TIN QUỐC TẾ :


(tóm lược 10.06.2009 )


- Đồng USD lại yếu đi sau một thời kỳ tăng điểm ngắn hạn; do các NĐT vẫn đang phân vân rằng liệu nền kinh tế đã biểu hiện đầy đủ dấu hiệu của sự phục hồi để Fed có thể kịp thời tăng lãi suất cơ bản đồng USD vào trước cuối năm nay.


+ TTCK bị ảnh hưởng nhẹ, chỉ số Nasdaq tăng 17 điểm tương ứng tăng 0,96%, Dow Jones mất 1 điểm. Hôm qua 1 trong những thông tin gây chú ý trên TT là danh sách các NH được phép trả lại tiền hỗ trợ từ quỹ TARP (giải trừ nợ xấu), theo Bộ trưởng tài chính Mỹ đây là một tín hiệu đáng mừng trên TT tài chính, và việc các NH này huy động thành công vốn trên TT tài chính là bằng chứng chắc chắn về niềm tin của người dân đối với sự phục hồi của hệ thống tài chính. Hôm nay mọi sự chú ý vào báo cáo của Fed nhằm có một cái nhìn tổng quát về sức khỏe của nền kinh tế Mỹ.


+ Trên TT châu Á; đồng USD vững giá so EUR, GBP và JPY bởi nhà đầu tư đã mua lại lượng USD đã bán trước đây; nhưng giới đầu tư vẫn cảnh giác và thận trọng trước tin sắp công bố về thâm hụt thương mại của Mỹ tối nay. TT vẫn đang rất chật vật với việc xác định rõ ràng hướng đi của đồng USD trong thời gian tới.


- Đồng EUR tăng gần 1% so với USD trong phiên giao dịch hôm qua nhờ vào sự suy yếu của đồng USD bất chấp thông tin kinh tế khu vực châu Âu không mấy tốt đẹp; báo cáo kinh tế dưới mức kỳ vọng; thặng dư thương mại của Đức đã thu hẹp xuống còn 9,4 tỷ EUR trong tháng 4/2009 do XK trượt dốc -4,8%; sản lượng công nghiệp cùng ngày được công bố củng giảm 1,9% trong tháng 4/2009; kéo chỉ số này trượt xuống mức thấp kỷ lục -21,6% so với cùng kỳ năm trước; Với những thông tin trên thì GDP quý 2/2009 của Đức có khả năng tiếp tục suy giảm kỳ thứ 4 liên tiếp; Vì vậy, cho nên việc tăng khá mạnh thêm 114 điểm (tương đương 0,9% giá trị) lên mức 1.4062 của cặp EUR/USD trong phiên giao dịch hôm qua chưa xác nhận thêm điều gì cho đà tăng giá của đồng EUR trong thời gian tới.


- Đồng GBP sau khi tăng lên mức cao 1.6363 vào thứ ba do tin tốt từ khu vực nhà đấ của Anh đã giao dịch ổn định trở lại trong biên độ hẹp.


- Vàng vật chất vẫn đang được giới đầu tư chú ý; giá cả đã tăng nhẹ vào ngày hôm qua; tăng 3 USD/Oz cho giá vàng giao sau; Do vàng đóng vai trò là một kênh đầu tư an toàn để chống lạm phát nên dự đoán trong trung hạn, vàng có thể tiếp tục tăng, nhưng trước mắt có quá nhiều dấu hiệu khách nhau và giá các ngoại tệ mạnh biến động liên tục khó lường thì vàng phục hồi hay không vẫn còn là một câu hỏi lớn và các nhà đầu tư phải hết sức thận trọng trong giai đoạn nhạy cảm này. TT vẫn kỳ vọng vàng sẽ vượt ngưỡng tâm lý 1000 USD/Oz.


- Dầu thô chạm mức giá 70.74 USD/thùng sau khi Bộ năng lượng Mỹ cho biết là dự trữ dầu thô đã sụt giảm 6 triệu thùng. Các hợp đồng giao sau ở Mỹ chạm mức cao nhất 7 tháng gần 71 USD/thùng, dầu đã tăng 2.8% trong các phiên giao dịch trước sau khi dữ liệu kinh tế cho thấy dự trữ dầu thô của Mỹ giảm lại. Dầu cũng được hỗ trợ từ sự suy yếu của đồng USD so với các đồng tiền chính khác trong rổ tiền tệ, vì đồng USD yếu sẽ làm cho giá hàng hoá trở nên rẻ hơn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài.


