Kinh tế Mỹ chỉ suy thoái Hay còn suy nặng hơn?

hai từ tiếng Anh trong kinh tế học mà qua thời gian tự nó đã thay
đổi nội dung, khi chuyển sang tiếng Việt lại càng phân vân, không biết
dùng từ nào cho tiện nhất; đó là recession và depression.


Suy thoái và tiêu điều

Tuần trước, trên báo chí ở Mỹ có nhiều người bàn rằng kinh tế Mỹ năm
nay có thể bước vào tình trạng depression chứ không phải chