Thị trường viễn thông Việt Nam sau một năm gia nhập WTO

9:35, 11/03/2008





[table]


TS. Phan Thảo Nguyên








Tháng
11/2006, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO), đặt dấu mốc quan trọng trong tiến trình hội
nhập kinh tế thế giới. Việc gia nhập WTO mang đến làn gió mới, động lực
mới thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Nền kinh tế tiếp tục duy trì tốc
độ tăng trưởng cao hơn 8%, thu hút sự quan tâm của giới đầu tư nước
ngoài, hành lang pháp lý cho phát triển kinh tế thương mại ngày càng
minh bạch và thông thoáng hơn. Thị trường viễn thông Việt Nam tiếp tục
đạt được các bước tiến vượt bậc, hỗ trợ đắc lực cho các ngành kinh tế
khác cùng phát triển đồng thời cải thiện được vị trí trong bảng xếp
hạng viễn thông châu Á.[/i]





[h1]VÀI NÉT VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH[/h1]



Theo
đánh giá của Businees Monitor International (BMI), thị trường viễn
thông Việt Nam đang trên đà khởi sắc. Tính đến cuối năm 2006, đã có
14,7 triệu người sử dụng Internet (quy đổi) tăng 37%, 517.000 thuê bao
băng rộng tăng 146% so với năm trước. Đến tháng 5/2007, đã có thêm 1,5
triệu người sử dụng Internet và khoảng 236.000 thuê bao băng rộng, dự
kiến đến cuối năm 2007 thị trường dịch vụ băng rộng sẽ đạt khoảng 1
triệu thuê bao.





Trên
thị trường viễn thông, nhu cầu về dịch vụ điện thoại cố định có chiều
hướng giảm dần và giữ mức tăng khoảng 9% trong giai đoạn 2007-2011 do
người tiêu dùng chuyển hướng sang sử dụng các dịch vụ di động và băng
rộng. Hiện tại, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) vẫn là
nhà khai thác chủ đạo trong cung cấp các dịch vụ mạng cố định. Để kích
cầu, VNPT đã tiến hành nhiều đợt giảm cước phí, và khuyễn mãi, qua đó
nhằm tăng số lượng thuê bao cố định, và tăng thị phần doanh thu từ các
dịch vụ cố định trong tổng doanh thu chung của toàn VNPT.





Cạnh
tranh sôi động nhất đang diễn ra trên thị trường di động giữa 6 nhà
cung cấp dịch vụ như Vinaphone, Mobifone, Viettel, EVN Telecom, SPT,
HTC, qua đóthúc đẩy thị trường di động đạt mức tăng trưởng
nhanh. Tạp chí Telecom Asia xếp thị trường di động Việt Nam là một
trong 10 nước đạt tốc độ tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Trên bảng xếp
hạng phát triển viễn thông châu Á, BMI xếp thị trường viễn thông Việt
nam đứng thứ 13 (sau Thái Lan) về cả quy mô và tốc độ phát triển của cả
linh vực cố định, di động và Internet. Tốc độ tăng trưởng vượt bậc trên
là hệ quả của việc gia nhập WTO.





Trên
phương diện quản lý vĩ mô, Chính phủ Việt Nam đã cơ cấu lại Bộ Bưu
chính Viễn thông thành Bộ Thông Tin và Truyền thông (MIC). Theo đó mở
rộng phạm vi quản lý nhà nước theo xu hướng hội tụ viễn thông – công
nghệ thông tin – phát thanh truyền hình. Chức năng quản lý nhà nước sẽ
đáp ứng cả quản lý, cấp cấp phép khai thác mạng, dịch vụ viễn thông và
các nội dung thông tin truyền tải trên mạng. Xu thế này nằm trong động
thái thực hiện cam kết trong WTO, theo đó Nhà nước không can thiệp quá
sâu vào thị trường và hoạt động của doanh nghiệp (DN).