TIN TRONG NƯỚC :


1/ Tỷ giá hôm nay & TT ngoại hối:


+Tỷ giá liên NH: 16.946 VND/USD (tăng 1 đồng so với hôm qua)


+ Giá mua-bán USD thấp nhất mà NHTM được phép (-5%): 16.099 VND/USD


+Giá mua-bán USD cao nhất mà NHTM được phép (+5%): 17.793 VND/USD


+ Tỷ giá NHTM Mua chuyển khoản niêm yết trong ngày: 17.793 VND


+ Tỷ giá NHTM Bán niêm yết : 17.793 VND/USD; => G_max (được phép)


Với việc hỗ trợ nguồn ngoại tệ để cho các DN nhập khẩu hàng hóa, nguyên vật liệu SX; đi kèm với việc tăng cường quản lý ngoại hối, chống găm giữ ngoại tệ, đồng thời với giải pháp giảm chi phí huy động vốn, giãm lãi suất cho vay USD; đã làm gia tăng nguồn cung ngoại tệ cho các nhu cầu về USD; từ đó làm giảm áp lực căng thẳng mất cân đối giữa Cung-Cầu ngoại tệ; vì thế, việc mua ngoại tệ vượt giá trần USD 5% mà NHNN quy định đã giảm; biên độ chênh lệch hiện còn bình quân trong khoảng 100 VND-> 150 VND/USD; giảm 50% so với trước đây. Cá biệt có ngày, sự chênh lệch là rất nhỏ.


Việc giảm sự căng thẳng nguồn cung ngoại tệ này, không hẳn hoàn toàn do vai trò của NHNN tác động tới TT, mà còn có nguyên nhân xuất phát từ việc suy giảm nhập khẩu quá mức, mức suy giảm nhập khẩu lớn hơn rất nhiều so với suy giảm xuất khẩu; tính trong dài hạn, điều này là không tốt, khi mà vào lúc giá cả nguyên vật liệu trên thế giới xuống thấp nhất, thì các DN VN lại không tính nhập đễ trữ hàng, chờ khi kinh tế phục hồi, sẽ SX và xuất khẩu; nay khi giá cả đang dần hồi phục, thì giá nhập nguyên vật liệu đang có xu hướng lên, trong khi nhiều giá hàng xuất, các nhà XK của VN vẫn chưa thể điều chỉnh với người mua nước ngoài để tăng giá bán.


Với tình trạng Giá mua USD = Giá bán USD như hiện nay, thì sự căng thẳng ngoại tệ chỉ có thể bớt đi chứ không giải quyết dứt điểm được bởi nguồn cung ngoại tệ vẫn chưa có dấu hiệu tăng trở lại; và khi nên kinh tế vượt qua giai đoạn ở mức đáy, nhập khẩu sẽ bùng phát trở lại nhằm phục vụ cho gia công-chế biến hàng XK, thì lúc đó Cầu ngoại tệ sẽ được dự báo còn căng thẳng hơn nữa. Cho nên tỷ giá vẫn là nỗi “đau âm ỉ” của nền kinh tế.


2/ Các thông tin khác:


2.1 Về TTCK:


Hôm nay TTCK tiếp tục ghi thêm kỷ lục mới cả về khối lượng lẫn giá trị giao dịch, Kết thúc phiên giao dịch, Vn-Index đóng cửa tại 497,51 điểm, giảm 14,95 điểm (2,92%). Toàn thị trường có tới 122 mã giảm sàn. Khối lượng giao dịch qua khớp lệnh đạt mức cao nhất từ trước tới nay, với 100,5 triệu chứng khoán, tăng 25% so với phiên kỷ lục hôm qua. Giá trị giao dịch tương ứng 3.438,4 tỷ đồng. Tại sàn Hà Nội, với 49,3 triệu CP giao dịch với giá trị 1.820 tỷ đồng; HaSTC đóng cửa tại 179,73 điểm, giảm 6,44 điểm (3,46%). Tổng cộng phiên giao dịch hôm nay (10.06.2009) đã có gần 150 triệu CP với giá trị 5.258,4 tỷ đồng lưu chuyển trên 2 sàn.


Lượng Cung CK nhiều nhưng sức Cầu vẫn còn mạnh, tính thanh khoản vẫn được duy trì; nhưng qua phiên giao dịch hôm nay; thì niềm tin vào sự tăng giá vững chắc của TT lại đang có chiều hướng suy giảm; hình như TT càng lên cao, thì khả năng bán tháo ngày càng lớn; rủi ro gia tăng cho những kẻ đến sau đã hiện hữu hơn bao giờ hết; điểm đặc biệt của TT suốt mấy tuần qua, chính là sự bán ròng của khối ngoại; tuy khối ngoại hiện nay, quy mô đặt lệnh cũng như giá trị giao dịch (kể cả về số lượng) không còn chiếm tỷ trọng cao trong mỗi phiên giao dịch; nhưng hành động của một kẻ “có tiền, có kinh nghiệm, lại lắm mưu mẹo” ưa thích dẫn dắt TT rất đáng để các NĐT suy nghĩ; xin dẫn chứng:


