máy
      chủ và PC với đường kết nối photon (lượng tử ánh sáng). Công trình này có thể
      tạo ra những thay đổi lớn trong phương thức cung cấp thông tin và các hình thức
      giải trí số.


      Phát minh của Intel sử dụng một bộ điều biến photon silicon
      dùng ánh sáng để phát ra các chùm dữ liệu nhanh hơn nhiều so với các loại chip
      dùng điện hiện nay.


      Theo Victor Krutul, Giám đốc bộ phận silicon lượng tử ánh
      sáng của IBM, công suất của bộ điều biến trên nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ
      giới hạn trước đây là 20 MHz. Thiết bị này hoạt động như một cánh cửa chớp, đóng
      mở theo chu kỳ để khóa rồi bật và tắt một chùm sáng. Kết quả của chu trình bật
      tắt ánh sáng liên tục này tương ứng với số 0 và 1 trong hệ nhị phân và tạo nên
      một luồng dữ liệu máy tính.


      Thông thường, các thiết bị quang được sử dụng chủ yếu trong
      các công trình quy mô lớn chẳng hạn như đường cáp dưới biển, vì chi phí cho việc
      xây dựng và vận hành những đường truyền này rất cao. Khả năng truyền tín hiệu
      của chúng mạnh hơn nhiều so với dây dẫn bằng đồng và ít gây nhiễu hơn. Tuy
      nhiên, giá cả thì rất cao và chỉ ứng dụng được vào một số lĩnh vực nhất định vì
      khi thiết kế lại đòi hỏi phải có một số vật liệu bổ trợ khác.


      Với việc đưa được công nghệ quang vào silicon, Intel có thể
      giảm bớt chi phí tính trên mỗi bộ điều biến đồng thời giảm được rất nhiều chi
      phí tính trên mỗi transistor trong bộ vi xử lý. Intel cũng đang nỗ lực giảm bớt
      kích thước của các thiết bị quang xuống mức đủ nhỏ để có thể đưa vào dùng trong
      máy chủ và cuối cùng sẽ là PC. Tuy nhiên, ngày đó vẫn chưa đến. Và từ nay đến
      cuối thập kỷ này, mục tiêu của Intel là nâng tốc độ của bộ điều biến lên 10
      GHz.


      Khi điều đó xảy ra, các đường kết nối quang học có thể tăng
      tốc độ kết nối server và giảm bớt sự phức tạp khi vận hành mạng. Kết nối quang
      có thể tận dụng ưu thế của một công nghệ phức hợp, gọi là multiplex, trong đó
      nhiều tín hiệu quang với những bước sóng khác nhau có thể được gửi qua cùng một
      đường cáp. Điều đó có thể góp phần lớn giảm thiểu sự rối rắm của đường cáp mạng
      chui ra từ phía sau một máy chủ.


      Nhà phát minh cho biết thiết bị sợi quang siêu tốc này có giá
      chỉ bằng một PC bình thường. Bước tiến này cho thấy Intel đang trên đà phát
      triển một công nghệ mới để tiến vào những thị trường viễn thông tiềm năng.


      Theo Alan Huang, chuyên gia của Bell Lab, một trong những ứng
      dụng tiềm năng mà công nghệ mới có thể đem lại là hệ thống truyền hình số tương
      tác, cho phép người xem theo dõi một sự kiện thể thao từ nhiều góc độ khác nhau,
      tức là chuyển đổi góc nhìn một cách tùy thích trong khi cuộc chơi đang diễn ra.
      Chỉ cần với một số ít camera, người ta vẫn có thể di chuyển “chỗ ngồi ảo” tới
      bất cứ nơi đâu trên sân vận động. Tính năng này cũng sẽ được phát triển cho các
      trò chơi video với công suất vượt xa các hệ thống TV số hiện nay.


      Phan Khương (theo InfoTech, InfoWorld[/i])

      [h2][/h2]
      [/table]
      [table]


      [h1]Cáp quang nhựa đạt tốc độ 1 gigabit/giây[/h1]
      [/table]
      [table]




      Thứ tư, 06 Tháng sáu 2007, 12:21 GMT+7

      [table]



      [table]





      Một đầu của sợi POF. Ảnh: Anu.
      [/table]
      Hãng Siemens vừa trình diễn truyền tải dữ liệu trên sợi
      quang polymer, hứa hẹn có thể thay thế sợi thủy tinh hoặc sợi đồng ở những chỗ
      kết nối quanh co như khu vực tự động hóa của nhà máy.


      Sebastian Randel, Giám đốc dự án của Siemens, cho biết họ đã
      gửi tín hiệu IPTV 1 Gb/giây qua sợi quang nhựa dài 100 mét trong phòng thí
      nghiệm mà không gặp lỗi nào.


      Họ cho rằng công nghệ POF (polymer optical fibre) này có ưu
      điểm là đàn hồi, dễ kết nối, giá thành rẻ. Lõi polymer trong cáp nhựa dày hơn so
      với cáp thủy tinh nên rất dễ uốn ở những khúc quanh mà không sợ đứt gãy. Ngoài
      ra, dây này có thể cắt được bằng dao kim loại, trong khi sợi thủy tinh cần dao
      bằng kim cương.


      Hạn chế của sợi quang nhựa là dễ mất tín hiệu hơn chất liệu
      thủy tinh. Tuy nhiên, Siemens dùng cơ chế khác: module điều biến biên độ cầu
      phương (quadrature amplitude modulation - QAM) thay vì dùng chế độ nhị phân sẽ
      có 256 trạng thái tín hiệu để mỗi xung có thể mang thêm nhiều thông tin hơn.


      Công nghệ POF từng được dùng trong xe hơi, tàu tốc độ cao và
      lĩnh vực audio, giúp giảm thiểu tiếng ồn. Còn với tốc độ gigabit vừa đạt được,
      Siemens sẽ áp dụng POF vào kết nối mạng trong nhà máy, bệnh viện, LAN gia đình
      và hỗ trợ IPTV độ phân giải cao.


      Hiện, cáp quang sợi thủy tinh đã đạt tới tốc độ [url="http://vietbao.vn/Vi-tinh-Vien-thong/Duong-truyen-cap-quang-40-Gb-giay-dau-tien/11009772/226/" class="Normal">

    7. #167
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .



      17/06/2009 09:59:48 AM

      [table]





      Ngầm hóa cáp viễn thông ở TP.HCM. Ảnh Lê Dũng.

      [/table]
      Ngầm hóa cáp viễn thông: Khó hay dễ?


      ICTnews – Ngầm hóa cáp quang đã trở thành chủ trương
      chung, nhưng các doanh nghiệp viễn thông chủ lực đều kêu khó, giấy phép nhiêu
      khê, quy hoạch đô thị yếu kém.




      Để giải quyết vấn đề mỹ quan đô thị và an toàn cho người
      dân, nhiều tỉnh thành đã đưa ra mục tiêu phải ngầm hóa cáp viễn thông. Đây là
      chủ trương đúng nhưng không phải dễ thực hiện đối với các DN viễn thông. Ngoài
      nỗ lực của DN thì cần sự chỉ đạo quyết liệt của chính quyền địa phương để thực
      hiện chủ trương này.


      Người dễ, kẻ khó


      Ông Trần Mạnh Hùng, Giám đốc VNPT Hà Nội cho biết, theo
      chương trình kỷ niệm đại lễ 1000 năm Thăng Long, UBND TP Hà Nội sẽ thực hiện
      ngầm hóa mạng cáp viễn thông tại 135 tuyến phố nhằm đảm bảo mỹ quan đô thị.
      Thành phố đã giao cho VNPT Hà Nội thực hiện ngầm hóa tại 7 tuyến phố tháng
      trước.


      “Năm 2000, Bưu điện Hà Nội đã tiến hành ngầm hóa vì điều
      này sẽ làm cho mạng lưới an toàn và đảm bảo chất lượng dịch vụ. Trước đây, vì TP
      chưa có chủ trương nên việc ngầm hóa rất khó khăn. Thậm chí, nhiều công trình có
      kế hoạch ngầm hóa từ 2003 phải hủy vì không xin được giấy phép. Khi có chủ
      trương của TP về ngầm hóa mạng viễn thông, chúng tôi triển khai nhanh vì đã có
      kinh nghiệm trước đó. Hiện nay, thực hiện chủ trương ngầm hóa sẽ bỏ hệ thống cột
      nên khi để hộp cáp ở nhà dân không bị phản đối. Nhiều phường và khu phố ủng hộ
      việc ngầm hóa nên chúng tôi triển khai rất thuận lợi”, ông Trần Mạnh Hùng
      nói.


      Đến nay, VNPT Hà Nội đã ngầm hóa được 98% cáp quang và 84%
      cáp gốc, còn cáp nhánh đang kết hợp với TP để hoàn thiện nốt.


      Không được thuận lợi như VNPT trong việc ngầm hóa mạng cáp
      viễn thông, nhiều DN viễn thông lên tiếng ủng hộ chủ trương này nhưng lo ngại về
      tiến độ thực hiện vì gặp quá nhiều khó khăn. Ông Tống Viết Trung, Phó tổng giám
      đốc Viettel cho biết, Viettel đã ngầm hóa theo chỉ đạo của UBND TP Hà Nội và
      TPHCM, tuy nhiên mới triển khai được trên một vài tuyến phố. Trong khi đó, việc
      dùng chung cống bể cáp với các DN khác gặp vướng mắc vì VNPT cũng chỉ thiết kế
      đủ cho mình dùng. Rõ ràng là quá trình ngầm hóa các tuyến phố không có chỉ đạo
      quyết liệt của TP sẽ rất nan giải. Thậm chí, TP ra chủ trương nhưng cấp dưới
      chưa thông nên gây khó khăn trong việc ngầm hóa.


      Nói về khó khăn khi thực hiện chủ trương ngầm hóa mạng cáp
      viễn thông, ông Lê Quang Triệu, Phó Tổng giám đốc SPT đơn cử: “Mỗi lần xin cấp
      phép xây dựng một tuyến cáp ngầm, Sở Giao thông Công chính chỉ cấp cho một đoạn
      300m trên cơ sở đã có hồ sơ dự toán, sau khi nghiệm thu xong 300m này thì mới
      được xét cấp 300m tiếp theo. Cứ thế, một công trình cáp ngầm tại một quận ven mà
      phải mất 3 năm thi công mới hoàn thành. Chưa kể, trong hồ sơ xin cấp phép, chúng
      tôi còn phải lấy ý kiến của rất nhiều ngành khác như vỉa hè, cây xanh, điện,
      nước, thoát nước... tại khu vực đó. Nhưng một năm chúng tôi cũng lấy chưa xong
      vì họ thích thì cho, còn không thích thì mình cũng chịu. Khó quá, chúng tôi
      chuyển sang tiếp cận các công trình thi công hạ tầng ngầm của TP để đi nhờ cáp
      nhưng các cơ quan chức năng cũng trả lời là không được. Bên cạnh đó, chúng tôi
      đã có thỏa thuận về chia sẻ cơ sở hạ tầng với VNPT. TP.HCM từ năm 2006 nhưng
      trên thực tế là không triển khai được”.


      Đại diện của EVN Telecom phản ánh, quá trình xin phép cho
      các tuyến cáp ngầm rất khó khăn do thủ tục rườm rà và thời gian cấp phép kéo
      dài, không đảm bảo kịp sự phát triển của DN viễn thông.


      Giải bài toán cho việc ngầm hóa


      Để giải quyết bài toán ngầm hóa mạng cáp viễn thông tại các
      TP lớn, phía Viettel đưa ra giải pháp phải thúc đẩy đầu tư chung cơ sở hạ tầng
      (CSHT) như cống bể cáp, thậm chí cả BTS… rồi sau đó sử dụng chung.


      [table]





      Viễn thông TP.HCM (thuộc VNPT) đang tiến hành ngầm hóa
      hệ cáp. Ảnh Lê Dũng.
      [/table]


      “Tại các khu đô thị mới, cần xây dựng một quy hoạch tổng thể bao gồm các hệ
      thống cống bể, vị trí đặt trạm BTS… Với kinh nghiệm phát triển những năm qua của
      ngành viễn thông thì việc xây dựng các quy hoạch này không phải là khó. Nhưng
      đối với những khu đô thị cũ, không còn cách nào khác là chúng ta phải đặt mục
      tiêu quy hoạch lại dần dần và trách nhiệm chỉ đạo là của UBND các tỉnh, TP. Sau
      khi UBND các tỉnh, TP đã có phương hướng quy hoạch chung, trong đó xác định các
      vấn đề như khu vực nào làm trước, khu vực nào làm sau… thì các DN viễn thông sẽ
      căn cứ vào đó để triển khai phương án cụ thể. Một phương án sử dụng chung CSHT
      khác mà chúng tôi đã áp dụng với EVN, VTN là trao đổi dung lượng đường truyền:
      tôi nhận của anh bao nhiêu thì cũng đưa cho anh dùng bấy nhiêu. Đây là cách làm
      mà không DN nào thấy mình bị thiệt cả”, một lãnh đạo Viettel phân tích.



      Ông Tống Viết Trung thì cho rằng, các địa phương cần có quy
      hoạch các khu đô thị mới có cống bể cáp cho viễn thông ngầm hóa và phải được
      chuẩn hóa mới phê duyệt quy hoạch. Đối với phố cũ, các TP quy hoạch lại những
      tuyến đó, sau đó các DN tham gia đầu tư và phân chia sử dụng theo mức đầu tư,
      UBND TP có thể thiết kế quy hoạch, lên dự toán đầu tư. Nếu DN nào không đầu tư
      sẽ phải thuê vì nếu 1 DN đầu tư sẽ không khả thi và có thể dẫn tới độc quyền.



      Đồng tình với quan điểm sử dụng chung CSHT, ông Bùi Thiện
      Minh, Phó Tổng giám đốc VNPT nhận định, điều này sẽ giúp các DN giảm chi phí đầu
      tư, đảm bảo mỹ quan đô thị và đảm bảo một quy hoạch hạ tầng chung thống nhất.
      Song nếu làm không khéo thì lại mất đi tính cạnh tranh giữa các DN. Trên thực
      tế, tại những khu vực đã có hai hệ thống truyền dẫn của hai DN thì việc một DN
      thứ ba muốn tham gia sử dụng chung một trong hai hệ thống hạ tầng đã có không
      phải là vấn đề khó bởi hai DN có hạ tầng này sẽ phải cạnh tranh để cung cấp dịch
      vụ truyền dẫn cho nhu cầu sử dụng của DN thứ ba đó. Rõ ràng, việc đầu tư và sử
      dụng chung CSHT là có lợi cho DN, sử dụng chung ở đây không chỉ ở hạ tầng viễn
      thông mà ở cả các hạ tầng khác như điện, nước bởi các DN sẽ giảm được chi phí
      đầu tư nếu đầu tư riêng rẽ và hạn chế được khó khăn trong việc cấp phép đầu tư,
      thi công tuyến cáp ngầm…


      Ông Bùi Thiện Minh đưa ra hai giải pháp để ngầm hóa mạng
      cáp viễn thông. Cụ thể, cống bể cáp ở các đô thị bắt buộc phải dùng chung, còn
      những khu vực khác thì để DN hợp tác với nhau trên cơ sở quan hệ kinh tế. Các DN
      có thể bàn bạc để có một DN xây dựng CSHT dùng chung cho tất cả DN, sau đó các
      DN có thể đăng ký nhu cầu sử dụng của mình với DN này. Như vậy, sẽ giải được bài
      toán ngầm hóa mạng cáp viễn thông đang làm đau đầu các DN hiện nay.
      Thế Tùng - Thái Khang



      19/06/2009 09:00:26 AM





      [table]





      |




      Ngầm hóa cáp viễn thông là vấn đề nan giải cần có sự tham gia của các ngành liên quan. Ảnh Thanh Hải. |



      [/table]
      Chính quyền địa phương “xắn tay” vào cuộc



      ICTnews –
      Có một số địa phương đang tiến hành khá thuận lợi việc ngầm hóa cáp
      viễn thông, nhưng trên tổng thể đây vẫn là vấn đề nan giải, cần sự vào
      cuộc các ngành liên quan.