Tháng
6/2007, Bộ Bưu chính Viễn thông - MPT (nay là Bộ Thông tin và Truyền
thông) đã thông báo thả nổi giá cước dịch vụ di động, nhằm tạo bước
cạnh tranh bình đẳng hơn trên thị trường di động và đáp ứng tốt hơn nhu
cầu thị trường. Đồng thời, MPT cũng thông báo các quy định về sử dụng
nguồn Quỹ Dịch vụ Viễn thông công ích nhằm tạo sự bình đẳng hơn cho DN
viễn thông trong đáp ứng các dịch vụ công ích, và phù hợp với thông lệ
của WTO.





Các
biến chuyển ở tầm quản lý vĩ mô tạo lập môi trường kinh doanh viễn
thông tin cậy hơn, qua đó cải thiện vị trí của Việt Nam trên bảng xếp
hạng môi trường kinh doanh châu Á- Thái Bình Dương. BMI xây dựng tiêu
chuẩn đánh giá môi trường kinh doanh viễn thông dựa trên các tiêu chí:
(i) mức độ rủi ro của nền kinh tế; (ii) Mức độ rủi do chính trị; (iii)
Mức độ phát triển của thị trường viễn thông; (iv) tiềm năng phát triển
viễn thông; (v) môi trường cạnh tranh; (vi) thể chế luật pháp. Theo các
tiêu chí này, môi trường kinh doanh viễn thông Việt Nam được đánh giá
ngang bằng với Thái Lan, nhưng xếp thứ 14 sau Thái Lan do thua kém một
số chỉ số phụ. Các điểm mạnh yếu của thị trường viễn thông Việt Nam
theo phân tích công thức SWOT thể hiện trên các nội dung sau:


[/b]


PHÂN TÍCH SWOT VỀ THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG VIỆT NAM[/b]





* Điểm mạnh:


- Thị trường di động cạnh tranh hơn với sự tham gia của EVNTelecom và Hanoi Telecom


- Dịch vụ di động và dịch vụ cố định đạt mức tăng trưởng cao tương ứng với 104% và 43%


- Việc gia nhập WTO cuối năm 2006 giúp Việt Nam thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhất là tập trung cho thi trường băng rộng.





* Điểm Yếu


- Lĩnh vực dịch vụ cố định vẫn do một công ty nắm giữ (VNPT)


- Thiếu các nhà đầu tư chiến lược trên thị trường


-
Tuy dịch vụ viễn thông đã khá phổ biến tại khu vực thành thị, nhưng
nhiều vùng nông thôn vẫn chưa tiếp cận được với các dịch vụ viễn thông.





* Cơ hội


- Cạnh tranh gia tăng trên thị trường di động sẽ thức đẩy tăng trưởng toàn thị trường viễn thông


- Tốc
độ tăng trưởng thị trường băng rộng là rất nhanh, dự kiến vượt 1 triệu
thuê bao trong năm 2008 - Chính phủ đang thực hiện tự do hoá ngành viễn
thông, tạo điều kiện tham gia cho các tập đoàn viễn thông lớn.


- VNPT mới triển khai dịch vụ vô tuyến cố định để phủ sóng vùng nông thôn cùng với Viettel và EVN Telecom.





* Nguy cơ


- Quá trình phân cấp quản lý nhà nước diễn ra chậm chạp


- 1/3
làng xã Việt Nam nằm tại các vùng núi non rất khó để triển khai dịch vụ
viễn thông. Làm cản trở việc phát triển mạng cố đinh, di động và
Internet.


- Tỷ lệ thuê bao di động ngừng hoạt động chưa được xác định rõ ràng, tạo ra sự không minh bạch trên thị trường di động


- Sự gia tăng cạnh tranh có thể dẫn đến chiến tranh về giá cước, quá đó có thể làm giảm nghiêm trọng chất lượng dịch vụ.