Thống kê giao dịch của khối ngoại từ 4/5 (sau kỳ nghĩ lễ 30.4 & 1.05.09) đến hết ngày 10.06.2009 là thời điểm mà TTCK bùng nổ nhất; bùng nổ cả về khối lượng và bùng nổ cả về giá trị giao dịch mỗi phiên trên 2 sàn :


2.1.1 Về giao dịch cổ phiếu :


Trên sàn HoSE :


-Tổng giá trị mua : 4.437.446.692.000 đ


-Tổng giá trị bán : 4.023.589.493.000 đ


Dư mua : 413.857.199.000 đ (đổ tiền vào TT)


Trên sàn HaSTC :


-Tổng giá trị mua : 416.059.596.000 đ


-Tổng giá trị bán : 1.019.562.166.000 đ


Dư bán : 603.502.570.000 đ (thu tiền về)


Trong đó, đặc biệt đáng chú ý mấy điểm sau:


+ Tồn tại duy nhất 1 phiên giao dịch ngày 6.05.2009 là ngày bùng nổ của khối ngoại khi dư mua ròng 10 triệu cổ phiếu trên HoSE; ngày hôm đó là ngày duy nhất trên cả 2 sàn khối ngoại có mua ròng; cụ thể : tại HoSE khối ngoại Mua : 453.111.672.000 đ / Bán : 87.005.981.000 đ; trên HaSTC khối ngoại Mua : 22.199.950.000 đ / Bán : 8.528.350.000 đ; hết ngày 6/05; VN_index là 350,14 điểm; HaSTC là 124,4 điểm.


+ Sàn HaSTC chỉ có 1 ngày mua ròng, còn xuyên suốt là bán ròng


+ Sàn HoSE thì có nhiều phiên mua ròng, nhưng cũng nhiều phiên bán ròng, nhưng xu hướng bán ròng thể hiện rõ nhất từ 18.05.2009 trở lại đây.


Như vậy, trong suốt 1 tháng qua; tính riêng cho HoSE thì đến ngày 10.06 thì khối ngoại vẫn còn mua ròng, còn trên HaSTC thì khối ngoại bán ròng; nhưng tính chung cho toàn thị trường, thì trong suốt 1 tháng qua; khối ngoại vẫn dư bán là 189.645.371.000 đ. Điều này có nghĩa thời gian qua khối ngoại đã rút ra khỏi TT cổ phiếu niêm yết một lượng tiền gần 190 tỷ;


2.1.2 Về giao dịch trái phiếu:


Khối ngoại mua : 3.256.553.435.000 đ / Bán : 1.924.711.683.000 đ; như vậy khối ngoại mua ròng trái phiếu là : +1.331.841.752.000 đ; việc mua ròng này kéo dài xuyên suốt cả tháng qua, chỉ cá biệt một phiên khối ngoại có bán ròng trái phiếu. Như vậy, ngược với TT cổ phiếu niêm yết, khối ngoại vẫn đang đổ vốn mạnh vào TT trái phiếu. (Số liệu trái phiếu tôi tính nhanh, nên có thể sai sót nhưng không làm sai lệch những kết luận mà tôi trình bày sau đây) Và bên bán trái phiếu có phải là các NHTM đang bị thiếu thanh khoản không? Một câu hỏi lý giải được một cách tường minh sẽ giúp cho người làm chính sách có cái nhìn cụ thể về cơn sốt lãi suất huy động vốn đang gia tăng chóng mặt trên TT.