      Tất cả phải vào cuộc gỡ khó cho doanh nghiệp




      Ông
      Lê Mạnh Hà, Giám đốc Sở TT&TT TP.HCM cho biết, Sở và thành phố cũng
      đã nắm được tình hình khó khăn của các DN (DN) viễn thông trong việc
      triển khai các tuyến cáp ngầm. Khó khăn vướng mắc lớn nhất của DN viễn
      thông trong việc thực hiện chủ trương ngầm hóa là vấn đề cấp phép xây
      dựng. Nhưng nguyên do là bởi tình trạng nay DN này xin cấp phép đào
      đường, mai lại có DN khác muốn đào đường. Cứ như vậy mỗi con đường bị
      đào lên lấp xuống hàng trăm lần và kết quả việc xin cấp phép thi công
      các tuyến cáp ngầm gặp khó khăn là đúng. Hoặc khi được cấp phép thì chỉ
      được “phép” cho từng khúc đường cũng là hợp lý. “Về nguyên tắc, không
      thể để các con đường bị đào lên đào xuống quá nhiều, Thành phố đã và
      đang có quá nhiều “lô cốt” rồi.




      Chính
      vì thế, Thành phố và Sở xác định là phải dùng chung hạ tầng ngầm. Do
      đó, thành phố đã triển khai từ năm ngoái một số chương trình thí điểm
      như Sở phối hợp với Điện lực thành phố để làm một tuyến mẫu và các DN
      viễn thông sẽ phải sử dụng chung công trình ngầm này. “Hiện tuyến mẫu
      này đã lên thiết kế xong và đang chuẩn bị tiến hành làm. Vấn đề quan
      trọng nhất là cần một DN có tiềm lực đứng ra đầu tư, ví dụ như Điện lực.




      Mặc
      dù biết rằng Điện lực cũng có điện thoại nên có thể dẫn tới tình trạng
      DN này sẽ độc quyền trong việc để các DN viễn thông khác sử dụng chung
      hạ tầng ngầm đó, nhưng chuyện này có thể tính sau. Từ việc thí điểm làm
      mẫu sẽ rút ra được kinh nghiệm là nên để ai đầu tư, ai quản lý hoặc ai
      khai thác các công trình ngầm này, giá thuê bao nhiêu thì bù đắp lại
      được chi phí”, ông Lê Mạnh Hà nói.




      Ông
      Văn Hữu Chiến, Phó Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng, cho biết chủ trương ngầm
      hóa đã được thành phố quán triệt nên cũng có thuận lợi. Từ năm 1993
      thành phố đã quan tâm đến vấn đề này. Tất cả các tuyến đường mới, nâng
      cấp lại thì đều có quy hoạch vỉa hè để các DN viễn thông để hạ ngầm
      cáp. Sở Giao thông công chính trước khi xây dựng đều mời các DN và các
      đơn vị liên quan tới để thống nhất vị trí triển khai. Vì vậy, hầu hết
      mạng cáp viễn thông đều đã được hạ ngầm, chỉ có một số tuyến đường
      không có vỉa hè nên sẽ khó khăn.




      Tìm lời giải cho bài toán ngầm hóa




      “Đối
      với vấn đề ngầm hóa các mạng cáp và sử dụng chung các hạ tầng ngầm, Sở
      TT&TT và Sở Công Thương phải đứng ra chủ trì, phối hợp với các
      ngành, đơn vị liên quan. Đặc biệt, mình (Sở TT&TT - PV) phải là
      chính vì số lượng cáp của mình nhiều hơn cáp điện rất nhiều”, ông Lê
      Mạnh Hà khẳng định. Cũng theo ông Hà, bài toán ngầm hóa đặt ra yêu cầu
      chính quyền các thành phố lớn cần phải tích cực trong việc xây dựng các
      quy hoạch ngầm hóa và sử dụng chung các cơ sở hạ tầng ngầm giữa các
      ngành như viễn thông, điện, nước…




      Tuy
      nhiên, việc thực hiện không dễ, bởi hiện cơ sở pháp lý chưa đầy đủ.
      Luật Quy hoạch đô thị dù có xác định hạ tầng viễn thông là một ngành hạ
      tầng như các ngành hạ tầng khác (điện, nước…) nhưng nếu các Nghị định
      dưới Luật không làm rõ tinh thần này thì việc triển khai các quy hoạch
      hạ tầng viễn thông sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Đại diện Sở TT&TT
      Đồng Nai cho rằng quy hoạch khu đô thị phải có ngầm hóa hạ tầng viễn
      thông giống như điện, nước thì mới cấp phép.




      Trước
      vấn đề khó khăn trong việc ngầm hóa mạng cáp viễn thông, bà Nguyễn Thị
      Hạnh, Phó Cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng), cho biết từ
      năm 2002 Bộ đã có quyết định phê duyệt dự án phát triển VT-CNTT trong
      ngành xây dựng. Hiện tại, Việt Nam có 747 đô thị, với tốc độ phát triển
      nhanh nên thiếu quy hoạch về hạ tầng viễn thông. Vì vậy, Bộ Xây dựng sẽ
      xây dựng Luật về đô thị trong đó có quy định về cơ sở hạ tầng CNTT,
      viễn thông, để đồng bộ với hạ ngầm đường viễn thông cùng với đường
      điện, đường nước.

      Thế Tùng – Hồng Minh






      Ông Dương Anh Điền, Phó Bí thư thành ủy Hải Phòng, đại biểu Quốc hội TP. Hải Phòng:




      Hải Phòng -Nhiều khu phố không còn đất để đào





      Hải Phòng, ngầm hóa cũng là một yêu cầu được nêu ra trong nhiều nghị
      quyết của cấp ủy và lãnh đạo UBND TP. Công ty TNHH 1 thành viên điện
      lực Hải Phòng, Viễn thông Hải Phòng đã ngầm hóa nhiều tuyến phố từ đầu
      những năm 2000. Song nhiều tuyến phố vẫn đi dây trần vì sau khi có chủ
      trương ngầm hóa lại có những DN khác của công an, quân đội tham gia
      kinh doanh. Việc ngầm hóa có tiến triển nhưng nhìn chung vẫn chưa đáp
      ứng được yêu cầu. Mới có 2 ngành Viễn thông và Điện lực làm ngầm hóa,
      song chỉ ở một số tuyến phố và hoàn toàn chưa có một sự hợp tác nào
      giữa 2 đơn vị này.




      Hiện
      nay, ở Hải Phòng có thực trạng là nhiều khu phố không còn đất để đào,
      dưới vỉa hè có rất nhiều loại công trình ngầm của bưu điện, cấp nước,
      thoát nước, điện lực… Tôi muốn nói là phải có một quy hoạch ngay từ
      đầu, với những đô thị mới phải đề ra những quy định về các dịch vụ cấp
      nước, thoát nước, viễn thông là phải được ngầm hóa.




      Theo
      tôi, trong luật cần phải quy định rõ về việc dùng chung cơ sở hạ tầng.
      Trước mắt, khi chưa có một đơn vị chuyên làm công việc xây dựng hạ tầng
      cơ sở chung này thì cơ quan quản lý nhà nước phải điều tiết bằng các
      quy định đối với các DN đã làm hạ tầng trước đó là phải cho thuê với
      mức giá do nhà nước quy định chứ không thể thích bao nhiêu thì đòi bấy
      nhiêu.

      Bà Phạm Phương Thảo - Phó Bí thư thành ủy TP.HCM, đại biểu Quốc hội TP. HCM:


      TP.HCM: Ngầm hóa 50% vào 2015 là quá chậm





      Viễn
      thông thành phố phấn đấu đến năm 2015 có 50% tuyến cáp sẽ được ngầm
      hóa, như vậy là quá chậm. Khó khăn họ kêu là vốn, nhưng tôi nghĩ nếu
      có cách huy động vốn từ những DN dùng chung hạ tầng đóng góp lại thì
      cũng không phải là quá khó. Còn về thủ tục, trong quá trình thực hiện,
      nếu thấy khó khăn thì các DN có thể kiến nghị lên lãnh đạo thành phố,
      tôi nghĩ hoàn toàn có thể giải quyết được.


    8. #168
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .

      [table]
      Số
      hoá thông tin và dữ liệu tài chính công:
      Chọn nơi xuất
      phát

      Lao Động số 141 Ngày
      26/06/2009Cập nhật: 9:06 AM,
      26/06/2009




      [table]


      [img]/avatar.aspx?ID=104804&at=0&ts=236&lm=6 33816039732430000" class="atc_img" id="_ctl0_rContent_imgImage" alt="" border="0[/img]


      Dịch vụ tài
      chính công còn rất hạn chế.
      [/table]
      (LĐ) - Từ lâu, cả ngành tài
      chính bao gồm kho bạc, thuế, hải quan... đã đầu tư CNTT để thúc đẩy các dịch vụ
      tài chính công. Trong khi đó, giới CNTT cũng bắt đầu "mày mò" để số hoá thông
      tin, thiết lập cơ sở dữ liệu (CSDL) phục vụ công việc này.

      Thế nhưng, dường như hai lĩnh vực này lại chưa thể "tích hợp"
      được với nhau. Vì thế tất cả đang loay hoay chỉ với một vấn đề: Bắt đầu xuất
      phát từ đâu?


      Quy trình ngược

      Tài chính công có thể
      tạm hiểu là hoạt động lưu chuyển các thông tin giao dịch tài chính có liên quan
      đến thu chi tiền và các loại giấy tờ có giá trị tượng trưng cho tiền như các
      loại thuế, phí và lệ phí, trích nộp nghĩa vụ ngân sách, giao dịch tiền... thông
      qua các cơ quan tài chính, thuế, kho bạc, hải quan...

      Thực tế, dù chưa
      thể tổng kết VN đã chi bao nhiêu tiền để "điện tử hoá" các dịch vụ tài chính
      công; nhưng có thể khẳng định số tiền này là nhiều đến mức... khổng
      lồ.

      Và dù đã chi một lượng tiền khổng lồ; song cho đến nay chưa hề có một
      cơ quan nào "dám" khẳng định đã có thể cung cấp dịch vụ tài chính công cơ bản.
      Thậm chí, bản thân các cơ quan này đã thừa nhận rằng các dịch vụ tài chính công
      của VN mới chỉ ở mức độ... sơ khai, chủ yếu để phục vụ nội bộ.

      Theo các
      chuyên gia CNTT, lý do cơ bản nhất là VN chưa có được thông tin điện tử cũng như
      CSDL cho vấn đề này là VN đang đi ngược quy trình, đang làm theo cách: Cái gì
      làm được thì làm. Đã có một số cơ quan, đơn vị đã cung cấp không nhiều dịch vụ
      tài chính công như biểu mẫu, kê khai, đăng ký, tra cứu điện tử ... nhưng lại
      không đồng bộ, lạc hậu, ít cập nhật và đặc biệt là không đầy đủ.


      Bắt đầu từ đâu?


      Xung quanh câu hỏi này còn có
      hàng loạt câu hỏi nhỏ: Cơ quan nào chủ trì số hoá thông tin và xây dựng CSDL?
      Đâu là tiêu chuẩn xây dựng hệ thống? Cách nào để số hoá và xây dựng CSDL? Liệu
      có rào cản và khoảng cách giữa 2 lĩnh vực tài chính và CNTT ứng dụng cho tài
      chính công?

      Sự thật là VN chưa có cơ quan nào chủ trì việc này. Vì thế cứ
      cơ quan nào có được kinh phí, DN nào xác định đầu tư thì khi đó bắt tay vào thực
      hiện. Việc không thống nhất từ đầu mối đã tạo ra sự không đồng bộ về tiêu chuẩn.
      Tương tự, việc mỗi nơi áp dụng các phương thức, cách làm khác nhau cũng khiến
      nơi này không chấp nhận kết quả của nhau.

      Tại hội thảo về vấn đề này tổ
      chức ngày 23.6, đại diện Tổng cục Thuế cho biết cơ quan này mới chỉ thí điểm
      thực hiện khai thuế điện tử và đang gặp hàng loạt khó khăn như thiếu quy định cụ
      thể, biểu mẫu; khó quản lý và lưu trữ các tờ khai thuế điện tử, đặc biệt là rào
      cản về bảo mật, chứng thực.

      Tương tự, "hải quan điện tử" cũng đã thực
      hiện từ 5 năm nay, song đến bây giờ cũng chỉ bước đầu khai báo nghiệp vụ và
      thông quan ở một số hàng hoá với quy trình đơn giản.

      Tại hội thảo, một số
      cơ quan DN cũng đã đưa ra phương thức và phần mềm để số hoá thông tin và xây
      dựng CSDL. Ghi nhận đây là "ý tốt" cho vấn đề này. Song đây thực chất cũng chỉ
      là "phần ngọn" mang tính giải pháp trước mắt và cục bộ.

      Vì thế các chuyên
      gia cho rằng, một khi vẫn thiếu "đầu tàu" (ai chủ trì), thiếu chiến lược (bắt
      đầu từ đâu, như thế nào, mục tiêu và lộ trình ra sao), thiếu đồng bộ (đội ngũ
      thực hiện và chuẩn thực hiện)... thì câu chuyện số hoá và xây dựng CSDL cho tài
      chính công nói riêng và dịch vụ hành chính công nói chung vẫn chỉ là... xu
      hướng.



      Phạm Anh
      [table]


      [h1]Viễn thông Việt Nam tăng tốc trong thời hội
      nhập[/h1]
      [/table]
      [table]


      Thứ hai, 21 Tháng một 2008, 05:54 GMT+7
      [/table]
      [/table]




      Các công nghệ mới được đầu tư nhiều hơn so
      với năm trước, thị trường mở rộng hơn với các gói sản phẩm đa dạng, đầy cạnh
      tranh, các chính sách cơ chế có sự cải tiến rõ rệt... Đó là những thứ có thể
      nhìn thấy của viễn thông Việt Nam trước thềm năm mới 2008 và trước ngưỡng cửa
      hội nhập.




      [table]





      Thứ trưởng Lê Nam Thắng đang đối thoại trực
      tuyến trên TS hôm 9/1/2008. (Ảnh: LAD)
      [/table]
      Nóng bỏng thị
      trường



      Thị
      trường viễn thông vẫn tiếp tục sôi động trong năm 2008 bởi các gương mặt mới sẵn
      sàng nhảy vào cuộc cạnh tranh vốn đang “nóng”. Thông tin về công ty di động
      Vimpelcom sắp vào VN và liên doanh với 1 tổng công ty
      của bộ Công an để xin giấy phép cung cấp dịch vụ 3G, được Thứ trưởng Lê
      Nam Thắng giải đáp tại cuộc
      đối thoại trực tuyến hôm 9/1 trên VietNamNet : Theo quy định của pháp luật
      VN, nếu các công ty nước ngoài muốn tham gia thị trường, phải thông qua hình
      thức đầu tư trực tiếp (thành lập công ty hoặc gián tiếp (thông qua mua cổ phần
      doanh nghiệp trong nước).



      “Chúng tôi chưa có thông tin cụ thể là Công ty Vimpelcom
      sẽ tham gia dưới hình thức nào nên khó có thể trả lời chính xác câu hỏi này. Tuy
      nhiên, đã có một số công ty nước ngoài khác như G-Tel đã được Thủ tướng đồng ý
      về nguyên tắc để tham gia vào thị trường viễn thông VN. Tuy nhiên việc tham gia
      thị trường vẫn phải tuân theo đầy đủ quy định của Pháp luật về cấp phép. Hiện
      giờ chúng tôi đang xem xét cấp phép cho G-Tel theo đúng các quy định về quản lý
      viễn thông của VN”.



      Thứ trưởng Lê Nam Thắng cũng cho
      biết quan điểm của Bộ TT-TT về việc một DN cung cấp dịch vụ muốn chuyển từ nền
      tảng công nghệ này sang một nền tảng công nghệ khác rằng : "Chính sách quản lý chung của Bộ là trung lập về mặt công
      nghệ. Các doanh nghiệp căn cứ vào năng lực của mình, vào nhu cầu thị trường và
      thực tế công nghệ để lựa chọn công nghệ cung cấp".



      dụ, China Unicom của Trung Quốc vừa khai thác cả GSM lẫn CDMA. Ở Úc, mạng
      Telstra đã chuyển từ GSM lên WCDMA ngay trên nền băng tần 800.



      Và vì
      thế, Bộ TT-TT không phản đối việc doanh nghiệp chuyển từ công nghệ này sang công
      nghệ khác, miễn là việc làm đó không ảnh hưởng đến quyền lợi khách hàng và doanh
      nghiệp, cũng như không gây xáo trộn gì lớn cho thị trường.



      Thứ
      trưởng Lê Nam Thắng cũng lần đầu tiên xác nhận với PV TS thông tin xin
      chuyển từ cung cấp dịch vụ viễn thông trên nền CDMA sang GSM của nhà cung cấp HT
      Mobile: “Đúng là HT Mobile đã có công văn gửi đến Bộ TT-TT xin chuyển từ
      CMDA sang e-GSM, tức là GSM mở rộng. Hiện tại chúng tôi đang xem xét và nghiên
      cứu công văn này”.