CÁC CHUYỂN BIẾN CHÍNH TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỄN THÔNG[/b]





1/. Thị trường dịch vụ viễn thông cố định





Thị
trường dịch vụ viễn thông cố định đạt mức tăng trưởng tốt trong năm
2006 với gần 2,8 triệu thuê bao mới tăng 43,5% so với năm trước, đạt
mật độ 11máy/100 dân. Dự báo Việt Nam sẽ đạt 13 triệu thuê bao vào năm
2008 tương ứng với mật độ 15máy/100 dân. Tốc độ tăng trưởng mạng cố
định chủ yếu xuất phát từ nhu cầu thị trường tại các vùng thành thị.
Mặt khác, việc VNPT thông báo giảm 15-20% cước cố định cũng bổ sung
thêm cho sự tăng trưởng nhu cầu đối với dịch vụ thoại cố định. Tuy
nhiên, tốc độ tăng trưởng mạng cố định bị tác động rất nhiều bởi sự gia
tăng mạnh mẽ của các mạng di động, và tình trạng bão hoà nhu cầu thị
trường tại vùng thành thị. Bởi vậy, tốc độ tăng trưởng dịch vụ viễn
thông cố định sẽ khoảng 13%, và mật độ điện thoại cố định sẽ đạt 17%
vào năm 2011. Với mật độ điện thoại này, Việt Nam vẫn là một trong số
nước có mật độ điện thoại thấp nhất tại châu Á đứng trên các nước Indonesia, Pakistan, Philippines, và Ấn Độ.





Không
giống như các thị trường viễn thông các nước châu Á khác, thị trường
viễn thông cố định của Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng. Để đa dạng hoá
và đẩy nhanh quá trình phổ cập dịch vụ cố định, MIC đã cấp giấy phép
thiết lập và cung cấp dịch vụ viễn thông cố định cho các nhà khai thác
mới như Viettel, EVN Telecom và mới đây là FPT Telecom. Tuy nhiên, VNPT
vẫn sẽ là nhân tố chủ lực trên thị trường cố định với 64 bưu điện tỉnh,
thành phố có nhiệm vụ chính là mở rộng và phát triển mạng điện thoại cố
định đến mọi vùng lãnh thổ với 9 triệu thuê bao tính đến 9/2007 chiếm
30% tổng thuê bao viễn thông của Việt Nam.





Tháng
4/2007, MIC thông báo kế hoặc hỗ trợ phát triển các dịch vụ viễn thông
cố định tại các vùng nông thôn, vùng khó khăn từ Quỹ Dịch vụ Viễn thông
công ích. Theo đó, các DN viễn thông sẽ được hỗ trợ các mức phí về lặp
đặt, khai thác, bảo dưỡng mạng đối với các dịch vụ điện thoại cố định
và truy cập Internet. Người sử dụng (NSD) được hỗ trợ về cước phí sử
dụng. Nguồn tài chính hình thành Quỹ Viễn thông công ích do các DN viễn
thông đóng góp theo tỷ lệ 3-5% tổng doanh thu dịch vụ. Tuy nhiên, việc
giải ngân nguồn quỹ cho các hoạt động viễn thông công ích diễn ra chậm
chạp do gặp nhiều vướng mắc về thủ tục đánh giá, xác nhận và quy trình
xét duyệt dự án.