Như vậy những căn cứ nói rằng khối ngoại đang đổ tiền vào CP cần phải xem lại; hành động của khối ngoại khi mua ròng trái phiếu chỉ chứng tỏ 1 điều, niềm tin vào khả năng tài chính của quốc gia có tăng lên trong mắt NĐT ngoại nhưng điều này không có nghĩa là sức mạnh thật sự của đa số các Cty niêm yết là đã đáng tin cậy đối với họ; hay nói cách khác, khối ngoại trong thời gian qua đã tích cực cơ cấu lại danh mục đầu tư một cách rất “ác liệt” chứ không phải là đã đổ tiền mua ròng vào TT cổ phiếu; con số (mới đầu là 26 triệu USD trong buổi giao lưu CK do Vneconomy tổ chức) sau đó điều chỉnh lại là 21 triệu USD của khối ngoại đổ vào TTCK Việt nam, nên được phân tích xem họ đổ tiền vào đâu; cái mà TT quan tâm nhất chính là tiền đổ vào TTCK ( cổ phiếu niêm yết) chứ không phải đổ vào đầu tư tài chính tại các Cty, các dự án BDS; vì có đổ tiền vào TT cổ phiếu mới là lực đẩy tác động tích cực cho TT, chứ còn đổ vào các lĩnh vực khác, hay đổ vào trái phiếu thì tác dụng là rất hạn chế với TTCK. Nhớ lại trước đây, có 1 phiên giao dịch, room dành cho khối ngoại còn lại ở SSI là 7 triệu cổ, đã bị khối ngoại bứng trọn, nhưng hiện nay, đến giờ này, chỉ trừ ACB trong nhiều tháng qua là room dành cho khối ngoại không bị biến động (room ngoại hiện = 0); còn thì SSI hay STB… vẫn có những thời điểm khối ngoại tiến hành bán ra; hiện tại hai mã này vẫn còn room dành cho khối ngoại từ 8,5 triệu đến 9,5 triệu cổ. Khối ngoại có thể vẫn muốn mua, nhưng không phải mua bằng bất cứ giá nào, nên room vẫn còn. Đây chính là điều mà các N ĐT khác trên TT nên lưu ý.


Hành động mua ròng Trái phiếu với mức độ ngày càng gia tăng, chứng tỏ khả năng biến động của TT ngoại tệ là khá nhỏ, nằm trong biên độ mà họ chấp nhận được, nên để tránh bị lãng phí chi phí cơ hội, nguồn tiền này không cần phải bảo lưu giá trị tính bằng USD mà chuyển sang trái phiếu vừa đảm bảo thanh khoản, vừa đảm bảo có lợi ở mức độ nhất định và hạn chế rủi ro thấp nhất; vậy nguồn tiền mua trái phiếu sẽ dành để làm gì? Chắc chắn đầu tư trái phiếu không phải là mục đích tối thượng của kẻ chuyên đầu tư tài chính, mà chỉ được xem như một cái giỏ để san sẽ rủi ro chứa đựng an toàn một nguồn tài chính dự phòng để có thể xung trận bất cứ lúc nào; vậy thì dễ thấy, nguồn tiền nằm ẩn nấp trong trái phiếu sẽ được nhanh chóng chuyển hóa thành tiền khi cơ hội đến; mà cơ hội đó là gì : là những DN lớn, có tiềm lực tài chính sắp niêm yết như VCB, Vietinbank, Sabeco, Habeco, hay là tiến trình CPH của các DN viễn thông; hay đầu tư vào các dự án bất động sản đang bắt đầu chuyển mình trong những tháng ngày sắp tới (lưu ý vốn FDI 2/3là được đổ vào TT BĐS).


Dù gì đi nữa; hành động không đổ thêm tiền vào CK niêm yết của khối ngoại trong những tháng mà TTCK sôi động, nóng bỏng vừa qua, cho thấy sự tin tưởng vào các DN niêm yết nhìn chung là có hạn, rủi ro chính sách, rủi ro quản trị của DN trong khi dấu hiệu nền kinh tế vĩ mô đã có sự phục hồi dần vẫn chưa đủ hấp dẫn đủ bù đắp cho rủi ro dự tính; TTCK vẫn chỉ là cuộc chơi do các NĐT nội khởi xướng và làm chủ, lướt sóng vẫn là đặc điểm lớn nhất; Vậy trong thời kỳ tăng nóng suốt cả tháng qua, trong TT ai là kẻ được lợi nhất; đó chính là :


1. Những NĐT lướt sóng, trong đó, tay nghề cao nhất vẫn là các NĐT ngoại khi họ vẫn bảo toàn được số vốn đã bỏ vào trong thời kỳ này, và sau đó lại lấy ra đủ kèm thêm một mớ lãi ròng; họ không đánh nhồi, đánh tất tay một cách mù quáng.


2. Kế tiếp những kẻ thắng lợi tiếp theo chính là : các DN/các cá nhân bị sa lầy trong TT tài chính từ 2008 trở về trước, nay nhân cơ hội TT lên, chủ động rút ra với cái giá thấp nhất mà họ có thể chấp nhận được, từ đó có nguồn tiền bổ sung cho lĩnh vực kinh doanh chính của mình.


3. Những NĐT trung hạn, những kẻ mai phục TT; đã cơ cấu lại danh mục đầu tư, thải loại được những mặt hàng tồn đọng, kém, mất phẩm chất, không có/hay có khả năng tăng trưởng thấp


4. Những DN có đầu tư tài chính, nhờ TT lên mà giảm bớt việc trích lập dự phòng đầu tư tài chính, tăng được lợi nhuận, từ đó mà chia cổ phiếu thưởng, tăng thêm vốn được thuận lợi hơn, một số rất ít DN khác nhân cơ hội TT lên mà IPO hay bán thêm được CP.