      Thứ trưởng Bộ TT-TT cho rằng, đối
      với 1 thị trường viễn thông như Việt Nam, số lượng 6 nhà cung cấp dịch vụ như
      hiện nay đã là vừa đủ. Nếu có thêm 1 nhà
      cung cấp thứ 7 thì sẽ là quá nhiều. Bởi như hiện nay, thị trường viễn thông VN vẫn còn nhỏ, quy mô của các DN
      nhỏ, nên hiện tại số lượng DN chưa ảnh hưởng nhiều. “Nhưng về lâu dài, khi
      giá cước giảm, cạnh tranh tăng, tôi cho rằng con số này là
      nhiều”.



      Tuy
      nhiên, giải thích theo Pháp lệnh BCVT và
      Nghị định 160 của Chính phủ, Thứ trưởng Lê Nam Thắng nói, nếu DN nào đáp ứng các
      yêu cầu về tài nguyên, quy hoạch, Bộ TT-TT sẽ xem xét cấp phép, cung cấp hạ tầng
      và cung cấp dịch vụ. Nếu DN đáp ứng các điều kiện cấp phép về tài nguyên viễn
      thông theo đúng quy hoạch thì Bộ TT-TT sẽ xem xét cấp phép. Theo đúng quy định
      WTO, thị trường không hạn chế số lượng DN tham gia. Việc
      tham gia thị trường phụ thuộc chủ yếu vào tần số tài nguyên VT.



      “Chúng tôi cũng kiến nghị với Chính phủ, làm sao không
      chỉ các DN Nhà nước được tham gia thị trường viễn thông VN”.



      Trả lời một câu hỏi của độc giả
      tại Bắc Giang về việc hiện có nhiều DN được cấp phép nhưng không triển khai, thì
      Bộ có thu hồi giấy phép không, Thứ trưởng Lê Nam Thắng cho biết: Liên quan đến
      việc cấp phép, DN phải có đề án xin phép, trong đó ngoài tư cách pháp lý thì có
      2 nội dung chính là đề án kỹ thuật và phương án kinh doanh chỉ rõ trong 5 năm
      đầu triển khai thực hiện đề án như thế nào? Quy định hiện hành đã có những yêu
      cầu, ví dụ DN cung cấp dịch vụ điện thoại di động phải mở rộng vùng phủ sóng như
      thế nào, tăng thuê bao ra sao?


      Tuy
      nhiên, trong quá trình triển khai giấy phép thì có DN tuân thủ đúng, thậm chí
      triển khai vượt kế hoach họ đề ra. Nhưng cũng có DN triển khai chậm, và có DN
      chưa triển khai theo cam kết. Theo quy định, sau 2 năm không triển khai dịch vụ
      Internet thì thu hồi giấy phép nếu không có lý do chính đáng.

      Nhưng cũng
      còn phụ thuộc vào sự phát triển thị trường. Bộ sẽ trên cơ sở cam kết của DN và
      sự phát triển thị trường để có hình thức xử lý phù hợp. Thời gian tới Bộ sẽ giám
      sát mạnh hơn việc triển khai của DN, biện pháp mạnh tay hơn để đảm bảo việc
      triển khai của DN.


      Quản lý chặt chẽ hơn các
      DN chiếm thị phần khống chế !



      Trả lời
      thắc mắc về việc căn cứ vào đâu để Bộ xác định một hay một nhóm DN chiếm thị
      phần khống chế? Thị phần ở đây được hiểu là doanh thu, thuê bao hay lưu lượng?,
      Vụ trưởng Vụ Kế hoạch Tài chính Bộ TT-TT Nguyễn Minh Sơn cho biết :

      Việc Bộ phân định DN chiếm thị phần khống chế và
      không chế là nhằm mục tiêu để quản lý, lành mạnh hóa thị trường và thúc đẩy cạnh
      tranh. Tiêu chí để phân biệt DN chiếm thị phần khống chế và không chiếm là dựa
      trên Luật cạnh tranh. Theo quyết định 39 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý giá
      cước các dịch vụ BCVT và thông tư 02 của Bộ quy định, DN chiếm thị phần khống
      chế là DN chiếm thị phần doanh thu hoặc lưu lượng từ 30% trở lên đối với dịch vụ
      mà DN đó cung cấp và gây ảnh hưởng trực tiếp đến việc thâm nhập thị trường của
      các DN khác. Đó gọi là DN chiếm thị phần khống chế.


      Còn nhóm 2 DN chiếm thị phần
      khống chế thì có mấy định nghĩa thế này: là 2 DN chiếm thị phần doanh thu hoặc
      lưu lượng từ 50% trở lên đối với dịch vụ mà DN đó cung cấp và gây ảnh hưởng trực
      tiếp đến việc thâm nhập thị trường của các DN khác. Nhóm 3 DN chiếm thị phần
      khống chế là có thị phần doanh thu, lưu lượng từ 65% trở lên, 4 DN thì chiếm 75%
      trở lên. Điều này được quy định trong Luật cạnh tranh, được áp dụng cho các DN
      BCVT và cũng phù hợp với thông lệ quốc tế.


      Làm
      thế nào để các DN viễn thông có thể cạnh tranh bình đẳng, không có hiện tượng
      chèn ép trong quá trình kinh doanh, ông Sơn cũng cho biết một vài quan điểm của
      nhà quản lý :



      “Chính sách thì có nhiều, chỉ xin
      đơn cử như vấn đề kết nối. Trước đây chúng ta kết nối theo cơ chế xin cho, khiến
      DN mới khi muốn kết nối với DN chủ lực gặp rất nhiều khó khăn. Ngay sau đó, Bộ
      đã có chỉ đạo xây dựng quy chế kết nối dựa trên cơ chế kinh tế, nên đã đảm bảo
      cho vấn đề kết nối đến nay đã trở nên hết sức bình đẳng. Các DN đều dựa trên hợp
      đồng kinh tế để tiến hành kết nối.


      Một biện pháp nữa như tôi vừa nói
      là vấn đề quản lý DN theo thị phần khống chế. Những DN chiếm thị phần khống chế
      thì có cách quản lý chặt chẽ hơn. Những DN không chiếm thị phần khống chế được
      tự do hơn về một số mặt, chẳng hạn quyết định giá cước và vấn đề kết nối để có
      điều kiện phát triển. Chúng ta có thể thấy thị trường viễn thông VN thời gian
      qua phát triển khá tốt, đứng thứ nhất thứ nhì thế giới về tốc độ phát
      triển.


      Có những vấn đề cụ thể xảy ra,
      chẳng hạn như DN này không cho DN kia triển khai cung cấp dịch vụ giá trị gia
      tăng... thì đó là việc thoả thuận giữa các DN. Còn Bộ chỉ đảm bảo cho việc khách
      hàng của các DN không bị phân biệt đối xử”.


      Chạy đua 3G, Wimax và
      NGN



      Dự kiến, Bộ TT-TT sẽ phát hồ sơ
      mời thi tuyển cấp phép cung cấp dịch vụ 3G vào đầu tháng 2/2008. Như vậy, DN sẽ
      có 3 tháng để chuẩn bị hồ sơ, sau đó Hội đồng sẽ chấm điểm các hồ sơ (trong 1
      tháng), báo cáo kết quả lên Thủ tướng Chính phủ và tiến hành cấp phép cho các hồ
      sơ trúng tuyển trong quý II/2008. Khi được cấp phép, có thể doanh nghiệp sẽ mất
      1-2 năm để đầu tư mạng lưới, triển khai và sau đó mới có thể cung cấp dịch
      vụ.


      Trước lo ngại về việc dịch vụ 3G sẽ sử dụng băng tần nào
      và công nghệ này có bị chồng chéo với phổ tần của GSM và CDMA hiện đang sử dụng
      hay không, ông Đoàn Huy Hoan, Cục trưởng Cục Tần số, Bộ TT-TT cho
      biết
      : Theo quy hoạch băng tần cho các hệ thống thông tin di
      động IMT-2000 (còn gọi là 3G) thì dải tần phân bổ cho 3G là 1900-1980 MHz,
      2010-2025 MHz, 2110-2170 MHz. Bộ TT-TT đã quy hoạch cho 4 nhà khai thác được
      cung cấp dịch vụ 3G trên băng tần này, nên trong mỗi nhà khai thác được cấp ít
      nhất 15 MHz trong các đoạn băng tần 1920-1980 MHz/2110-2170 MHz và 5 MHz trong
      đoạn 1900-1920 MHz.



      Hiện
      tại, theo quy định của Bộ, các doanh nghiệp có thể tự lựa chọn sử dụng một trong
      hai công nghệ 3G phổ biến nhất hiện nay là WCDMA và CDMA 2000 để cung cấp dịch
      vụ 3G trên băng tần này, chứ không quy định cứng là phải sử dụng công nghệ nào.
      Đây là 2 công nghệ khả thi và được ứng dụng phổ biến trên băng tần mà Bộ dự định
      cấp phép.



      Các
      băng tần quy hoạch và đang được sử dụng cho các hệ thống GSM là 890-915
      MHz/935-960 MHz, 1710-1785 MHz/1805-1880 MHz; cho CDMA là 829-845MHz/874-890 MHz
      và 453,08-457,37 MHz/ 463,08-467,37 MHz.



      Như
      vậy, băng tần dành cho 3G và WiMax không trùng với băng tần dành cho GSM và
      CDMA. Tuy nhiên, trong tương lai các công nghệ 3G và trên 3G có thể được phát
      triển ngay trong các băng tần quy hoạch cho GSM và CDMA.


      Hiện đại hóa quy hoạch
      tần số



      Đối
      với việc quy hoạch và phát triển các kênh truyền hình dựa trên việc phân bổ và
      quy hoạch tần số của cơ quan quản lý và khắc phục tình trạng “mạnh ai nấy làm”
      của các đài truyền hình, Cục trưởng Cục Tần số Đoàn Huy Hoan cho biết: Trước
      hết, phải khẳng định rằng tình trạng các đài PT-TH tỉnh "mạnh ai nấy làm" của
      những năm trước đây hiện nay đã chấm dứt. Hiện tại, bộ TT-TT đã tăng cường đẩy
      mạnh quản lý tần số đối với phát thanh truyền hình trên cả phương diện quy hoạch
      và thực thi pháp luật.



      Nếu
      như trước đây, cuối những năm 90, báo chí đưa ra bàn bạc về một sự kiện gọi là
      "Cuộc chiến trên tần số phát thanh truyền hình" thì ngày nay, vấn đề đó cơ bản
      đã được giải quyết chứ không phải ở tình trạng mạnh ai nấy làm. Bộ TT-TT đã ban
      hành các quy hoạch về kênh tần số cho truyền hình tương tự mặt đất, kênh tần số
      cho phát thanh FM.



      Khi
      tuân thủ các quy hoạch này thì hầu hết các đài phát thanh truyền hình của trung
      ương và địa phương đều thực hiện đúng quy hoạch. Tuy nhiên, một số đài đang
      trong quá trình chuyển đổi từ kênh tần số cũ sang kênh tần số được quy hoạch thì
      có những kênh chưa được chấm dứt hoàn toàn. Hai quy hoạch này vẫn đang tiếp tục
      được nghiên cứu, điều chỉnh, sửa đổi để cho phù hợp với điều kiện phát triển
      hiện nay là có thêm các đài được phép cung cấp dịch vụ truyền hình. Đối với các
      đài địa phương, sở dĩ Bộ quy hoạch mỗi 1 đài địa phương chỉ có 1 kênh tần số
      được phát truyền hình analog trừ TP.HCM và Hà Nội là dựa trên tiềm năng của
      nguồn tài nguyên phổ tần.



      Hiện
      Việt Nam không có đủ tần số để quy hoạch và cấp phép nhiều hơn 1 kênh cho các
      đài PT-TH địa phương và thực tế thì điều đó cũng phù hợp với năng lực sản xuất
      chương trình của các đài địa phương.



      Các
      quy hoạch này đang được nâng cấp lên một bước. Bộ TT-TT đang trình Thủ tướng ban
      hành quy hoạch về truyền dẫn sóng phát thanh, truyền hình. Hy vọng, khi thực
      hiện quy hoạch này một cách đầy đủ, nghiêm chỉnh thì trong tương lai, tình trạng
      phát triển tự do trong phát thanh truyền hình sẽ hoàn toàn chấm dứt.





      Số hóa hạ tầng truyền dẫn phát
      sóng

      Lộ trình tiến tới "số
      hóa" hạ tầng truyền dẫn phát sóng ở VN đã được Bộ TT-TT đưa ra bằng 6 mục tiêu
      và 4 định hướng cơ bản trong Quy hoạch Phát thanh truyền hình đến năm 2020 đã
      trình Thủ tướng.


      6 mục tiêu: Thứ nhất là đến năm
      2015, phải đảm bảo TH được phủ sóng 95% dân cư. Đến năm 2020, phủ sóng hầu hết
      các địa phương trên toàn quốc. Phát thanh, đặc biệt sóng phát thanh AM và FM,
      đến năm 2015: phủ sóng toàn bộ dân cư. Thực hiện việc số hóa toàn bộ hạ tầng
      truyền dẫn phát sóng trước năm 2020.


      Đối với Phát thanh cũng khuyến
      khích số hóa trước năm 2020. Truyền hình cáp, đến năm 2015, bảo đảm 100% trung
      tâm các tỉnh, thành phố có mạng truyền hình cáp, với việc ứng dụng rộng rãi cáp
      quang và ngầm hóa mạng ngoại vi. Và mục tiêu thứ 6 là bảo đảm cho người dân, đặc
      biệt người dân ở vùng sâu vùng xa và biên giới hải đảo được cung cấp đầu thu TH
      số, với giá cước phù hợp, ưu đãi.


      Để đạt được mục tiêu này, quy
      hoạch đưa ra 4 định hướng quan trọng: Thứ nhất là xây dựng hạ tầng
      truyền dẫn PT-TH hiện đại, tiên tiến, thống nhất về mặt tiêu chuẩn công nghệ;
      bảo đảm có thể chuyển tải được tất cả các dịch vụ CNTT, phát thanh, truyền hình
      trên cùng một hạ tầng.


      Thứ hai là phân định rõ hoạt động về sản xuất chương trình nội
      dung với hoạt động truyền dẫn, nhằm mục tiêu để hình thành thị trường cung cấp
      dịch vụ truyền dẫn PT-TH với hai tiêu chí: hoạt động về nội dung theo luật báo
      chí, và chuẩn của hạ tầng công nghệ PTTH theo các quy hoạch viễn thông,
      Internet. Mục tiêu này là thúc đẩy và tạo điều kiện mọi thành phần kinh tế tham
      gia phát triển hạ tầng truyền dẫn PT-TH.


      Thứ ba,đẩy mạnh quá trình số hóa toàn bộ hạ tầng truyền dẫn
      phát sóngPT-TH, đến năm 2010, ngừng hệ thống tương tự để chuyển sang
      toàn bộPT-THsố trước năm 2020. Trong năm 2008, nếu quy hoạch này
      được Thủ tướng phê duyêt, Bộ cũng sẽ chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên
      quan xây dựng đề án Số hóa truyền dẫn phát sóngPT-TH.


      Thứ tư, xác định hạ tầng phục vụ cho các chương trình truyền
      dẫn PT-TH công ích, phân biệt với các hạ tầng truyền dẫn có mục
      đích khác để có cơ chế chính sách phù hợp về vốn, đầu tư, thuế...Chúng tôi cũng
      rất hy vọng quy hoạch được Thủ tướng sớm phê duyệt để tạo điều kiện phát triển
      hạ tầng truyền dẫn sóng PT-TH và tăng cường công tác quản lý về mặt cộng nghệ, chất
      lượng, tiêu chuẩn của hạ tầng này.


      Thắt chặt công tác thanh
      tra, đo kiểm



      Việc
      công khai kết quả kiểm tra cũng như những thông tin về chất lượng được thực hiện
      theo quyết định số 33 của Bộ TT-TT, trong đó yêu cầu công khai tất cả kết quả
      kiểm tra, tất cả những nội dung doanh nghiệp công bố chất lượng trong đó không
      quy định công khai mức xử phạt. Phó Chánh thanh tra Bộ TT-TT cho biết, mức xử
      phạt không có gì là bí mật cả. “Vấn đề là chúng tôi thực hiện theo đúng quy
      định. Hiện nay, khi một số báo đặt câu hỏi, chúng tôi cũng trả lời rõ rằng DN
      nào vi phạm và bị xử phạt bao nhiêu một cách công khai. Chúng tôi cũng xin nói
      lại là chúng tôi làm hoàn toàn theo quy định. Trong đó không quy định việc công
      khai mức xử phạt nên chúng tôi không nêu công khai trong đó”.