2/. Thị trường dịch vụ di động





Thị
trường dịch vụ di động tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao với mức
tăng trung bình hàng năm đạt 35%. Dự báo đến năm 2011, tổng thuê bao di
động sẽ vượt mốc 50 triệu, với mật độ đạt 56%. Các nhà khai thác di
động đang cạnh tranh mạnh mẽ để giành thị phần bằng các chương trình
khuyến mãi hấp dẫn và kéo dài liên tục. Việc MIC cấp thêm các mã mạng
mới cho các nhà khai thác giúp mở rộng kho số dịch vụ. Tuy nhiên, các
chương trình khuyến mãi tập trung vào bán thêm các SIM card mới dẫn đến
việc không xác định được số lượng thuê bao thực trên mạng. Việc dễ dàng
trong cung cấp các SIM card mang đến thuận tiện lớn cho khách hàng
trong lựa chọn sử dụng dịch vụ điện thoại cố định. Tuy nhiên, nó cũng
tạo ra vấn đề lớn trong quản lỹ xã hội như xác định trách nhiệm chủ
thuê bao về nguồn thông tin (quấy phá, truyền phát thông tin vi phạm
thuần phong mỹ tục, các vấn đề về an ninh quốc phòng và quản lý xã
hội). Để giải quyết vấn đề này, tháng 9/2007, Bộ MIC đã ban hành quyết
định bắt buộc phải đăng ký thông tin cá nhân đối với chủ thuê bao trả
trước. Thủ tục trên có thể tác động phần nào đến tâm lý NSD khi lựa
chọn sử dụng dịch vụ, nhưng các tác động này không lớn bằng việc các
nhà khai thác phải lập lại hồ sơ quản lý các thuê bao trả trước đã có.





Các
mạng di động của Việt Nam hiện thời vẫn theo chuẩn 2G hay 2.5 G cung
cấp chủ yếu dịch vụ thoại và một số loại dịch vụ giá trị gia tăng như
SMS, WAP, GPRS. Hiện các nhà khai thác di động đang tập trung chuyển
đổi sang mạng 3G, nhưng với tốc độ chậm chạp do còn gặp nhiều khó khăn
về dịch vụ nội dung thông tin và thiết bị đầu cuối đắt đỏ. Dự kiến đến
2011, thị trường dịch vụ 3G đạt khoảng 3 triệu thuê bao chiểm 6% tổng
thuê bao di động.





Thị
trường dịch vụ di động đạt mức tăng trưởng cao nhất với trên 10 triệu
thuê bao mới trong năm 2006, tăng 104% so với 2005, nâng tổng số thuê
bao di động của Việt Nam lên khoảng 20 triệu. Thị trường bùng phát do
nhu cầu tiêu dùng tăng cao, cùng với chính sách tạo cạnh tranh trên thị
trường viễn thông di động của Chính phủ. Hiện tại, có 6 nhà cung cấp
dịch vụ di động tại Việt Nam. Các nhà khai thác này không chỉ cạnh
tranh trong phát triển thuê bao di động, mà còn cạnh tranh trong phát
triển các dịch vụ vô tuyến cố định trên nền mạng di động để cung cấp
cho các hộ gia đình có thu nhập thấp. Dịch vụ GPhone của VNPT là dịch
vụ vô tuyến cố định mới nhất của VNPT sử dụng nền mạng Vinaphone để
cạnh tranh với các dịch vụ tương tự như E-Com của EVN Telecom và dịch
vụ vô tuyến cố định của Viettel. Các dịch vụ này dự kiến sẽ đạt 2 triệu
thuê bao vào cuối năm 2007.





Các
nhà khai thác di động đang sử dụng công cụ giá để tiến hành cạnh tranh.
Việc liên tục giảm giá cước tạo ra sự tăng trưởng nhanh chóng trên thị
trường di động. Với việc VNPT với tư cách là nhà khai thác khống chế
thị trường (30%) bị quản lý chặt chẽ về giá cước đã tạo điều kiện thuận
lợi cho các nhà khác thác mới như Viettel bứt phá. Tuy nhiên, cuộc
chiến về giá cước dẫn đến sự suy giảm chất lượng dịch vụ, tắc nghẽn
mạng lưới và gia tăng khiếu kiện khách hàng. Điều này buộc cơ quan quản
lý nhà nước vào cuộc qua việc công bố tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ bắt
buộc và các cuộc kiểm tra, giám sát quy trình cung cấp dịch vụ để đảm
bảo quyền lợi khách hàng.