Sự phục hồi của TTCK thời gian qua, kèm với khoản tiền đầu tư trái phiếu ròng khá lớn của khối ngoại, sự dịch chuyển tiền trên TK tiền gửi của các NĐT cho thấy nguồn tài chính trong TT là lớn, nó mở ra hy vọng cho tiến trình CPH DN nhà nước sẽ có nhiều thuận lợi hơn nếu so với năm 2008; nhưng sự tăng nóng và đột biến của TT trong một khoảng thời gian ngắn, đã làm dấy lên lo ngại về sự ổn định của TT.


Điều đáng lo ngại nhất lúc này của TT là dính vào cái bẫy thanh khoản; một khi TT không thanh khoản (trắng bảng bên Mua) sẽ khiến TT lo ngại, vì nó ảnh hưởng lớn tới khả năng kiếm lời cũng như gia tăng rủi ro cho giới đầu tư. Chỉ số VN_index tăng hay giảm mạnh, không quá đáng lo ngại, nếu TT vẫn giữ được thanh khoản; vì các NĐT vẫn có thể kiếm ra lợi nhuận từ việc mua thấp bán cao; nhưng nếu TT không thanh khoản thì cũng gần như đóng sập cửa việc “rút khỏi TT” nếu muốn. TT đang quá dễ down mạnh bởi các NĐT mới nổi, nếu có vài phiên liên tiếp điều chỉnh giảm; họ sẽ là những người tháo chạy nhanh nhất, họ vào nhanh thì ra cũng nhanh không kém; bởi họ là những người vừa ít kinh nghiệm thương trường và kiến thức cũng như lòng kiên nhẫn thì có hạn.


Tuy nhiên, điều an ủi mà TT hy vọng có được lúc này, là sẽ không có tin gì quá xấu/hay không có những chính sách “mới” kìm hãm những gì đang thực hiện với mục đích chống tái lạm phát, được đưa ra trong khoảng thời gian mà Quốc Hội đang họp. Tất cả các vị LĐ từ quan chức cấp thấp đến cao, đang phải “ôn” để “trả bài” trước Quốc Hội, thì sẽ không còn thời gian để đưa ra bất cứ “chính sách gì” có thể làm tình hình “nóng bỏng thêm” dù quyết sách đưa ra có là cần thiết đi chăng nữa. Lúc này: TT xuất-nhập khẩu, tình hình lao động mất việc làm, việc đổ hàng nghìn tỷ đầu tư bauxite hiệu quả tới đâu, giá cả có chiều hướng tăng, đấu thầu trái phiếu liên tục thất bại, lãi suất huy động đang bước vào đợt chạy đua “vũ trang” mới, biển Đông sóng nổi ba đào… đã quá nhức đầu, thì việc TTCK lên, cũng như một làn gió mát “tạm mượn” để giải nhiệt. Nhưng sau đó thì sao? Xăng-dầu có điều chỉnh tăng giá không? Lãi suất cơ bản có điều chỉnh tăng không? Và những tác động của chính sách tiền tệ sẽ ảnh hưởng ra sao tới TT cũng chẳng có gì là khó dự đoán. Việc dự đoán qua tháng 6.2009 TTCK còn sẽ lên bởi kết quả kinh doanh tốt, sẽ là lạc hậu; vì thời gian từ đây đến hết tháng 06 không còn nhiều, đa số các DN đều đã ước lượng được khá chính xác kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2009 của mình rồi, thông tin cũng đã lọt ra ngoài nhiều, nên đã được thể hiện trong giá CP; Yếu tố chính thúc đẩy giá CK gia tăng thời gian qua chủ yếu là niềm tin được nhân lên bởi những tin tốt của kinh tế vĩ mô sau một chuỗi ngày dài ảm đạm, mòn mỏi đợi chờ.


TTCK trong thời gian qua, xét về khía cạnh vĩ mô là một sự thất bại và bỏ lỡ cơ hội cho những nhà làm chính sách và quản trị nền kinh tế.