      Thanh
      tra Bộ TT-TT cũng giải thích việc công bố công khai kết quả kiểm tra chất lượng
      dịch vụ trong năm 2007 nhưng lại có sự đính chính, rằng: “Thực ra đây là 1 sơ
      suất đáng tiếc trong quá trình soạn thảo văn bản. Kết quả này liên quan đến việc
      kiểm tra của Saigon Postel (SPT), trong quá trình soạn thảo văn bản, giữa bên DN
      và đoàn kiểm tra cũng không phát hiện được lỗi đánh máy nhầm về chỉ tiêu thực đo
      được con số cụ thể về tỷ lệ gọi thành công, kết quả đã đo trước đó là 99,82%
      nhưng đánh máy nhầm thành 95,18%.



      Thực
      chất là chúng tôi đính chính lại chứ không đo lại kết quả đó, và cũng xin nói rõ
      rằng lỗi này cũng là một lỗi đáng tiếc vì con số 95,78%, nếu các bạn muốn kiểm
      tra thì đó chính là kết quả đo trước đó của EVN Telecom. Đó hoàn toàn là sai sót
      về mặt soạn văn bản. Con số trên mạng 95,78% là thể hiện của mạng EVN Telecom.
      Các bạn cũng lưu ý rằng việc đính chính này cũng không hề nói lên chất lượng của
      SPT là được nâng lên hay không mà chỉ nói rằng có vi phạm hay không. Chỉ tiêu
      này trước và sau khi đính chính thì cũng có kết luận rõ ràng là chỉ tiêu này của
      STP và không bị vi phạm”.



      Vai
      trò của công tác thanh tra trong việc xử lý các tiêu cực của các đại lý
      Internet, Bộ TT-TT cho biết : Để hạn chế
      tiêu cực, các chủ đại lý phải tìm hiểu, nắm vững quyền hạn và trách nhiệm của
      mình được quy định tại thông tư 02 về quản lý đại lý Internet; thông tư liên
      tịch 60 về quản lý trò chơi trực tuyến (game online); tìm hiểu các mức xử phạt
      quy định trong Nghị định 55 của CP về quản lý cung cấp và sử dụng internet; Nghị
      định 56 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hoạt động văn hoá, thông
      tin; thông tư 03, 05 của Bộ BC-VT cũng đã có quy định về mức xử phạt vi phạm
      hành chính rất rõ ràng...

      Về phản ảnh của độc giả, khi người dân hoặc chủ
      đại lý phát hiện những bằng chứng cho thấy cán bộ thanh tra, kiểm tra nhũng
      nhiễu, gây khó khăn, phiền hà, vòi vĩnh tiền... cần phải báo ngay cho cơ quan
      quản lý nhà nước tại địa phương (Sở BC-VT) hoặc công an địa phương. Bằng nhiều
      biện pháp, có thể cung cấp chứng cứ hoặc cơ quan công an vào cuộc điều tra thu
      thập chứng cứ, bắt quả tang... Các hiện tượng nói trên sẽ bị xử lý nghiêm trước
      pháp luật.


      Hướng tới " Hội tụ tất cả
      trong 1 đường dây "



      Trong lộ trình phát
      triển của CNT, liệu đến khi nào thì truyền hình cáp, điện thoại cố định và ADSL
      có thể đi cùng trên 1 đường dây ?


      Thứ
      trưởng Lê Nam Thắng cho biết quan điểm riêng: Thực ra trên thế giới, người ta đã
      ứng dụng hội tụ dịch vụ viễn thông, điện thoại, Internet, CNTT phát thanh truyền
      hình...trên cùng một hạ tầng. Vấn đề ở đây không phải về công nghệ mà là vấn đề
      kinh doanh, thị trường.


      Không phải tất cả các nước phát
      triển đều triển khai dịch vụ này nhưng tại một số nước đã cung cấp được trên
      cùng một đôi dây vừa cung cấp được ĐT, Internet và truyền hình Thị trường ta bắt
      đầu ứng dụng dịch vụ này để làm sao cung cấp được dịch vụ - dịch vụ Triplay, "3
      trong 1".


      Ở Việt Nam, để triển khai được
      dịch vụ này phải trên cơ sở triển khai nền tảng của mạng NGN. Thực ra từ năm
      2005, các doanh nghiệp Việt Nam đã triển khai mạng NGN nhưng chủ yếu là mạng
      lõi, và các mạng truy cập sẽ được triển khai từ năm 2008 trên nền IP. Hy vọng
      rằng, trong tương lai gần, các doanh nghiệp có thể cung cấp dịch vụ triplay - 3
      trong 1 - tại Việt Nam.




      Huyền
      Chi
      (tổng hợp)Theo_VietNamNet[/list]= > Chuyển đổi sang font chữ to khó quá. Dán vào Word rồi dán lại thì VST bị kị ...

    9. #169
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .

      [table]


      [h1]Máy tính quang sẽ xuất hiện trong 3 năm tới[/h1]
      [/table]
      [table]


      Thứ năm, 26 Tháng bảy 2007, 11:22 GMT+7
      [/table][table]

      Các chuyên gia nghiên cứu của
      Intel vừa giới thiệu một bộ điều biến silicon có thể truyền dữ liệu lên đến 40
      Gb/giây - dấu hiệu cho thấy máy tính sử dụng sợi quang đang trở thành hiện
      thực.



      [table]







      [/table]Bộ điều biến (modulator) có nhiệm vụ chia nhỏ tia laser thành những đốm
      sáng được máy tính hiểu là 0 và 1. PC hiện nay truyền tín hiệu qua các electron
      di chuyển trong sợi kim loại. Tuy nhiên, dây kim loại thường khiến nhiệt độ
      trong máy tính tăng cao.
      Ngược lại, sợi quang truyền dữ liệu
      bằng photon ánh sáng, nhanh hơn electron mà lại không tỏa nhiệt. Nhưng chi phí
      sản xuất các bộ phận quang thường đắt đỏ và đòi hỏi sự tỉ mỉ cao.


      Intel, Primarion, IBM và các hãng khác
      đã nghiên cứu nhiều cách để sản xuất modulator quang học theo dây chuyền silicon
      chuẩn. Intel là công ty đầu tiên cho ra mắt silicon modulator 1 GHz vào năm 2004
      và đạt tốc độ truyền dữ liệu 10 Gb/giây một năm sau đó. Còn phiên bản mới nhất
      đã hoạt động nhanh gấp 4 lần.


      Intel tin rằng các thành tố quang học
      có thể được tích hợp trong máy tính vào cuối thập kỷ này. Ban đầu, nó được trang
      bị như những bộ phận độc lập, rồi sẽ dần được đưa vào trong chip máy tính, thiết
      bị nghe nhạc MP3 và máy ảnh tốc độ cao.


      (TheoVnExpress/
      CNet)








      [/table][table]



      [h1]Máy tính quang sẽ xuất hiện trong 3 năm tới[/h1]
      [/table]
      [table]


      Thứ tư, 25 Tháng bảy 2007, 14:53 GMT+7
      [/table]Các chuyên gia nghiên cứu của Intel vừa giới thiệu một bộ
      điều biến silicon có thể truyền dữ liệu lên đến 40 Gb/giây - dấu hiệu cho thấy
      máy tính sử dụng sợi quang đang trở thành hiện thực.


      [table]





      Silicon modulator 40 Gb/giây. Ảnh:
      Intel.
      [/table]
      Bộ điều biến (modulator) có nhiệm vụ chia nhỏ tia laser thành
      những đốm sáng được máy tính hiểu là 0 và 1. PC hiện nay truyền tín hiệu qua các
      electron di chuyển trong sợi kim loại. Tuy nhiên, dây kim loại thường khiến
      nhiệt độ trong máy tính tăng cao.


      Ngược lại, sợi quang truyền dữ liệu bằng photon ánh sáng,
      nhanh hơn electron mà lại không tỏa nhiệt. Nhưng chi phí sản xuất các bộ phận
      quang thường đắt đỏ và đòi hỏi sự tỉ mỉ cao.


      Intel, Primarion, IBM và các hãng khác đã nghiên cứu nhiều
      cách để sản xuất modulator quang học theo dây chuyền silicon chuẩn. Intel là
      công ty đầu tiên cho ra mắt silicon modulator 1 GHz vào năm 2004 và đạt tốc độ
      truyền dữ liệu 10 Gb/giây một năm sau đó. Còn phiên bản mới nhất đã hoạt động
      nhanh gấp 4 lần.


      Intel tin rằng các thành tố quang học có thể được tích hợp
      trong máy tính vào cuối thập kỷ này. Ban đầu, nó được trang bị như những bộ phận
      độc lập, rồi sẽ dần được đưa vào trong chip máy tính, thiết bị nghe nhạc MP3 và
      máy ảnh tốc độ cao.


      T.N. (theo CNet)

      [table]


      [h1]Đường truyền cáp quang có thể đạt 50 Mbps[/h1]
      [/table]
      [table]


      Thứ bảy, 13 Tháng chín 2003, 09:15 GMT+7
      [/table][table]



      [table]







      [/table]
      Đây là tốc độ truy cập dữ liệu IP phục vụ các doanh nghiệp
      do hai công ty viễn thông châu Âu liên kết triển khai. Dịch vụ mà họ gọi là
      ‘Ethernet cho gia đình" (ETTH) còn cho phép khách hàng cá nhân truy cập thông
      tin qua đường truyền 10Mbps mà không cần thiết bị phụ trợ.


      Nhà sản xuất thiết bị mạng Teleste (Phần Lan) và công ty viễn
      thông Essent Kabelcom ( lớn thứ 2 Hà Lan) cho biết một trong những điểm quan
      trọng của công nghệ ETTH là sự tương thích với cáp đồng trục. Điều này có nghĩa
      là các công ty cáp có thể kéo dài thời gian hoạt động mạng hiện thời của họ và
      chỉ phải thay đổi đôi chút về cơ sở hạ tầng. Vì công nghệ này hoàn toàn dựa trên
      Ethernet cho nên khách thuê bao sẽ không cần có modem hoặc adapter. Thay vào đó,
      họ chỉ cần nối thẳng máy tính vào ổ cáp.


      Hiện tại, các hãng dịch vụ Internet cáp và DSL đang cạnh
      tranh khốc liệt. Cả hai đối thủ này đều cung cấp đường truyền với tốc độ như
      nhau: tối đa là 8 Mbps. VDSL, loại DSL nhanh nhất hiện nay, có thông lượng là 56
      Mbps, tuy nhiên, cũng chỉ đạt được trong cự ly ngắn. ETTH không bị những hạn chế
      đó vì hạ tầng cơ sở cáp có sử dụng các bộ khuếch đại mạng.


      Cáp sợi quang từ lâu đã được coi là bước phát triển tiếp theo
      của lĩnh vực băng rộng bởi nó đem lại đường truyền với tốc độ truy cập vượt qua
      những gì mà DSL cho phép hiện nay, kể cả loại T1 hay T3. Thông lượng qua cáp
      quang có thể đạt từ 10 đến 100 Mbps.


      Chính phủ Hà Lan và Thuỵ Điển hiện nay đang hỗ trợ kinh phí
      cho dịch vụ mạng sợi quang phục vụ hộ gia đình. Đầu năm nay, công ty viễn thông
      KPN Telecom (Hà Lan) đã phối hợp với hội đồng thành phố Amsterdam triển khai
      dịch vụ mạng băng rộng sợi quang tới 40 nghìn thuê bao. Hạn chế lớn nhất hiện
      nay là sợi quang còn quá đắt. Chính vì lẽ đó mà dự án của Essent Kabelcom và
      Teleste là một giải pháp tốt hơn.


      Phan Khương (Theo The Register[/i])


      [/table]

      Truyền dữ liệu qua sợi quang đạt kỷ lục 107
      Gb/giây



      Thứ sáu, 22 Tháng mười hai 2006, 11:16 GMT+7 [table]


      [table]





      Ảnh: SSVL.
      [/table]
      Cuộc thử nghiệm của hãng Siemens được tiến hành qua tuyến
      sợi quang duy nhất dài hơn 160 km nối trực tiếp giữa thiết bị truyền và bộ tiếp
      nhận.


      "Kỷ lục mới sẽ mở ra khả năng phát triển những hệ thống
      truyền và nhận thông tin bằng phương pháp xử lý điện tử trong mạng quang học",
      Siemens khẳng định.


      Nghiên cứu của hãng này nhằm chuẩn bị sẵn sàng cho kết nối
      băng thông cực rộng tương lai khi lượng dữ liệu lưu thông trong mạng tăng cao do
      sự phổ biến của game online và các dịch vụ tải nhạc, video. Hãng nghiên cứu
      Forrester Research (Mỹ) dự đoán doanh thu nhạc số sẽ chiếm 36% toàn ngành kinh
      doanh âm nhạc ở châu Âu 5 năm tới.


      Về mặt lý thuyết, Siemens đã có thể xử lý tín hiệu từ hệ
      thống của 100.000 người sử dụng DSL cùng lúc. Họ hy vọng những sản phẩm tương
      thích đầu tiên sẽ xuất hiện chỉ trong một vài năm tới.


      T.N. (theo
      VNUNet)


      [/table]

    10. #170
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .

      [table]



      [h1]Verison sử dụng công nghệ truyền hình của
      Microsoft[/h1]
      [/table]
      [table]


      Chủ nhật, 30 Tháng một 2005, 22:15 GMT+7
      [/table]Verizon Communications Inc dự định sẽ dùng công nghệ
      của Microsoft Corp cho buổi giới thiệu dịch vụ truyền hình của hãng, thông qua
      một hệ thống mạng sợi quang. Với sự kiện trên, Verizon sẽ trở thành công ty điện
      thoại lớn thứ ba giúp Microsoft hoàn thành chiến dịch thâm nhập vào thị trường
      truyền hình một cách dễ dàng hơn.



      [table]







      [/table]
      Nền tảng ban đầu của nhà sản xuất phần mềm này sẽ được
      dùng để cung cấp dịch vụ truyền hình FiOs của Verizon, nhằm đáp ứng các yêu cầu
      về chương trình hướng dẫn tương tác, độ sắc nét cao cũng như khả năng ghi video
      và video số hoàn hảo. Dịch vụ trên sẽ được triển khai vào giữa năm 2005, tuy
      nhiên hãng không cho biết cụ thể sẽ triển khai ở thị trường nào.


      Verizon đã rót hàng tỷ đồng vào
      việc thay thế các đường dây điện thoại bọc đồng bằng loại cáp sợi thuỷ tinh tốc
      độ cao. Hãng hy vọng sẽ tận dụng triệt để các tính năng dựa trên Internet của
      công nghệ này để cung cấp các dịch vụ tương tác tiên tiến.


      Thoả thuận với Verizon dựa trên
      những một số điều khoản của bản hợp đồng sử dụng nền tảng của Microsoft để cung
      cấp dịch vụ truyền hình dự kiến với SBC Communications Inc và hợp đồng cho phép
      quản lý các cuộc thử nghiệm công nghệ với BellSouth Corp.


      Bằng cách ký hợp đồng với ba công
      ty điện thoại nội địa lớn nhất trong nước, Microsoft đã đạt được mục tiêu ấp ủ
      bấy lâu nay của mình chỉ trong vòng ba tháng. Động thái này giúp Microsoft tránh
      không phải thiết lập một hệ thống cáp truyền thống mà vẫn củng cố được vị thế
      của mình trong ngành công nghiệp giải trí.


      Trước khi ký hợp đồng với ba
      hãng, công nghệ truyền hình của Microsoft được biết đến ở Mỹ là một hộp thu phát
      tín hiệu và máy ghi video với phần mềm do Comcast Corp - công ty cáp lớn nhất ở
      Mỹ - cung cấp tại bang Washington.


      Sắp tới, công nghệ của Microsoft
      sẽ được một số nhà cung cấp cáp sử dụng tại Mexico và trong một số thử nghiệm
      với các công ty điện thoại Bell Canada, SwissCom AG (Thuỵ Sĩ) và Telecom Italia
      (Ý). Chiến dịch xâm nhập vào thị trường Bồ Đào Nha đã bị hoãn lại.