Hiện
tại, MIC vẫn đang trong quá trình xem xét cấp phép mạng 3G. Theo dự
kiến các giấy phép về 3G và WiMAX sẽ được cấp theo cơ chế xét tuyển (beauty
contest) vào cuối năm 2007. Cả sáu nhà cung cấp dịch vụ đã đệ trình hồ
sơ xin cấp phép. Vinaphone và Mobifone dự kiến cung cấp thương mại các
dịch này vào cuối năm 2007. Trong đó, Mobifone đã kết thúc dự án thử
nghiệm 2 năm về dịch vụ 3G, còn Vinaphone đang trong giai đoạn thử
nghiệm với đối tác Nokia, dự kiến sẽ hoàn tất vào tháng 9/2007. S-Fone
đã triển khai công nghệ CDMA EV-DO 3G. EVN Telecom và Hanoi Mobile
(HTC) cũng có kế hoạch tương tự để triển khai các dịch vụ thế hệ tiếp
theo trên mạng CDMA của mình. Viettel sẽ triển khai dịch vụ 3G trên
mạng WCDMA. Tuy nhiên, trong 6 nhà cung cấp dịch vụ, cơ quan quản lý
nhà nước lại dự kiến chỉ cấp 4 giấy phép 3G.





Về
dịch vụ WiMAX, 4 nhà khai thác đang triển khai thử nghiệm dịch vụ, gồm
công ty VDC tại tỉnh Lào Cai, VTC tại TP. Hồ Chí Minh, FPT và Viettel.
Trong đó, FPT và Viettel đang triển khai thử nghiệm dịch vụ WiMax trên
mạng di động.





3/. Thị trường dịch vụ Internet và băng rộng





Thị
trường dịch vụ Internet và dịch vụ băng rộng cũng đạt mức tăng trưởng
nhanh với 15 triệu NSD Internet tính đến cuối năm 2006, tăng 37% so với
2005. Đến tháng 5/2007, đã có khoảng 1,5 triệu thuê bao Internet mới,
nâng mật độ phổ cập Internet lên 19,5%. Thị trường dịch vụ Internet sẽ
tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng hàng năm khoảng 10% và đạt mật độ
35% vào năm 2011. Dịch vụ băng rộng đang tăng nhanh và sẽ vượt tốc độ
tăng trưởng dịch vụ Internet. Theo số liệu của Trung tâm VNNIC, thị
trường băng rộng hiện có 517.000 thuê bao, tăng 146% so với năm trước,
trong khi đó sau năm tháng đầu năm 2007, chỉ có 236.000 thuê bao
Internet mới. Để đáp ứng nhu cầu dịch vụ băng rộng tăng nhanh, VNPT đã
quyết định tăng gắp đôi dung lượng các tuyến truyền dẫn cáp quang liên
tỉnh để hỗ trợ và cung cấp các dịch vụ trên nền mạng NGN. Tuy nhiên,
hiện tại các thuê bao băng rộng chủ yếu là các khách hàng DN. Kể từ khi
gia nhập WTO, Việt Nam đã chứng kiến việc các tập đoàn viên thông hùng
mạnh tham gia thị trường, như Vodafone đã lập văn phòng đại diện tại
Việt Nam, Intel đã đầu tư nhà máy sản xuất thiết bị, và còn rất nhiều
các công ty lớn khác đang muốn gia nhập thị trường viễn thông Việt Nam.





Trên
thị trường băng rộng, cuộc chiến giá cứơc vẫn là xu thế chủ đạo giữa
các công ty FPT Telecom, Viettel và Netsoft trong giành chiếm thị phần.
Các dịch vụ giải trí và game-online cũng góp phần làm tăng nhanh nhu
cầu đối với các dịch vụ băng rộng. Với việc cơ quan quản lý nhà nước
đang xem xét các thủ tục cấp phép WiMAX, thị trường băng rộng dự kiến
đạt 8 triệu thuê bao vào năm 2011.