Hãy xem lại TTCK Mỹ là 1 ví dụ điển hình; khi Chính phủ Mỹ thực hiện cứu hệ thống tài chính bằng chính sách giải trừ nợ xấu (TARP); nếu NH nào nhận tiền của chính phủ đều kèm theo những ràng buộc cụ thể, ví dụ: hạn chế nghiệp vụ, tăng cường kiểm tra báo cáo, bán bớt tài sản sinh lời kém để gia tăng tiềm lực tài chính, các NH không thể tự do hoạt động như trước bởi sự kiểm soát của chính phủ… Nhưng nếu NH nào muốn trả lại tiền cho chính phủ để nhận lấy sự tự do như trước, thì phải chứng minh NH mình đã đủ tiềm lực tài chính để không còn khả năng đỗ vỡ như trước nữa, mới được chính phủ đồng ý cho trả lại tiền; vậy để tăng tiềm lực tài chính, thì chỉ còn một số cách như bán bớt tài sản, mảng kinh doanh và bán (phát hành) thêm CP ra TT để gọi vốn. Cái hay của họ, là các NH này đã gọi thêm vốn thành công trong thời điểm TT rất xấu (bởi đã có Chính phủ chống lưng), nay TT tốt thêm, thì việc gọi vốn thêm lại càng thêm thuận lợi; như vậy; qua TT tăng giá, mà các tổ chức tài chính này cũng gia tăng tiềm lực, qua đó đối phó với rủi ro bất trắc tốt hơn. Như vậy, trong lúc TT đầy rủi ro, các NH Mỹ đã đánh đổi : SỰ AN TOÀN hơn là TĂNG CƯỜNG TÌM KIẾM LỢI NHUẬN (trước đây 1991-1999; VN cũng đã thực hiện cơ chế kiểm soát đặc biệt cho các NHTMCP như Việt Hoa, Thái Bình Dương, Eximbank... nhưng cách làm chỉ nữa mùa, và rất ít các NHTMCP sau thời kỳ kiểm soát đặc biệt có thể khôi phục hoạt động trở lại).


Còn VN thời gian qua, khi TT có thuận lợi, thì hầu như không một DN nào để ý phát hành tăng vốn mà phần lớn là chia cổ tức bằng tiền, phần còn lại chia bằng CP thưởng, như thế vốn điều lệ/đăng ký kinh doanh có tăng nhưng không nhiều; TIỀM LỰC TÀI CHÍNH THẬT SỰ của DN vẫn không hề được cải thiện tăng bao nhiêu so với cùng kỳ năm 2008 trong khi bối cảnh kinh doanh vẫn chưa hết khó khăn, các NHTMCP thì nhiều NH đang đứng trước khó khăn về thanh khoản của thời ký quý 1/2008. Các DN vẫn đang hướng về lợi nhuận cao mà không thấy rằng sự vững mạnh của DN trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn mới là yếu tố quan trọng nhất. Lúc này LẮM TIỀN quan trọng hơn là có khả năng CÓ LÃI CAO. Tại sao lại có tình trạng NH Đông Á (một NHTMCP khá mạnh) lại ĐƯỢC PHÉP TĂNG VỐN mà không phải là hình thức khuyến khích tăng vốn? Ví dụ: Lấy BBT làm dẫn chứng, có 2 trường hợp sau có thể xảy ra :


1.BBT tuyên bố rõ ràng với nhà đầu tư về những khó khăn đang vướng, những rủi ro có thể khi đầu tư vào BBT, cách thức phục hồi SX-KD mang tính khả thi cao, sự ủng hộ của cơ quan công quyền là có, khi hội đủ các yếu tố trên rồi, HĐQT của BBT tuyên bố tăng vốn lên xxx tỷ đồng; NĐT biết rõ ràng, có quyền lựa chọn mua hay không; Nếu NĐT mua CP BBT, thì BBT sẽ tốt lên nhiều chứ. Có lợi chung cho XH nhiều chứ. Như vậy cần khuyến khích hay chờ xin phép để được cấp trên duyệt ?


2.BBT không có gì rõ ràng, cứ mập mờ, và bán thêm CP ra TT; điều này gây rủi ro chung cho những NĐT không có nhiều thông tin, trường hợp này cơ quan công quyền cần can thiệp để bảo vệ quyền lợi chung, thì mới nên xin phép để rồi được xem xét, góp ý bổ sung và sau đó là cấp phép.


Thời gian qua, TT đã tăng rất nhanh, chủ yếu do yếu tố tâm lý dẫn dắt mà chưa phải là tăng bởi lý do chủ yếu là nền kinh tế đã thật sự khởi sắc, hay do các DN niêm yết đã thật sự mạnh; Nếu để ý rằng TTCK vận hành theo một quy luật là không theo một quy luật nào rõ ràng; hay NĐT chỉ có thể chắc chắn một điều là không có gì chắc chắn cả. Thì mới có thể bình tâm suy xét việc vào hay ra TT trong từng thời điểm. Khả năng TT lên nhanh, thì cũng giảm nhanh và sâu không phải là một khả năng không thể xảy ra. Còn lúc này đây, một câu hỏi khó có lời đáp là những mặt hàng “tồn kho”; “kém chất lượng” suốt cả tháng qua được TT tiêu thụ, chuyền tay nhau, thì ai sẽ là người lãnh hậu quả cuối cùng ?