      Truyền hình Internet lên bệ
      phóng




      [table]







      [/table]
      Với công nghệ của Microsoft, tín
      hiệu truyền hình sẽ được chuyển thành ngôn ngữ Internet, hay còn gọi là giao
      thức Internet (IP). IPTV hoạt động tương tự như dịch vụ điện thoại dựa trên
      Internet (điện thoại giọng nói qua Internet - VoIP). Lợi thế của công nghệ này
      có thể gấp đôi song một câu hỏi được đặt ra là liệu IPTV có thể tái tạo chất
      lượng và tính tức thời của đường truyền cáp truyền thống hay không?


      Một ưu điểm nữa là IPTV có thể
      yêu cầu dải tần hẹp hơn các hệ thống cáp hiện hành, chạy qua mỗi kênh bằng một
      đường chuyền liên tục đến hộp thu tín hiệu của người xem. Người này sẽ chọn một
      kênh tuỳ ý để xem bằng một chiếc điều khiển từ xa và hộp thu tín hiệu. Với IPTV,
      các kênh theo yêu cầu sẽ được truyền đến từng nhà. Trên lý thuyết, điều này cho
      phép công ty bán chương trình thông qua một hệ thống IPTV lựa chọn kênh vô
      hạn.


      Không giống Verizon, SBC chỉ thay
      thế các đường dây bọc đồng quan trọng bằng sợi cáp trên hệ thống điện thoại nội
      địa ở phía Tây, Tây Nam và California. Do dây bọc đồng cung cấp dải tần hẹp hơn
      sợi cáp nên SBC sẽ trông cậy vào IPTV để phục vụ các gia đình có nhiều ti vi mở
      cùng lúc.


      Theo ước tính của SBC, nền tảng
      của Microsoft sẽ cho phép một gia đình nhận ba tín hiệu truyền hình chuẩn, một
      kênh sắc nét và truy cập Internet tốc độ cao cùng một lúc


      Công ty này cung cấp dịch vụ điện
      thoại nội địa trên hầu hết vùng Đông Bắc và Trung Đại Tây Dương. SBC dự định sẽ
      cung cấp dịch vụ truyền hình sử dụng đường truyền cáp truyền thống cho tất cả
      các kênh cùng lúc. Bằng cách đó, hãng sẽ giảm thiểu được các vấn đề về chất
      lượng như sự chậm trễ tiềm năng khi thay đổi các kênh. Trong trường hợp đó, lợi
      ích chính của IPTV là khả năng phân phối dịch vụ tương tác như xem một sự kiện
      từ nhiều nơi, tìm kiếm web có liên quan đến chương trình truyền hình, nhận ID
      người gọi tức thời trên ti vi và lập trình máy ghi video từ điện thoại di
      động.


      Phương Thuý (Theo
      Newsweek)


      [table]



      [h1]Viễn thông Việt Nam vươn ra thị trường quốc
      tế[/h1]
      [/table]
      [table]


      Thứ ba, 05 Tháng chín 2006, 15:13 GMT+7
      [/table][table]





      Khách hàng tìm hiểu các sản phẩm dịch
      vụ của VNPT tại 1 triển lãm ngành.
      [/table]


      Các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam
      bắt đầu cung cấp dịch vụ ở Campuchia, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông, Canada và
      cả Mỹ.






      Tổng Công ty Viễn thông Quân đội
      (Viettel) vừa được Bộ Kế hoạch - Đầu tư cấp phép đầu tư sang Campuchia, cung cấp
      dịch vụ VoIP, trở thành doanh nghiệp viễn thông đầu tiên của VN đầu tư cung cấp
      dịch vụ ra nước ngoài.


      Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Phó Tổng Giám đốc
      Viettel, cho biết là mạng ĐTDĐ non trẻ nhưng đã có trong tay hơn 4 triệu thuê
      bao trong thời gian ra đời chưa tròn 2 năm, Viettel đã nổi lên thành một thương
      hiệu quen thuộc đối với người tiêu dùng trong nước bởi giá cước rẻ, luôn đưa ra
      những tiện ích mới cho người sử dụng.
      [table]



      Ông Christian Reinaudo, Chủ tịch
      Alcatel khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhận xét: Chính phủ VN đã xác định
      lĩnh vực viễn thông là một trong những ưu tiên của hiện đại hóa đất
      nước.



      Theo đánh giá của Liên minh Viễn
      thông Quốc tế (ITU), với tốc độ tăng trưởng 70% trong những năm vừa qua, thị
      trường viễn thông của VN đứng thứ 2 thế giới về tăng
      trưởng.


      [/table]Từ thành công này, Viettel “xông” ra nước ngoài mà mở đầu là đất nước
      láng giềng Campuchia với nguồn vốn đầu tư cho giấy phép cung cấp dịch vụ là 1
      triệu USD.


      Nhiều ý kiến băn khoăn: Hiện thị trường
      trong nước Viettel còn chưa khai thác hết, nhiều DN nước ngoài còn đổ xô vào VN,
      việc gì phải đầu tư ra nước ngoài? Lý giải vấn đề này, ông Hùng lạc quan cho
      rằng: Đầu tư ra nước ngoài sẽ đồng thời khai thác thị trường trong nước tốt hơn,
      nếu không nắm lấy thì sẽ mất cơ hội.


      Mặt khác, một trong những chiến lược phát
      triển lâu dài của Viettel chính là theo hướng đa ngành nghề. Khi đầu tư ra nước
      ngoài sẽ tạo được những liên minh, với mức cước đặc biệt rẻ sẽ tạo ra thế cạnh
      tranh trong thị trường viễn thông khu vực.


      Là một đối tác làm ăn với các hãng viễn
      thông lớn của Mỹ như: Motorola, AT&T, US Spring... Tập đoàn Bưu chính Viễn
      thông VN (VNPT ) đã được Chính phủ chấp thuận cho phép được mở chi nhánh đầu tư
      một số lĩnh vực dịch vụ viễn thông tại Mỹ
      .


      Trước đó, vào tháng 5/2005, VNPT đã được
      Mỹ chính thức chứng nhận nhãn hiệu “VNPT và hình”, việc đăng ký nhãn hiệu tại Mỹ
      đã duy trì được hình ảnh và thương hiệu của VNPT là bước đi mở màn cho việc đầu
      tư ra nước ngoài của VNPT.



      Việc VNPT chọn thị trường Mỹ để đầu tư
      viễn thông vì đây được đánh giá là có quy mô lớn nhất thế giới về buôn bán viễn
      thông, với hệ thống hạ tầng hiện đại có thể kết nối được trên toàn cầu nên tất
      cả các cuộc gọi đi các nước bắt đầu từ Mỹ đều có giá cước rẻ hơn, vì vậy thị
      trường viễn thông ở đây thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.



      Sự có mặt của VNPT ở Mỹ trước tiên đã có
      1,3 triệu khách hàng tiềm năng là cộng đồng Việt kiều đăng ký mua dịch vụ bán lẻ
      như thẻ trả trước, chuyển tiền nhanh... Đây chính là bước khởi đầu thuận lợi cho
      VNPT.



      Ông Nguyễn Bá Thước, Phó Tổng Giám đốc
      VNPT, cho biết: Hiện VNPT đang gấp rút hoàn tất những công đoạn cuối cùng để
      hoàn thành mục tiêu đặt văn phòng đại diện tại Mỹ vào cuối năm nay.



      Ngày 17/8 vừa qua, Công ty Điện toán và
      Truyền số liệu VDC (một công ty con của VNPT) cũng vừa mở 2 đường truyền
      Internet quốc tế tốc độ 155 Mbps từ VN đi Mỹ. Đây là kết quả của việc đàm phán
      và ký kết giữa VDC với Verizon - nhà cung cấp dịch vụ kết nối Internet hàng đầu
      tại Mỹ - trong thời gian qua.


      Việc mở 2 đường truyền này đã đáp ứng nhu
      cầu sử dụng Internet đang tăng cao của khách hàng, đồng thời qua đó chất lượng
      dịch vụ này cũng được nâng cao hơn.


      Trước đó, từ đầu năm, VNPT đã chuyển
      hướng đưa dịch vụ thẻ trả trước gọi 1717 được sử dụng công nghệ VoIP có chức
      năng roaming quốc tế có mặt tại thị trường Mỹ, Canada, Hồng Kông, Singapore, Đài
      Loan. Dịch vụ này được khách hàng biết đến như là một dịch vụ tiện ích với nhiều
      tính năng vượt trội.

      Theo Ngọc
      Mai
      Báo Người lao động


    11. #171
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .

      [table]



      [h1]Xây dựng chính phủ điện tử: Cốt lõi là cải cách hành
      chính[/h1]
      [/table]
      [table]


      Thứ năm, 08 Tháng mười một 2007, 08:57 GMT+7
      [/table][table]



      [table]



      [table]







      [/table]
      [/table]
      Xây dựng chính phủ điện tử là
      một đề tài phức tạp và còn nhiều ý kiến khác nhau. Bài viết này điểm lại một số
      ý kiến nổi bật trong diễn đàn “Hướng tới chính phủ điện tử” của các chuyên gia
      trong lĩnh vực này.


      Thông tin là chủ
      thể


      “Công nghệ chỉ là công cụ. Chủ thể là thông tin chứ không
      phải công nghệ” - TS Nguyễn Chí Công (tổ trưởng tổ chuyên môn BĐH ĐA 112) nhiều
      lần nhấn mạnh như vậy trong một buổi trò chuyện (với tư cách cá nhân) với các
      phóng viên hồi tháng 5/2007. Quan niệm như thế, nên TS Nguyễn Chí Công không
      đồng ý với tư tưởng phần mềm dùng chung (PMDC). Theo ông, “không có PMDC mà chỉ
      có dữ liệu dùng chung”. PM thế nào không cần biết, miễn là “khi dữ liệu của
      ngành A chuyển sang cho ngành B thì máy tính của ngành B vẫn đọc
      được”.

      TS Nguyễn Quang A cũng cho rằng “Việc dùng công nghệ nào, thiết bị
      nào, máy nào không phải vấn đề quan trọng”. Quan trọng là tính nhất quán của dữ
      liệu phải được bảo đảm, và “các hệ thống con phải giao tiếp được với nhau”,
      tránh tạo ra “64 vương quốc con”. Còn theo TS Nguyễn Ái Việt, phó chánh văn
      phòng Ban Chỉ Đạo Quốc Gia về CNTT, những yếu tố như kiến trúc CNTT, các ứng
      dụng, dịch vụ công... đều “phải xoay quanh việc tạo ra thông tin, chứ không phải
      là vấn đề kỹ thuật”.

      Tuy nhiên, muốn thông tin trao đổi được với nhau,
      phải có những điều kiện kỹ thuật, công nghệ nhất định. Ông Nguyễn Ái Việt nhấn
      mạnh việc xây dựng kiến trúc, hạ tầng, cơ sở dữ liệu quốc gia, nguồn lực...,
      trong đó “kiến trúc CNTT quốc gia đặc biệt quan trọng”. TS Mai Anh, nguyên ủy
      viên ủy ban Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường của Quốc Hội lại chú ý tới việc xây
      dựng các chuẩn thông tin trong giao dịch điện tử, định mức chi tiêu cho các dự
      án CNTT, hệ thống CSDL liên ngành đồng bộ “để người dân có thể đi một cửa thực
      sự”, và các hệ thống thông tin nghiệp vụ quốc gia phục vụ hoạt động điều
      hành.

      Đó là những điều kiện cần. Cốt lõi nhất của dự án CPĐT, theo tiến
      sĩ Nguyễn Quang A, “vẫn là cải cách hành chính” (CCHC).

      Ai là
      người đứng đầu?

      Quan điểm của TS Nguyễn Quang A được nhiều người
      đồng tình. Nhưng vấn đề cần trả lời rõ là: Ai là người đứng đầu làm cái điều cốt
      lõi đó? CNTT không phải yếu tố quyết định trong CCHC. Ngành CNTT không thể đơn
      phương cải cách hệ thống HC. Thực ra CNTT cũng có tác động tới HC, nhưng chỉ tạo
      ra những thay đổi ở một mức độ nhất định. Nếu không có sự tương tác chủ động và
      tích cực từ phía HC, quá trình tin học hóa sẽ rất tốn thời gian và lãng phí, như
      chúng ta đã chứng kiến. Nếu một đề án (ĐA) tin học hóa bị chặn lại trước bức
      tường HC bảo thủ, các hiện tượng tiêu cực sẽ có dịp phát tác; những người làm
      CNTT nghiêm túc dễ sinh tâm lý chán nản, phải đối phó với sức ép dư luận và ngại
      gánh vác vai trò đầu tàu chỉ đạo hoặc triển khai.

      Trở lại với câu hỏi “Ai
      là người đứng đầu một chương trình CPĐT”, TS Nguyễn Quang A trả lời: chỉ có thể
      là người đứng đầu hệ thống HC, tức Thủ Tướng. TS Quang A cho biết: “Tôi đã
      nghiên cứu các ĐA CNTT từ nhiều năm nay, ĐA nào người đứng đầu không phải là
      người chủ trì đều thất bại”. Có lẽ cần nói rõ hơn: Một chương trình CPĐT không
      phải là một chương trình về CNTT mà là một chương trình CCHC sử dụng CNTT làm
      công cụ. Nhìn theo hướng này, sẽ thấy rõ vai trò của người đứng đầu hệ thống HC
      rất quan trọng; việc thiết kế, thực hiện các ĐA, dự án CNTT một cách đơn phương
      rõ ràng là sai lầm. Theo TS Nguyễn Chí Công, kể cả cách gọi “đề án CNTT” cũng
      không nên dùng nữa, vì mục đích của ĐA là CCHC chứ không phải
      CNTT.

      Cải cách như thế nào?

      TS Nguyễn Chí Công
      khẳng định: “Muốn tin học hóa HC phải có mô hình”, trong đó định nghĩa tương
      quan giữa các cơ quan, công dân, doanh nghiệp (rồi mới xây dựng PM, hệ thống
      thông tin). TS Công giới thiệu mô hình “one stop” của phương Tây (có lẽ gần
      giống với cơ chế “một cửa liên thông” trong quyết định 93/2007/QĐ-TTg của Thủ
      Tướng Chính Phủ). Theo đó, người dân chỉ việc đến một nơi để đưa yêu cầu, sau đó
      giải quyết như thế nào là việc của các cơ quan công quyền, dù yêu cầu của người
      dân có thể liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau. Nói cách khác, nội bộ các cơ
      quan phải thông suốt với nhau, phải thỏa thuận được luồng công việc (work flow),
      định nghĩa được quy trình và thời hạn giải quyết.

      Để làm được điều này,
      có lẽ hệ thống HC phải chấp nhận bớt đi một số nét đặc thù và phải mạnh dạn tước
      bỏ đặc quyền không chính đáng của nhiều cán bộ, công chức. Nếu không CCHC mạnh
      mẽ, sẽ không có CPĐT.

      Điểm tựa

      Theo TS Nguyễn
      Thành Phúc, phó viện trưởng viện Chiến Lược BCVT và CNTT, chương trình ứng dụng
      CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2007-2010 do bộ Thông Tin và
      Truyền Thông soạn thảo đã quy định người đứng đầu các cơ quan (vốn trực tiếp
      chịu trách nhiệm về CCHC) phải chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo ứng dụng CNTT.
      Với quy định này, việc gắn kết giữa CCHC và CNTT sẽ đồng bộ hơn. Theo ông Phúc
      “Nếu người đứng đầu thực sự trách nhiệm, chủ động thì những khó khăn “muôn thuở”
      như thiếu vốn, không đồng bộ với cải cách hành chính (CCHC)... sẽ được giải
      quyết và cả lực lượng chuyên về CNTT cũng sẽ được tăng cường”.

      Đây là một
      hướng tư duy mới. Tuy nhiên, trách nhiệm cụ thể của những người đứng đầu các cơ
      quan như thế nào, nếu ứng dụng CNTT yếu kém sẽ bị xử lý ra sao... hình như chưa
      thật rõ ràng. Sự tự giác không phải là một điểm tựa chắc chắn. Nó khác nhau giữa
      người này người khác, nơi này nơi khác, lúc này lúc khác. Vì thế, cần làm rõ
      thêm những yếu tố ràng buộc trách nhiệm chính trị và trách nhiệm pháp lý đối với
      những người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, trong việc ứng dụng CNTT tại cơ quan,
      tổ chức đó.


      (Theo
      PCWVN)



      [/table][table]



      [h1]Công nghệ viễn thông và thông tin hướng tới thực
      tiễn[/h1]
      [/table]
      [table]


      Thứ ba, 08 Tháng tám 2006, 10:06 GMT+7
      [/table][table]



      [table]



      [table]







      [/table]
      [/table]
      Triển lãm CNTT và viễn thông ICT Expo
      2006 diễn ra tại Băng-cốc từ ngày 2 đến 6-8, cho thấy Thái-lan đang dần khẳng
      định mục tiêu phát triển CNTT và viễn thông phục vụ cuộc sống đồng thời tăng khả
      năng cạnh tranh trong khu vực.