Số
lượng thuê bao Internet tăng gấp đôi trong năm 2003, 2004 với tổng số
5,87 triệu thuê bao, đạt mật độ 7%. Đến nay Việt Nam có 9 nhà cung cấp
dịch vụ Internet (ISP) và 6 nhà cung cấp dịch vụ mạng Internet (Internet
Exchange Providers). Đến cuối năm 2006, mật độ Internet đạt 17,7% so
với 19% vào tháng 5/2007. Công ty Điện báo và Truyền số liệu (VDC) đã
triển khai dịch vụ ADSL ở hầu khắp các tỉnh thành trên toàn quốc với
tổng thuê bao hiện tại đạt 516.569 vào cuối năm 2006, và tăng lên
752.742 thuê bao vào tháng 5/2007, tăng 45,7%. NSD Internet cũng tăng
nhanh với 3.7 thuê bao trực tiếp tương ứng với 13.4 triệu người sử dụng
Internet, đạt tỷ lệ 16%. Tỷ lệ sử dụng Internet trong khối DN cao chiếm
khoảng 89%, trong đó 4/5 là sử dụng các dịch vụ băng rộng.





Dịch
vụ Internet chính thức được cung cấp tại Việt Nam năm 1997, qua 10 năm
phát triển, đến nay đã có 4.4 triệu thuê bao Internet trực tiếp tương
ứng với 15.8 triệu NSD, đạt mật độ 19,46% (tính đến tháng 5/2007). Cuộc
chiến về giá cước dịch vụ băng rộng bắt đầu tại Việt Nam từ tháng
10/2006, khi FPT áp dụng khuyến mại tặng modem cho tất cả thuê bao băng
rộng tốc độ cao. Tiếp đó công ty Netsoft (thuộc Bưu điện TP.Hồ Chí
Minh) miễn phí modem và phí lắp đặt dịch vụ. Trong khi đó Viettel chào
miễn cước cho 03 tháng sử dụng dịch vụ và miễn phí thiết bị đầu cuối
trị giá 200.000 VND, miễn phí lắp đặt và gọi nội hạt trong 12 tháng đối
với tất cả thuê bao ADSL mới. FPT Telecom có các chương trình khuyến
mãi ở mức khiêm tốn nhất so với các đối thủ cạnh tranh.





Để
đáp ứng nhu cầu dịch vụ băng rộng tăng cao, VNPT tiến hành nâng cấp
mạng cố định với đối tác Nortel Network. Theo đó, tuyến cáp quang trên
trục Bắc – Nam được nâng cấp từ tốc độ 20GB/s lên 40Gb/s có khả năng
đáp ứng 600.000 khách hàng internet tốc độ cao vào cuối năm 2007. Đồng
thời VNPT cũng đặt mục tiêu phát triển thêm 1.5 triệu thuê bao băng
rộng vào năm 2009.





4/. Phát triển viễn thông nông thôn


Vùng
nông thôn Việt Nam chiếm 80% dân số, viêc đầu tư phát triển viễn thông
nông thôn, cung cấp các dịch vụ phổ cập là mục tiêu quan trọng của Việt
Nam. Chính phủ Việt Nam khuyến khích các DN viễn
thông đầu tư phát triển mạng lưới và phổ cập dịch vụ tại vùng nông
thôn. Tuy nhiên, các nghĩa vụ phát triển viễn thông nông thôn chủ yếu
do VNPT thức hiện.





VNPT
trở thành nhà khai thác thứ 3 cung cấp các dịch vụ vô tuyến cố định.
Với việc đưa dịch vụ GPhone vào khai thác tháng 6/2007, sử dụng trên
nền tăng Vinaphone, VNPT sẽ cung cấp dịch vụ tại các vùng nông thôn,
miên núi, các vùng gặp khó khăn trong việc triển khai mạng cố định.
Dịch vụ GPhone với mức giá cước thấp sẽ đóng vai trò phổ cập dịch vụ
viễn thông cơ bản đến các vùng nông thôn Việt Nam. Dự kiến đến cuối năm
2007, VNPT sẽ có 100.000 thuê bao GPhone.