2.2 Về TT Tín dụng & hoạt động Ngân hàng :


Kênh tín dụng vẫn đang được mở với sự thận trọng lo lắng không chỉ của NHNN mà ngay các tổ chức tài chính quốc tế và các nhà tài trợ đang họp tại Buôn Mê Thuột cũng tỏ vẻ quan ngại; chính sách tiền tệ vẫn đang được xem là công cụ chủ yếu để kích thích tăng trưởng, chống suy giảm kinh tế. Tốc độ tín dụng tăng nhanh, nguồn vốn thiếu hụt, xuất hiện chỉ dấu khả năng thiếu thanh khoản của một số NHTMCP trung bình, đã đẩy tốc độ tăng lãi suất huy động lên chóng mặt. Điểm đáng chúÝ trong thời gian gần đây của giới NH là:


1.Vị thế độc lập của NHNN trong thực thi chính sách tiền tệ của quốc gia hiện tại là khá hạn chế, nhưng may thay, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã cho thấy nhu cầu độc lập của NHNN trở nên cấp thiết hơn; NHNN phải trở thành cơ quan độc lập với chính phủ trực thuộc quốc hội để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, ổn định giá trị đồng tiền chứ không thể là một cơ quan trực thuộc chính phủ, vì như thế dễ biến NHNN thành “cấp NS thứ hai” ngoài Bộ Tài chính để cung tiền cho các chính sách kinh tế mà chính phủ theo đuổi nhiều khi mang nặng sự cấp phát còn rơi rớt lại từ thời bao cấp. Vừa qua NHNN đã bị Chính phủ từ chối việc kết hối (bản thân người viết cũng không đồng tình với cách kết hối ở diện rộng này) và phải chịu áp lực rất lớn khi kiên quyết giữ nguyên lãi suất cơ bản mà không hạ xuống để mở rộng chính sách tiền tệ thêm nữa.


2.Cung tiền vào lưu thông tăng nhanh qua 2 kênh Ngân sách (chi tiêu công) và Tín dụng ngân hàng; dấu hiệu tái lạm phát đã có, nợ xấu có chiều hướng tăng nhanh; nhưng NHNN không thể dùng các công cụ kinh tế tại thời điểm này để hạn chế tăng trưởng tín dụng mà chỉ có thể dùng các công cụ thanh tra/hành chính để khuyến cáo hệ thống NHTM nâng cao chất lượng tín dụng; theo thông tin mà báo chí đăng tải, nợ xấu của NHTM đang còn ở mức dưới 3%-5% tuỳ từng NHTM; thế nhưng theo tài liệu của WB, tổ chức đánh giá tín nhiệm Fitch đánh giá nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam là 13%. Dự đoán: Tín dụng ngân hàng thời gian tới chắc sẽ có những thay đổi nặng về chất chứ không nghiêng về Cung như đã qua.


3.Trong tình hình TTCK hiện tại, khi mà việc tăng vốn của các DN vẫn chưa thể khởi động lại như trước đây; việc phát hành trái phiếu liên tiếp thất bại, trong khi chính sách kích cầu vẫn chưa có dấu hiệu chậm lại, thì gần như phần lớn nhu cầu vốn kinh doanh tăng thêm đang đè nặng lên hệ thống NHTM; tức cũng đè nặng lên NHNN; nhưng đồng thời NHNN lại phải vừa làm thêm chức năng là một cái phanh (thắng) để loại bỏ hay giảm tới mức tối thiểu khả năng tái lạm phát quay trở lại; Vậy, NHNN đang thực hiện 2 nhiệm vụ đồng thời: Vừa đá bóng-Vừa thổi còi; nên hiệu quả đạt được chắc chắn sẽ có phần hạn chế;


4.Dự đoán trong quí 3, NHNN sẽ phải cân nhắc và bảo vệ lí lẽ trước Chính phủ nếu muốn tăng lãi suất cơ bản lên từ 0,5%-1%; để giữ mức tăng tín dụng trong phạm vi an toàn (tối đa tăng +30%) mà có hiệu quả nhất cho toàn bộ nền kinh tế.