      Cuộc cạnh tranh của những sản
      phẩm CNTT thiết thực



      ICT Expo 2006 là Triển lãm CNTT và viễn
      thông lớn nhất từ trước tới nay tổ chức tại Thái-lan. Với chủ đề “Kết nối CNTT
      châu Á: Hợp tác toàn cầu trong thương mại, đầu tư và phát triển CNTT”, ICT Expo
      2006 dành mặt bằng 60 nghìn mét vuông để giới thiệu thành tựu CNTT và viễn thông
      tiên tiến của hơn 300 công ty hàng đầu đến từ 22 nước và vùng lãnh thổ như
      Thái-lan, Singapore, Việt Nam, Malaysia, Pakistan, Ấn Độ, Bangladesh, New
      Zealand, Hàn Quốc, Hồng Công, Myanmar, Israel, Anh, Nhật Bản, Đài Loan, Pháp,
      Trung Quốc, Indonesia, Sri Lanka, Australia, Phần Lan, Mỹ.

      Được sự bảo trợ của Bộ Công nghệ viễn thông và thông tin,
      Triển lãm lần này giới thiệu những phát triển mới nhất trong CNTT và nhằm giúp
      người tham dự, các chuyên gia và công chúng hiểu về các khuynh hướng và sự đổi
      mới của thị trường, tuy nhiên mục tiêu đặt ra là làm sao đưa CNTT và viễn thông
      từ vị trí những sản phẩm và dịch vụ xa xỉ gần gũi hơn nữa với cuộc sống thường
      ngày của người dân.

      Triển lãm tập trung
      giới thiệu tới công chúng ba khu vực sản phẩm và dịch vụ lớn gồm: giới thiệu các
      sáng kiến CNTT và các chương trình của các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp nhà
      nước, các sản phẩm và dịch vụ kinh doanh kỹ thuật số và cuộc sống kỹ thuật số,
      các sản phẩm tiện ích và giải trí.

      Sáng
      kiến CNTT và các chương trình của các cơ quan chính phủ và doanh nghiệp nhà nước
      tập trung làm rõ bốn hướng phát triển lớn của CNTT Thái-lan là xây dựng chính
      phủ điện tử, giáo dục điện tử, thương mại điện tử và xã hội điện
      tử.

      Mảng sản phẩm liên quan chính phủ điện
      tử giới thiệu hệ thống cho phép mọi thông tin và dịch vụ đăng ký liên quan các
      cơ quan Chính phủ đều có thể thực hiện thông qua một cuộc điện thoại duy nhất
      tới số 1111 của công ty viễn thông hàng đầu Thái-lan TOT, hoặc có thể đăng ký
      xuất nhập cảnh tự động theo chương trình dịch vụ một cửa điện
      tử…

      Gian hàng giáo dục điện tử giới thiệu
      dự án IPTV của công ty SAD-ED liên kết với các công ty viễn thông, các trường
      đại học giúp người dân ở các vùng xa xôi, nơi không có điện thoại cố định cũng
      như di động có thể truy cập internet, xem các chương trình truyền hình theo yêu
      cầu, tham gia chương trình giáo dục từ xa nhờ sử dụng hệ thống thông tin vệ tinh
      băng rộng iPStar.

      Khu vực xã hội điện tử
      lại giới thiệu dự án không gian CNTT, sáng kiến cộng đồng thông tin, giới thiệu
      hệ thống giao thức internet, công nghệ điện thoại thế hệ ba (3G), giới thiệu máy
      dịch vụ gửi bưu phẩm tự động của Bưu điện Thái-lan. Máy này cho phép người sử
      dụng dùng thẻ từ hoặc tiền xu để gửi đi một bưu phẩm với thời gian thao tác từ
      30 giây đến một phút.


      Lĩnh vực cuộc sống số và kinh doanh kỹ
      thuật số là cuộc so tài giữa một loạt công ty về công nghệ viễn thông. Hãng Dịch
      vụ thông tin cấp cao (AIS) giới thiệu thiết kế mới nhất của công nghệ không dây
      3G có thể tiến hành các cuộc gọi điện thoại video, tiến hành các cuộc hội thảo
      qua điện thoại cũng như điện thoại di động truyền hình kỹ thuật
      số.

      Trong khi đó công ty viễn thông TOT
      giới thiệu dịch vụ internet không dây tốc độ cao cho phép khách hàng truyền
      thông tin qua điện thoại di động 3G với tốc độ từ 1,8 đến 3,1
      mb/s.

      Trong vòng vài năm qua, Tập đoàn
      True từ một công ty về điện thoại đã nhanh chóng phát triển và cung cấp một loạt
      dịch vụ viễn thông từ điện thoại cố định tới điện thoại di động, truyền hình
      cáp, internet băng thông rộng, dịch vụ thanh toán điện tử, tiền tệ kỹ thuật số
      thông qua các đơn vị tiền tệ của True. Ông Supachai, Tổng giám đốc True, tin
      tưởng tổng thu nhập của tập đoàn này sẽ tăng từ 41 tỷ baht năm 2005 lên 60 tỷ
      baht năm 2006 nhờ việc hợp nhất hoàn toàn với Hãng truyền hình cáp
      UBC.

      Với khẩu hiệu “Cuộc sống hiện đại
      thiết thực”, tại ICT Expo lần này, công ty viễn thông hàng đầu Thái-lan là Dtac
      giới thiệu sáu loại hình dịch vụ áp dụng cho điện thoai di động gồm: Máy giao
      dịch tiền tệ tự động (ATM) di động, cổng âm nhạc, My Space (tạo album ảnh cá
      nhân qua trang Web và WAP qua điện thoại), dịch vụ tin nhắn thông minh, gửi thư
      điện tử Dtac và mạng riêng ảo (VPN) di động.

      Dtac đặc biệt nhấn mạnh giới thiệu tại triển lãm sản phẩm chính, theo đó
      khách hàng sẽ sử dụng điện thoai di động và bộ sim công nghệ mới để thay thế cho
      máy giao dịch tiền tệ tự động (ATM) thường đặt tại ngân hàng hoặc các siêu thị.
      Sử dụng dịch vụ và sản phẩm này, khách hàng có thể thanh toán các hoá đơn cũng
      như nhận tiền vào tài khoản của mình qua điện thoại di động.

      Ở lĩnh vực các sản phẩm tiện ích và giải trí cũng có những
      bước phát triển mạnh. Nokia giới thiệu máy điện thoại công nghệ cao, như điện
      thoại di động Nokia N93, N5500, E61 cho chất lượng âm thanh tốt và hình ảnh
      tương tự chất lượng đĩa DVD với nhiều tính năng phục vụ cuộc sống và hoạt động
      kinh doanh của người sử dụng.

      Tại triển
      lãm, người xem cũng được tận mắt chứng kiến những sản phẩm mới nhất như máy tính
      xách tay, máy tính cá nhân, máy ảnh, máy in, thẻ nhớ dung lượng cao của các hãng
      Sony, IBM, HP, Canon.

      Thay vì giới thiệu
      nhiều bộ phim ba chiều và bốn chiều như cuộc triển lãm năm ngoái, Cơ quan xúc
      tiến công nghiệp phần mềm (SIPA) năm nay tổ chức cuộc thi sáng tạo hình ảnh
      chuyển động đa phương tiện. Người tham gia trực tiếp tham gia xây dựng nhân vật
      bằng cách gắn các bộ phận cảm ứng và có thể tạo ra những hình ảnh ba chiều trên
      màn hình lớn để xây dựng các trò chơi và phim hoạt hình.

      Công ty Microsoft đưa ra giới thiệu hai chương trình máy tính
      mới nhất của mình là Window Vista và Microsoft Office 2007 với tính năng bảo mật
      cao, khả năng tìm kiếm hoàn hảo, đặc biệt chú trọng tính năng đồ hoạ. Microsoft
      dự định chính thức đưa hai chương trình ra mắt chính thức vào đầu năm
      2007.

      Có mặt tại triển lãm lần này, Quân
      đội hoàng gia Thái-lan cũng giới thiệu công nghệ mới trong đó đáng chú ý là hệ
      thống phát điện mặt trờ xách tay. Chỉ nặng 3,5 kg, mỗi ngày, hệ thống này có thể
      tạo ra 270 watt/giờ. Cơ quan cảng hàng không Thái-lan (AAT) thì giới thiệu những
      công nghệ mới được áp dụng tại sân bay mới Suvanarbhumi.

      Triển lãm ICT Expo 2006 cũng mở ra diễn đàn CNTT nhằm tạo
      điều kiện cho các chuyên gia và các nhà hoạt động trong lĩnh vực thông tin viễn
      thông thảo luận tìm phương hướng quản lý và điều hành hữu hiệu tin tức và thông
      tin, tổ chức các cuộc hội thảo quốc tế các doanh nghiệp CNTT vừa và nhỏ nhằm tạo
      cơ hội cho các nhà sản xuất và doanh nghiệp CNTT hợp tác, ký kết hợp đồng, tạo
      điều kiện cho các doanh nghiệp các nước thuộc ASEAN tăng cường hợp tác trong
      lĩnh vực CNTT và viễn thông.

      Những
      bước chiến lược của Thái-lan

      Mặc
      dù trong khối ASEAN, Singapore vẫn được xem là nước đi đầu trong lĩnh vực CNTT,
      tuy nhiên Thái-lan không hề giấu ý định tăng cường khả năng cạnh tranh với các
      đối thủ mạnh trong khu vực để trở thành trung tâm CNTT khu vực trong một vài năm
      tới.

      Quyền Phó Thủ tướng Thái-lan, Bộ
      trưởng Công nghệ viễn thông và thông tin Suchai Charoenratanakuk cho rằng,
      Thái-lan là ngôi sao đang lên trong lĩnh vực thông tin và công nghệ viễn thông.
      Chính phủ đã dự thảo kế hoạch bốn điểm nhằm xác lập Thái-lan trở thành một trung
      tâm CNTT khu vực bằng việc tăng cường các lĩnh vực như nguồn nhân lực, phát
      triển phần mềm, củng cố cơ sở hạ tầng CNTT và viễn thông và các thiết bị ứng
      dụng CNTT.

      Theo ông Suchai
      Charoenratanakuk, số dân sử dụng CNTT, cơ hội kinh doanh và phát triển CNTT và
      tiềm năng phát triển ngành công nghiệp phần mềm là các yếu tố giúp Thái-lan có
      thể trở thành một trung tâm CNTT mới ở ASEAN cũng như ở châu Á trong những năm
      tới.

      Các bộ luật liên quan thương mại điện
      tử và giao dịch điện tử sẽ được cập nhật theo đó sẽ khuyến khích những khoản đầu
      tư mới vào CNTT. Về vấn đề nhân lực, ông Suchai cho rằng Chính phủ sẽ hướng đến
      tăng nhân lực cho ngành công nghiệp thông tin, cải thiện trình độ và kỹ năng của
      nhân công nhằm đáp ứng các nhu cầu trong nước và quốc tế.

      Ngành công nghiệp phần mềm cũng đang được chào hàng nhằm trở
      thành một nền công nghiệp định hướng xuất khẩu trong tương lai với quy mô mỗi
      năm tăng gấp đôi trong vòng một vài năm tới.

      Cơ sở hạ tầng thông tin và viễn thông sẽ được nâng cấp nhằm thu hẹp
      khoảng cách thời đại kỹ thuật số và cải thiện khả năng tiếp cận của công chúng
      đối với internet và CNTT.

      Theo thống kê
      của Chính phủ Thái-lan, hiện nay, ở nước này, cứ 100 gia đình thì chỉ khoảng 12
      gia đình có máy tính cá nhân. Ông Suchai cho biết một số nước trên thế giới đã
      đặt mục tiêu cứ 100 gia đình thì 90 gia đình có máy tính cá nhân, Thái-lan không
      đặt ra mục tiêu như trên tuy nhiên sẽ nỗ lực tăng số người tiếp cận máy tính cá
      nhân càng nhiều càng tốt.

      Ông cho biết,
      Thái-lan đầu tư lớn vào các giải pháp CNTT đối với hệ thống giáo dục. Chương
      trình Mạng các trường học Thái-lan đã kết nối 3.000 ngôi trường với internet và
      đang được mở rộng nhanh chóng ra nhiều ngôi trường khác, đặc biệt ở vùng nông
      thôn.

      Chính phủ cũng bảo trợ một sáng kiến
      hỗ trợ 250 nghìn máy tính xách tay giá rẻ cho sinh viên trên toàn quốc theo sáng
      kiến “Mỗi thanh niên một máy tính xách tay”. Bộ Công nghệ viễn thông và thông
      tin đang khởi xướng một chương trình nhằm tăng hiệu quả công nghệ thông tin để
      cải thiện việc tiếp cận của công chúng đối với các dịch vụ của Chính
      phủ.

      Thái-lan, cũng như Philippines và
      Malaysia, là một ngôi sao mới trong khu vực trong lĩnh vực CNTT, tuy nhiên theo
      ông Suchai, nước này không chỉ thoả mãn với chiến lược phát triển, Chính phủ sẽ
      thúc đẩy mạnh mẽ nhằm củng cố vị trí cạnh tranh của mình ở châu
      Á.

      Hiện ở châu Á, Trung Quốc đứng đầu
      trong lĩnh vực sản xuất phần cứng, Ấn Độ phát triển phần mềm và Singapore trong
      lĩnh vực chính phủ điện tử và khả năng tiếp cận CNTT của người dân. Với Thái-lan
      nguồn nhân lực vẫn là vấn đề câu thúc chính trong ngành CNTT, đặc biệt về số
      lượng và chất lượng.

      Các công ty của nhà
      nước như Cơ quan xúc tiến công nghiệp phần mềm (Sipa), Trung tâm công nghệ máy
      tính và điện tử quốc gia (Nectec) đang đứng đầu trong việc thực hiện các chính
      sách nhằm tăng cường nguồn nhân lực đất nước. Các cơ quan khác cũng đưa ra những
      sáng kiến nhằm sửa đổi các điều luật liên quan CNTT, cải tiến các chính sách
      khuyến khích nhằm thu hút đầu tư mới.

      ICT
      Expo 2006 là sự kiện lớn trong lĩnh vực CNTT và viễn thông của khu vực trong năm
      nay. Đây là một bước đi của Thái-lan nhằm triển khai hướng phát triển để trở
      thành trung tâm CNTT ở khu vực. So với những năm trước, chi phí tổ chức triển
      lãm năm nay không cao nhưng số lượng các công ty và lượng khách tham dự đang
      ngày một tăng đang chứng tỏ định hướng đúng của Thái-lan trong việc đầu tư phát
      triển CNTT và viễn thông.


      (Theo ND)


      [/table]

    12. #172
      Ngày tham gia
      Jul 2008
      Bài viết
      895
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .

      Khà khà, hôm nay mới để ý đến PTC đầy tiềm năng lại gặp người quen thì phải !


    13. #173
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .



      [quote user="mountain_man"]

      Khà khà, hôm nay mới để ý đến PTC đầy tiềm năng lại gặp người quen thì phải !

      [/quote] Có phải kụ là người mà cuối năm trước cùng mua PTC với tôi không nhỉ ?


      Sau đó tôi đổi sang LTC, bỏ PTC & đứng nhìn PTC xuống dốc không phanh.

      Lúc đó giá mua bán ~ 14,000-16,000đ/cp nhỉ.Tương đương 1 tô phở bình dân.

      Hơn nửa năm mà giá em nó vẫn chưa về ngày xưa, mà lại thấp hơn ~ 30%. Thật tệ kụ àh [H]

      Thằng nầy vẫn chưa qua thời kỳ suy giảm so với VN kụ nhỉ [:chongmat] Cứ như nó sinh ra ở trung tâm suy thoái ấy [:P]

    14. #174
      Ngày tham gia
      Mar 2007
      Bài viết
      99
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .



      Phiên 3 sao lượng bán ATC nhiều thế? sao ko bán dưới tham chiếu ngay từ phiên đầu đi mà để đến cuối phiên bán sàn? Các bác có thấy hình như em nó đang bị đánh xuống ko?

      [quote user="Handsome 4T."]

      [quote user="mountain_man"]

      Khà khà, hôm nay mới để ý đến PTC đầy tiềm năng lại gặp người quen thì phải !

      [/quote] Có phải kụ là người mà cuối năm trước cùng mua PTC với tôi không nhỉ ?