Bên
cạnh đó, VNPT đã có nhưng nỗ lực để xây dựng và cung cấp các dịch vụ
băng rộng cho vùng nông thôn mà dự án tại tỉnh Lào Cai là một ví dụ
điển hình. Tại Lào Cai, một tỉnh
nông nghiệp xa xôi của Việt Nam, các máy điện thoại công cộng ít ỏi
đang được thay thế dần bằng các kết nối WiMAX băng rộng, tốc độ cao và
điện thoại VoIP. Qua đó cung cấp dịch vụ cho hàng nghìn người dân nơi
đây. Dự án tại tỉnh Lào Cai của Việt Nam minh chứng cho xu thế cùng hợp
tác giữa nhà cung cấp thiết bị, nhà khai thác và chính phủ để mang đến
các cơ hội mới cho phát triển kinh tế xã hội. Năm 2006, tập đoàn Intel,
USTDA và công ty VDC (công ty thành viên của Tập đoàn Bưu chính Viễn
thông Việt Nam – VNPT), đã hợp tác để triển khai mạng WiMAX tại tỉnh
miền núi, nông nghiệp này với 600.000 dân thuộc 25 dân tộc khác nhau.
Lào Cai là tỉnh miền núi của Việt Nam, tiếp giáp với biên giới Trung Quốc.
Tại đây, có rất ít các dịch vụ điện thoại cố định và dịch vụ băng rộng
DSL chỉ có trong trung tâm thị xã Lào Cai, nhưng nhìn chung các dịch vụ
viễn thông chưa đến được với nhiều người dân nơi đây, ngay cả tại các
vùng ngoại vi thị xã. Các ngành nghề truyền thống như nông nghiệp, lâm
nghiệp có thể sử dụng hạ tầng viễn thông mới để tăng trưởng kinh doanh
và thu hút nhiều hơn các trao đổi thương mại với Trung Quốc. Một kỳ
vọng nữa của dự án là thu hút thêm nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài vào khu vực.





[h1]KẾT LUẬN[/h1]



Sự
khởi sắc trên thị trường viễn thông Việt Nam những năm qua cho thấy
chính sách quản lý của nhà nước và các biện pháp mà MIC áp dụng là cơ
bản đúng hướng. Việc trở thành thành viên WTO giúp thị trường viễn
thông Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn, đáng tin cậy hơn đối với các nhà
đầu tư nước ngoài. Thị trường viễn thông Việt Nam đã có sự cạnh tranh,
nhu cầu thông tin của các tầng lớp dân cư và toàn xã hội được đáp ứng
tốt hơn với nhiều sự lựa chọn hơn. Thị trường dịch vụ di động sẽ tiếp
tục đạt mức tăng trưởng cao, tiếp đên là dịch vụ băng rộng và Internet.
Trong môi trường kinh doanh mới, cạnh tranh và các vấn đề tranh chấp
nảy sinh giữa các DN là điều không thể tránh khỏi. Áp lực của quá trình
cạnh tranh đòi hỏi bản thân mỗi DN viễn thông phải có sự đổi mới và
thích ứng mới có thể vận động đi lên. Nếu so sánh với các ngành dịch
vụ, quá trình cạnh tranh trên thị trường viễn thông phần nào giúp các
DN viễn thông Việt Nam có kinh nghiệm hơn trong cạnh tranh quốc tế khi
Việt Nam đã trở thành viễn chính chức của WTO./.





Tài liệu tham khảo[/b]





Viet nam Telecommunication Report Q2 2007 [/i]Published quaterly by BUSINESS MONITOR INTERNATIONAL LTD


[/table]