5.Cần có kế hoạch khuyến khích các NHTMCP tăng vốn trước thời hạn; nhưng vẫn bảo vệ được sự an toàn của hệ thống về an ninh tiền tệ-tài chính khi giới hạn room của NĐT nước ngoài ở mức hiện tại. Nếu cần thiết phải có chính sách sát nhập bắt buộc,


2.3 Về kinh tế vĩ mô :


Trong khủng hoảng tài chính toàn cầu, so với nhiều quốc gia khác, Việt Nam vẫn được nhìn nhận sự có những thành công nhất định trong việc chống suy giảm kinh tế; giữ được mức tăng GDP khá (3,1% quí 1/2009); trong báo cáo của WB tại hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho VN họp tại tp.Buôn Mê Thuột đã nêu bật thành quả này; ngoài ra WB còn có những lời có cánh khác dành cho những chính sách của Chính phủ đã ban hành trong 5 tháng đầu năm 2009; thế nhưng phần kết luận mang tính khuyến nghị lại chứa đựng nhiều sự cảnh báo “nặng nề” hơn; Báo cáo của IMF thì thẳng thắn hơn, ngắn gọn và nêu bật nhữngý chính mà tổ chức này lo ngại về dấu hiệu tái lạm phát do tăng cung tin dụng, tăng chi tiêu cho kích Cầu trong khi nguồn chi lại chưa được làm rõ; cần khống chế được mức bội chi ngân sách; IMF dự đoán GDP năm 2009 của VN sẽ tăng ở mức 3,5% so với con số mong đợi của VN là 5%-5,5%; IMF cũng khuyến cáo giảm tốc tăng trưởng tín dụng, phá bỏ rào cản lãi suất như hiện tại [(tự do hóa lãi suất (?)]; xem xét lại chính sách hỗ trợ lãi suất...


Tuy các khuyến nghị của 2 tổ chức tài chính WB và IMF chưa chắc đã là phù hợp và nên được xem là phương thuốc chữa trị hữu hiệu căn bệnh suy giảm kinh tế của VN nhưng có nhiều điều rất đáng suy nghĩ; và nếu thực hiện thì có nghĩa là các DN sẽ phải chịu đựng sự kham khổ trong gian khó.


Thời gian qua, đã có nhiều í kiến của các chuyên gia kinh tế trong nước phát biểu về những lo ngại của họ về những rủi ro có thể xảy ra trong việc thực hiện chính sách/biện pháp quản lí/cách thức thực hiện...; và cũng không rõ có mối quan hệ nào giữa những báo cáo này với sự sụt giảm của TTCK ngày hôm nay; nhưng nếu một khi ta cho rằng “những tài liệu này là đáng để tham khảo” thì nhất định nó phải biến thành hành động với sự cẩn trọng cao hơn trước của các NĐT, chứ không có thể còn “hồ hởi phấn khởi” như trước nữa, như vậy, nếu TT có phản ứng “ngược” với những thông tin có được, cũng không có gì lạ; giống như ô.Bernanke chủ tịch Fed tối nay phát nhìn nhận về nền kinh tế Mỹ, nếu xấu,không khả quan; thì DJ sẽ cắm đầu liền.


Tóm lại, kinh tế vĩ mô dù được nhìn nhận đã có những dấu hiệu tích cực; đi lên, nhưng khó khăn chưa phải đã hết, trong thời gian này, chỉ cần “người cầm lái” không chắc tay, phiêu lưu, duy í chí... thì rủi ro sẽ xảy ra liền, và mọi thành quả đã đạt được, chắc sẽ bị xoá sạch, và hậu quả của nó nền kinh tế sẽ phải gánh khi bước qua năm 2010.


Để tăng nguồn thu và hạn chế tính đầu cơ thổi giá trên bất cứ TT nào thì chính phủ cũng phải: Khơi tăng và góp phần thổi tan băng của TT BĐS; tăng cung hàng chất lượng cao cho TTCK (tiến hành niêm yết các DN lớn đã IPO; đẩy mạnh IPO các DN thuộc hàng khủng khác trong các ngành viễn thông, dầu khí, điện lực, khoáng sản...); thúc đẩy đầu tư cơ sở hạ tầng và giáo dục đào tạo; chú í nhiều hơn cũng như tăng đầu tư nhiều hơn cho các ngành nghề thuộc lĩnh vực nông nghiệp-nông thôn nơi mà có đến gần 80% dân số VN sinh sống; để nông nghiệp một lần nữa lại là lĩnh vực giúp nền kinh tế có thể hạ cánh mềm, để VN một lần nữa vượt thoát khỏi khủng hoảng kinh tế một cách thành công như đã từng làm năm 1986 khi VN tiến hành đổi mới.


2.4 Các bài viết tham khảo :


- Bài phát biểu của đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại Hội nghị giữa kỳ nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam tổ chức tại tp Buôn Mê Thuột ngày 8&9 tháng 06/2009 => [url="http://www.imf.org/external/np/dm/2009/060309V.pdf">