      Sau đó tôi đổi sang LTC, bỏ PTC & đứng nhìn PTC xuống dốc không phanh.

      Lúc đó giá mua bán ~ 14,000-16,000đ/cp nhỉ.Tương đương 1 tô phở bình dân.

      Hơn nửa năm mà giá em nó vẫn chưa về ngày xưa, mà lại thấp hơn ~ 30%. Thật tệ kụ àh

      [b]Thằng nầy vẫn chưa qua thời kỳ suy giảm so với VN kụ nhỉ [img]http://forum.vietstock.com.vn/emoticons/emotion-102.gif" alt="feel dizzy"> Cứ như nó sinh ra ở trung tâm suy thoái ấy

    15. #175
      Ngày tham gia
      Apr 2009
      Bài viết
      481
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định Re: * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .

      Thời điểm cho các cơ hội đầu tư cổ phiếu dưới book value


      [table]






      [/table]
      Bản báo cáo với chủ đề “Triển vọng ngành” của Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) vừa công bố tập trung phân tích 15 ngành cơ bản gồm ngân hàng, than, dược, bảo hiểm, thép, vật liệu cơ bản…
      Báo cáo cung cấp một bức tranh đầy đủ và sinh động về đặc trưng ngành và các DN nổi bật thuộc mỗi ngành đang tham gia TTCK Việt Nam. Mặc dù nhiều công ty được giới thiệu trong bản báo cáo sẽ đạt hoặc vượt kế hoạch lợi nhuận trong năm nay, nhưng SSI cho rằng, con đường phục hồi của giá cổ phiếu cũng như TTCK sẽ không hoàn toàn bằng phẳng. Theo SSI, thị trường trong thời gian qua đã đi xa so với các yếu tố cơ bản và do vậy sẽ có những đợt điều chỉnh trong thời gian tới.

      Theo bản báo cáo, TTCK Việt Nam đã tăng trưởng 60% trong quý II/2009, trở thành thị trường có mức tăng trưởng cao nhất châu Á và đứng thứ hai trên thế giới trong 89 thị trường tiêu biểu theo số liệu của Bloomberg, chỉ số VN-Index chỉ đứng sau chỉ số PFTS của Ucraina đã tăng 78% trong cùng kỳ. Trong nửa đầu năm 2009, VN-Index tăng 43%, xếp thứ 9 trong số các thị trường tăng mạnh nhất thế giới. Lượng vốn huy động trên thị trường trong thời gian này đạt trên 5,3 nghìn tỷ đồng, gần bằng 20% so với lượng vốn huy động của năm 2008 (khoảng 29 nghìn tỷ đồng). Sự phục hồi của thị trường không chỉ được hỗ trợ bởi niềm tin của nhà đầu tư, mà còn được hỗ trợ bởi việc cải thiện của nền kinh tế.

      Tuy nhiên, dựa trên những ước tính về lợi nhuận và triển vọng tăng trưởng kinh tế, SSI cho rằng, thị trường sẽ khó có thể tăng mạnh như nửa đầu năm 2009 và trong ngắn hạn có thể có nhiều đợt điều chỉnh. Một vài yếu tố nếu diễn biến theo chiều hướng xấu sẽ ảnh hưởng đến TTCK, như lạm phát cao, tỷ lệ nợ xấu tăng hay đồng Việt Nam yếu hơn… Mặc dù vậy, bản báo cáo vẫn thể hiện sự tin tưởng vào triển vọng dài hạn của tăng trưởng kinh tế và nhìn nhận hiện nay là giai đoạn điều chỉnh tích lũy của TTCK. Đây là thời điểm tốt để tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các công ty đang giao dịch dưới giá trị sổ sách (book value).





      Theo Đầu tư Chứng khoán điện t
      --------------------------------------------------------------------


      Những cp rẻ nhất : TST : Giá 14,1/ BV22,3.................CAD giá 11,4 / BV 22,9.................PTC giá 11,5 / BV24,7..................BBT giá 6,3 / BV 7,01 ..................HTP

    16. #176
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .



      Sao kụ không dán cho topic ALT dùm luôn []

    17. #177
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .



      [table]

      [h1]Xác định lại hướng phát
      triển ngành CNTT[/h1]


      Thu
      Hiền


      ThứBa,7/7/2009,21:56(GMT+7)
      [/table]

      [table]


      [img]/Uploads/Articles/20846/dfc09_img-0158_200.jpg[/img]


      Đại diện của ban tổ chức Việt Nam Computer World tại
      buổi họp báo hôm 7-7. Ảnh: Thu Hiền
      [/table](TBKTSG Online) -
      Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, công nghệ thông tin là ngành có mức
      ảnh hưởngthấp nhất so với các ngành khác. Thậm chí, gia công phần mềm
      (outsourcing) vẫn có cơ hội phát triển và tăng trưởng. Tuy nhiên, Việt Nam cần
      xác định lại hướng phát triển cho công nghiệp này trong thời gian tới.


      Đó là thông tin tại cuộc họp báo công bố sự kiện Toàn cảnh công nghệ thông
      tin - truyền thông (CNTT –TT) Việt Nam và Triển lãm quốc tế CNTT- TT Việt Nam
      tại TPHCM hôm 7-7. Đây là sự kiện hàng năm do tập đoàn Dữ liệu Quốc tế IDG, Hội
      Tin học TPHCM và Vietcham Expo tổ chức từ 15 đến ngày 19-7 tại Trung tâm Hội chợ
      và Triển lãm Sài Gòn (quận 7, TPHCM).


      Ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hội Tin học TPHCM cho biết tại cuộc họp báo rằng:
      ngành CNTT có triển vọng phát triển trong thời gian tới, tuy nhiên Việt Nam cần
      xác định lại vai trò của CNTT và những đóng góp thực chất của ngành này đối với
      nền kinh tế.

















      window["aa_rrP1"] = new RadRotator('aa_rrP1',1);window["aa_rrP1"].AutoAdvance = 1;window["aa_rrP1"].FrameTimeout = 10000;window["aa_rrP1"].RotatorMode = 'Slideshow';window["aa_rrP1"].NumberOfFrames = 1;window["aa_rrP1"].PauseOnMouseOver = 1;window["aa_rrP1"].HasTickers = 0;window["aa_rrP1"].FrameIdArray = new Array('aa_rrP1_frame0');window["aa_rrP1"].UseRandomSlide = 0;window["aa_rrP1"].UseTransition = 1;window["aa_rrP1"].UseRandomEffect = 1;window["aa_rrP1"].TransitionStrings = new Array('progidXImageTransform.Microsoft.Barn( motion=out,orientation=vertical)','progidXImageTransform.Microsoft.Blinds( Bands=10,direction=up)','progidXImageTransform.Microsoft.Checkerboard( Direction=right,SquaresX=2,SquaresY=2)','progidXImageTransform.Microsoft.Fade(Overlap=1.00)','pro gidXImageTransform.Microsoft.GradientWipe(GradientSiz e=0.25,wipestyle=0,motion=forward)','progidXImageTransform.Microsoft.Inset()','progidXImageTransform.Microsoft.Iris(irisstyle=PLUS,moti on=out)','progidXImageTransform.Microsoft.Pixelate(MaxSquare=50)', 'progidXImageTransform.Microsoft.RadialWipe(wipestyle=CLO CK)','progidXImageTransform.Microsoft.RandomBars()','progidXImageTransform.Microsoft.RandomDissolve()','progi dXImageTransform.Microsoft.Slide(slidestyle=HIDE,Ba nds=1)','progidXImageTransform.Microsoft.Spiral(GridSizeX=16,Grid SizeY=16)','progidXImageTransform.Microsoft.Stretch(stretchstyle=SPI N)','progidXImageTransform.Microsoft.Strips(motion=leftdown)' ,'progidXImageTransform.Microsoft.Wheel(spokes=4)','progidXImageTransform.Microsoft.Zigzag(GridSizeX=16,Grid SizeY=16)');;window["aa_rrP1"].Start();




      “Việt Nam đã xác định CNTT là ngành mũi nhọn từ năm 2000. Tuy nhiên, những
      đóng góp của ngành trong phát triển kinh tế còn khá khiêm tốn. Ví dụ, gia công
      phần mềm (outsourcing) mới chỉ đóng góp 0,4% tổng GDP của cả nước và con số này
      còn nhỏ so với tiềm năng và cơ hội phát triển của ngành”, ông Dũng nói.




      Để định hướng cho ngành CNTT phát triển trong thời gian tới, các diễn giả đến
      từ chính phủ, các tổ chức nước ngoài và các công ty sẽ tập trung phân tích định
      vị lại ngành CNTT trong chiến lược phát triển nền kinh tế.


      Thêm vào đó, Hội Tin học Việt Nam, Hội Tin học TPHCM sẽ công bố các khảo sát
      về doanh nghiệp CNTT Việt Nam, các phân tích về hiện trạng công nghiệp phần
      mềm….


      Cùng với hội thảo toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam, Triển lãm Quốc tế CNTT-TT
      vàĐiện tửsẽcó300 doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia trưng bày các sản
      phẩm mới tại 400 gian hàng. Ban tổ chức dự kiến sẽ thu hút 240.000 lượt người
      tham gia.


      Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử lần thứ 7 cũng sẽ diễn ra trong ngày
      16-7 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn. Sự kiện này sẽ tập trung đề
      xuất các giải pháp gắn kết giữa ứng dụng CNTT và cải cách hành chính tại địa
      phương, an ninh cho chính phủ điện tử và ứng dụng phần mềm nguồn mở trong xây
      dựng chính phủ điện tử.


    18. #178
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .

      [table] [h1]Xác định lại hướng phát
      triển ngành CNTT[/h1]


      Thu
      Hiền


      ThứBa,7/7/2009,21:56(GMT+7)
      [/table][table]





      Đại diện của ban tổ chức Việt Nam Computer World tại
      buổi họp báo hôm 7-7. Ảnh: Thu Hiền
      [/table]



      (TBKTSG Online) -
      Trong bối cảnh suy thoái kinh tế toàn cầu, công nghệ thông tin là ngành có mức
      ảnh hưởngthấp nhất so với các ngành khác. Thậm chí, gia công phần mềm
      (outsourcing) vẫn có cơ hội phát triển và tăng trưởng. Tuy nhiên, Việt Nam cần
      xác định lại hướng phát triển cho công nghiệp này trong thời gian tới.


      Đó là thông tin tại cuộc họp báo công bố sự kiện Toàn cảnh công nghệ thông
      tin - truyền thông (CNTT –TT) Việt Nam và Triển lãm quốc tế CNTT- TT Việt Nam
      tại TPHCM hôm 7-7. Đây là sự kiện hàng năm do tập đoàn Dữ liệu Quốc tế IDG, Hội
      Tin học TPHCM và Vietcham Expo tổ chức từ 15 đến ngày 19-7 tại Trung tâm Hội chợ
      và Triển lãm Sài Gòn (quận 7, TPHCM).


      Ông Chu Tiến Dũng, Chủ tịch Hội Tin học TPHCM cho biết tại cuộc họp báo rằng:
      ngành CNTT có triển vọng phát triển trong thời gian tới, tuy nhiên Việt Nam cần
      xác định lại vai trò của CNTT và những đóng góp thực chất của ngành này đối với
      nền kinh tế.

      “Việt Nam đã xác định CNTT là ngành mũi nhọn từ năm 2000. Tuy nhiên, những
      đóng góp của ngành trong phát triển kinh tế còn khá khiêm tốn. Ví dụ, gia công
      phần mềm (outsourcing) mới chỉ đóng góp 0,4% tổng GDP của cả nước và con số này
      còn nhỏ so với tiềm năng và cơ hội phát triển của ngành”, ông Dũng nói.


      Để định hướng cho ngành CNTT phát triển trong thời gian tới, các diễn giả đến
      từ chính phủ, các tổ chức nước ngoài và các công ty sẽ tập trung phân tích định
      vị lại ngành CNTT trong chiến lược phát triển nền kinh tế.


      Thêm vào đó, Hội Tin học Việt Nam, Hội Tin học TPHCM sẽ công bố các khảo sát
      về doanh nghiệp CNTT Việt Nam, các phân tích về hiện trạng công nghiệp phần
      mềm….


      Cùng với hội thảo toàn cảnh CNTT-TT Việt Nam, Triển lãm Quốc tế CNTT-TT
      vàĐiện tửsẽcó300 doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia trưng bày các sản
      phẩm mới tại 400 gian hàng. Ban tổ chức dự kiến sẽ thu hút 240.000 lượt người
      tham gia.


      Hội thảo quốc gia về Chính phủ điện tử lần thứ 7 cũng sẽ diễn ra trong ngày
      16-7 tại Trung tâm Hội chợ và Triển lãm Sài Gòn. Sự kiện này sẽ tập trung đề
      xuất các giải pháp gắn kết giữa ứng dụng CNTT và cải cách hành chính tại địa
      phương, an ninh cho chính phủ điện tử và ứng dụng phần mềm nguồn mở trong xây
      dựng chính phủ điện tử.

    19. #179
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .

      [table]

      [h1]Những thách thức của băng
      thông rộng di động[/h1]


      Triệu
      Minh


      ChủNhật,12/7/2009,10:29(GMT+7)




      |


      [table]



      Những thách thức của băng thông rộng di động


      Triệu Minh





      [table]


      [img]/Uploads/Articles/20560/c2f1d_thi-truong_200.jpg" class="sgtoimageleft_popup" style="width: 200px; height: 151px;[/img]


      Các dịch vụ băng thông rộng ở Việt Nam chỉ mới đáp ứng
      được nhu cầu đọc e-mail, chat, còn các dịch vụ cần tốc độ cao khác chưa thể đáp
      ứng như mong muốn, phải chờ đến khi công nghệ 3G được đưa vào sử dụng. Ảnh: Lê
      Toàn.
      [/table]
      (TBVTSG) - Trong thời điểm bùng nổ các nhu
      cầu về dịch vụ di động hiện nay như truyền video, truyền hình ảnh, truy cập
      Internet tốc độ cao, xem ti-vi trực tuyến thì sự gia tăng lượng người sử dụng
      các dịch vụ băng thông rộng di động là điều dễ hiểu. Và tất nhiên, đi kèm theo
      đó là những thách thức…


      Mobile broadband - còn được hiểu là dịch vụ băng thông rộng di
      động - dùng chỉ các loại dịch vụ về truy xuất Internet tốc độ cao không dây
      thông qua các loại thiết bị di động. Những mạng có thể truy xuất băng thông rộng
      di động có thể kể là GPRS, EDGE, 3G, WiMAX, UMTS/HSPA, EV-DO, hệ thống truy cập
      Internet di động qua vệ tinh như truy cập Internet qua điện thoại vệ tinh
      (satellite phone).


      Các thiết bị hỗ trợ dịch vụ di động băng thông rộng hiện có rất
      nhiều loại, như các loại modem USB (MobiFone mới đây đã cung cấp thiết bị này để
      truy xuất Internet băng thông rộng di động qua GPRS/EDGE thông qua dịch vụ Fast
      Connect), PC data card (loại card dữ liệu gắn vào máy tính để truy xuất Internet
      qua mạng điện thoại di động như card EC321 của Huawei dùng truy xuất vào mạng
      CDMA), các loại điện thoại di động 3G hoặc điện thoại di động có tích hợp modem
      bên trong để truy xuất vào mạng 3G, các netbook hoặc notebook có tích hợp modem
      3G bên trong hoặc gắn thêm card USB 3G để truy xuất Internet qua mạng 3G như
      loại Acer Aspire One của Acer, Inspiron Mini 9 của Dell, IdeaPad S10 của Lenovo,
      các loại card gắn vào máy tính để truy xuất vào mạng WiMAX.


      Tại hội nghị NetEvents Singapore 2009 vừa qua, ông Duncan
      Clark, Chủ tịch Hội đồng nghiên cứu Công ty BDA - chuyên về tư vấn công nghệ và
      viễn thông khu vực châu Á - cho biết, thị trường di động băng thông rộng đang
      phát triển rất nhanh, nổi bật là Trung Quốc và Ấn Độ. Và BDA dự báo sẽ tăng thêm
      830 triệu khách thuê bao di động tại hai thị trường này trong năm năm tới, nghĩa
      là sẽ chiếm 50% trong tổng số lượng khách thuê bao trên toàn cầu vào năm 2013.



      Tại Ấn Độ, số lượng khách thuê bao di động sẽ tăng từ 346 triệu
      lên 746 triệu vào năm 2013 và sẽ có 90 triệu khách hàng sử dụng các dịch vụ 3G.
      Còn ở Trung Quốc, BDA cũng dự báo số khách hàng sử dụng điện thoại di động sẽ
      tăng từ 642 triệu lên 1,04 tỷ vào năm 2013 và kỳ vọng sẽ có 200 triệu người sử
      dụng dịch vụ 3G. BDA cũng thường xuyên theo dõi sự tăng trưởng tại thị trường
      Đông Nam Á, đặc biệt là thị trường Việt Nam.





      [table]


      [img]/Uploads/Articles/20560/d730c_cf765-bieu-do-trang-36_350.jpg" class="sgtoimagecenter_popup" style="width: 350px; height: 264px;[/img]
      [/table]


      [table]


      [img]/Uploads/Articles/20560/390fd_bieu-do-trang-37_200.jpg" class="sgtoimageleft_popup" style="width: 200px; height: 268px;[/img]
      [/table]
      Cũng theo dự báo của BDA, khi lượng khách thuê bao tăng như vậy
      thì lợi nhuận từ các dịch vụ cộng thêm như video, trò chơi trực tuyến, nhạc,
      MMS, SMS, các dịch vụ khi truy cập Internet gồm truy cập vào các trang web để
      xem thông tin, download, gửi và nhận e-mail sẽ tăng lên đáng kể và doanh thu từ
      thị trường Trung Quốc sẽ đạt 40 tỷ đô-la Mỹ vào năm 2013; con số này ở thị
      trường thế giới sẽ tăng từ 130 tỷ đô-la của năm 2008 lên đến 263 tỷ đô-la vào
      2013.


      Cùng với sự gia tăng về lượng khách thuê bao sử dụng các dịch
      vụ di động băng thông rộng, các nhà cung cấp dịch vụ cũng phải đối mặt với những
      thách thức không nhỏ.


      Chưa kể những đòi hỏi của người sử dụng về tính hấp dẫn, sự
      phong phú của nội dung dịch vụ, một trong những thách thức rất lớn đó là các nhà
      cung cấp dịch vụ phải giải quyết vấn đề lưu lượng dữ liệu video, hình ảnh, dữ
      liệu rất lớn truyền giữa các máy đầu cuối với nhau trên mạng của mình cũng như
      mạng này sang mạng khác.


      Thông thường, dung lượng của các loại dữ liệu này rất lớn và
      chiếm băng thông đường truyền lớn hơn nhiều lần so với tín hiệu thoại. Vì vậy,
      các nhà cung cấp dịch vụ di động sẽ phải cần dung lượng đường truyền rất lớn
      mới có thể đáp ứng các dịch vụ này. Ví dụ khi mã hóa giọng nói qua điện thoại
      thì chỉ cần ở tần số 4 KHz trong khi đó khi mã hóa âm thanh thì phải cần đến 16
      KHz, còn video thì cần phải có cả phần hình và tiếng nên chiếm băng thông rất
      nhiều.





      [table]


      [img]/Uploads/Articles/20560/ae5ce_37_200.jpg" class="sgtoimageleft_popup" style="width: 200px; height: 288px;[/img]
      [/table]
      Theo quan điểm của người viết bài này, các dịch vụ băng thông
      rộng di động tại Việt Nam chạy trên GPRS/EDGE của mạng GSM đến nay cũng chỉ đáp
      ứng các dịch vụ tối thiểu như đọc e-mail, chat, còn các dịch vụ cần tốc độ cao
      khác thì chưa thể đáp ứng như mong muốn được, phải đợi đến khi mạng 3G được đưa
      vào sử dụng.


      Để giải quyết vấn đề đường truyền này, ngoài mật độ phủ sóng
      của các trạm thu phát 3G phải đáp ứng nhu cầu của người sử dụng thì mạng đường
      trục kết nối các trạm này về đến nhà cung cấp dịch vụ hoặc giữa các nhà cung cấp
      dịch vụ với nhau (Backhaul) cần phải tăng cường đáng kể và trong tương
      tai đó là cơ hội cho WiMAX.


      Ông Duncan Clark cũng cho rằng các nhà cung cấp dịch vụ cần
      phải làm tốt vấn đề Backhaul, vì khi đó nó sẽ giải quyết tất cả các vấn đề về
      vận chuyển dữ liệu thì lợi nhuận mới tăng trưởng cũng như việc mở rộng thị
      trường dịch vụ sẽ rất nhanh chóng.


      Ông cũng nhấn mạnh, các nhà cung cấp dịch vụ có tầm nhìn rộng
      hơn cho các công nghệ, dịch vụ trong tương lai khi xây dựng hạ tầng viễn thông
      ví dụ như phát triển lên 4G.








      [table]



      Những thách thức
      dưới góc nhìn của những người trong ngành


      Kevin Vachon, Giám đốc điều hành
      tập đoàn MEF



      Tôi nghĩ mọi người đều biết và hiểu rõ rằng
      lưu lượng sẽ gia tăng một cách đột ngột. Trong năm qua chúng tôi đã thực sự nhìn
      thấy một thay đổi lớn khi nhiều nhà cung cấp dịch vụ đã đưa Internet vào trong
      các phòng thí nghiệm của mình để kiểm tra về lưu lượng trên mạng và chúng tôi đã
      thấy sự thay đổi đáng kể ở một số quốc gia.


      Camille Mendler, Phó chủ tịch
      Yankee Group



      Tôi nghĩ rằng việc tăng đột ngột lưu lượng
      có thể đánh sập một mạng nào đó nếu chúng ta không có phương án chuẩn bị. Bạn
      thấy có một số liệu thống kê từ T-Mobile, từ tập đoàn viễn thông Đức Deutsche
      Telekom, lưu lượng dữ liệu của họ đã tăng gấp 10 lần và bây giờ là 10 lần nữa
      khi phát triển 3G. Một ví dụ nữa là các nhà cung cấp dịch vụ nhỏ khi chuyển sang
      3G thì lưu lượng đã tăng gấp 20 lần, và tôi nhớ đã nói với công ty di động Pháp
      SFR về vấn đề này. Nhưng họ vẫn một mực bảo rằng, sự tăng trưởng chắc chắn sẽ
      gấp 20 lần trong năm năm tới.


      Angus Robertson, Giám đốc Công
      ty Spirent



      Hiện nay hầu như chỉ có hai chọn lựa cho
      các nhà cung cấp dịch vụ, một là tập trung vào việc nâng cấp mạng, đầu tư vào hạ
      tầng viễn thông để việc vận chuyển dữ liệu được thông suốt, hai là tìm những cải
      tiến để tăng dung lượng đường truyền. Với Spirent, tôi nghĩ rằng họ đã tập trung
      nhiều và đang làm rất tốt việc phát triển hạ tầng viễn thông.


      Victor Zhang, Giám đốc
      Alcatel-Lucent



      Khi mọi người truy cập dữ liệu qua mạng di
      động, họ luôn mong muốn tốc độ, chất lượng mạng tương đương hoặc gần như mạng cố
      định. Theo xu hướng mới hiện nay, khi có nhiều người sử dụng netbook, các
      netbook này sẽ kết nối mạng thông qua HDSPA của 3G, vì vậy các thiết bị này sẽ
      yêu cầu băng thông cho lưu lượng dữ liệu nhiều hơn là thoại thuần túy. Vì vậy
      tôi nghĩ là chúng ta sẽ thấy băng thông đường truyền sẽ phải tiếp tục tăng rất
      nhiều lần trên mạng di động.


      Tr.M


      [/table]
      [/table]
      [/table]

      == > Cơ hội cho Viễn thông phát triển & sẽ là chủ đạo của nền kinh tế .

    20. #180
      Ngày tham gia
      Jun 2009
      Bài viết
      611
      Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi

      Mặc định * PTC : GTSS ~ 24,600. LNST 2008 & quý I/2009 : DƯƠNG .v.v. Sản xuất Cáp quang giá trị >>> Cáp đồng. Mở ra 1 kỷ nguyên mới về vật liệu viễn thông. Giá đỉnh ~ 100,000 đ/cp .

      [table] [h1]Công nghệ giúp gia tăng
      năng lực cho doanh nghiệp[/h1]


      Quế
      Sơn


      ThứHai,13/7/2009,10:20(GMT+7)




      |


      [table]



      Công nghệ giúp gia tăng năng lực cho doanh nghiệp


      Quế Sơn





      [table]


      [img]../Uploads/Articles/20561/9d690_datacenter-lg_200.jpg" class="sgtoimageleft_popup" style="width: 200px; height: 151px;" alt="[/img]


      (minh họa).
      [/table](TBVTSG) - Công
      nghệ là đòn bẩy giúp gia tăng năng lực và giá trị cho doanh nghiệp. Chính vì vậy
      trong thời buổi kinh tế suy thoái, nhiều doanh nghiệp đã nỗ lực tìm hướng “đầu
      tư thông minh” hơn nhằm tạo ra lối thoát khi kinh tế hồi phục.
      Công ty cổ phần Dịch vụ dữ liệu trực tuyến (ODS) khởi động xây
      dựng trung tâm dữ liệu từ giữa năm 2008, thời điểm nền kinh tế trong nước suy
      thoái mạnh nhất. Ông Lê Hải Bình, Giám đốc công ty, cho biết chi phí đầu tư và
      duy trì hoạt động cho một trung tâm dữ liệu là rất lớn, triển khai dự án vào
      thời điểm đó được xem là mạo hiểm.


      Tuy nhiên, ODS vẫn tự tin vì xét theo khía cạnh tích cực, suy
      thoái kinh tế cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp biết tận dụng thời cơ để có
      các kế hoạch phát triển phù hợp với thị trường Việt Nam và với chu kỳ kinh tế.















      Sau năm tháng vận hành ODS DataCenter đã kín chỗ và công ty đã đầu tư mở rộng
      quy mô gấp hai lần. Theo ông Bình, các dịch vụ của trung tâm dữ liệu trong nước
      lâu nay còn khá đắt so với mặt bằng chung của khu vực.
      Đó cũng là nguyên nhân chính khiến nhiều doanh nghiệp chọn thuê
      dịch vụ ở nước ngoài mặc dù có nhiều bất lợi về văn hóa, pháp lý, sự chênh lệch
      về múi giờ cũng như việc hỗ trợ, chăm sóc khách hàng là một khó khăn.


      “Công nghệ vẫn là yếu tố đầu tư hợp lý trong giai đoạn suy
      thoái kinh tế. Theo tôi, nếu nhà cung cấp đưa ra được các dịch vụ hợp lý với nhu
      cầu và chi phí của các doanh nghiệp trong nước, thì sẽ tìm được thị phần,” ông
      Bình nói.


      Khi kinh tế suy thoái cũng chính là lúc các doanh nghiệp cần
      một chiến lược đầu tư thông minh hơn để vừa bảo đảm mục tiêu cắt giảm chi phí
      hiện tại vừa duy trì hiệu quả kinh doanh trong ngắn hạn và dài hạn.


      Theo ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch tập đoàn Saigon Invest (SGI),
      đó là thời điểm để doanh nghiệp tìm giải pháp tối đa hóa năng lực cho toàn hệ
      thống, vì thế trọng tâm của giai đoạn này là đầu tư mạnh mẽ hơn cho công nghệ và
      nhân lực.


      Ông phân tích, khi kinh tế khó khăn thì mức đầu tư sẽ giảm
      xuống, giảm đầu tư thì làm sao đầu ra tăng lên. Công nghệ là hạ tầng quan trọng
      của bất kỳ doanh nghiệp nào muốn phát triển có chiều sâu. Muốn làm được như thế
      thì phải ứng dụng CNTT, số lượng công việc có thể tăng lên trong khi số nhân lực
      không thay đổi, từ đó bộ máy hoạt động có hiệu quả hơn.




      [table]



      Công nghệ là hạ tầng quan trọng
      của bất kỳ doanh nghiệp nào muốn phát triển có chiều sâu. Muốn làm được như thế
      thì phải ứng dụng CNTT, số lượng công việc có thể tăng lên trong khi số nhân lực
      không thay đổi, từ đó bộ máy hoạt động có hiệu quả
      hơn.



      [/table]
      Ông nêu ví dụ, nhiều năm nay SGI đã nâng cấp hệ thống công
      nghệ, theo đó các hoạt động của tập đoàn cũng được thực hiện trên mạng như họp
      hành trên mạng, các thông tin liên lạc đều thông qua hệ thống e-mail và tin
      nhắn, vừa tiết giảm việc đi lại, thời gian, chi phí vừa giải quyết được sự việc
      ngay tức thì. Western Bank, một đơn vị thuộc SGI với hơn 50 chi nhánh nhưng chỉ
      có 370 nhân viên, đó là hiệu quả của việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT.


      “Việc đầu tư cho công nghệ ngay trong thời điểm khó khăn vẫn là
      để gia tăng năng lực cho doanh nghiệp. Dù nhìn dưới góc độ nào thì điểm nhấn của
      việc đầu tư này là tận dụng công nghệ để giảm chi phí đầu vào và tăng giá trị
      đầu ra,” ông Tâm chia sẻ.


      Tổng công ty cổ phần Bảo Minh mới đây đã công bố giai đoạn 2
      của dự án phát triển CNTT phục vụ quản lý và kinh doanh trên toàn hệ thống sau
      18 tháng khảo sát, hiện thực hóa các yêu cầu về nghiệp vụ hệ thống, xây dựng hạ
      tầng kỹ thuật và triển khai áp dụng chương trình quản lý nghiệp vụ cho các bộ
      phận.


      Ông Trần Vĩnh Đức, Tổng giám đốc, khẳng định việc triển khai dự
      án phần mềm quản lý nghiệp vụ trong toàn hệ thống là bước khởi đầu cho việc đổi
      mới cung cách kinh doanh theo hướng chuyên nghiệp hóa. Nó đòi hỏi doanh nghiệp
      phải tái cấu trúc để có thể ứng dụng các quy trình nghiệp vụ tiên tiến, đòi hỏi
      từng người phải thay đổi phương thức làm việc đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt
      của hệ thống tin học mới.


      “Sử dụng CNTT làm đòn bẩy để thúc đẩy việc kinh doanh và xây
      dựng lợi thế cạnh tranh cũng là cách để xây dựng sự khác biệt cho doanh nghiệp
      khi thị trường ngày càng cạnh tranh khốc liệt hơn,” ông Đức nói.


      Tại hội nghị thường niên dành cho đại lý của Intel khu vực châu
      Á - Thái Bình Dương mới đây, Intel công bố tập trung vào những sản phẩm có tính
      đột phá và đẩy mạnh các nghiên cứu ứng dụng trên nền công nghệ 32nm, đồng thời
      phát triển thị trường mới nhằm thúc đẩy các đối tác của mình ngay trong thời kỳ
      kinh tế khó khăn.


      Ông Steve Dallman, Phó chủ tịch nhóm kinh doanh và tiếp thị của
      Intel, nhấn mạnh rằng thường trong thời điểm suy thoái, nhiều cơ hội cho ngành
      công nghệ, đặc biệt các gói kích cầu của chính phủ, là những khoản chi lớn nhất
      được đưa ra trong lịch sử. Cùng với đó là rất nhiều hành động để kích thích kinh
      tế hồi phục, những khoản chi thông minh sẽ mang lại những tác động kinh tế lâu
      dài và ổn định nhất. Và đó là cơ hội cho cả ngành công nghệ, từ nhà cung cấp đến
      các đối tác kinh doanh và người dùng cuối.


      Cuộc nghiên cứu của Hội đồng các giám đốc thông tin tại Mỹ cho
      biết các công ty vượt qua được cuộc khủng hoảng lần trước đã dành ít nhất 5% chi
      phí để cải tiến công nghệ. Hội đồng này đã khuyến cáo doanh nghiệp muốn thành
      công cần thiết kế được lộ trình CNTT với mục tiêu rõ ràng và xác định những lĩnh
      vực có thể cải thiện nhanh chóng.


      Việc quan trọng là thiết kế các khoản chi tiêu đúng chỗ, cải
      thiện khâu quản lý để sử dụng tốt hơn các ng


      [/table]
      [/table]

    Thông tin của chủ đề

    Users Browsing this Thread

    Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)

       

    Similar Threads

    1. Trả lời: 2
      Bài viết cuối: 23-08-2017, 04:40 PM
    2. Bán cp DNC -> CP rất tiềm năng
      By vieneco in forum SÀN OTC CỔ PHIẾU
      Trả lời: 0
      Bài viết cuối: 24-08-2008, 10:17 AM
    3. Trả lời: 5
      Bài viết cuối: 31-03-2008, 02:39 PM

    Bookmarks

    Quyền viết bài

    • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
    • Bạn Không thể Gửi trả lời
    • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
    • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình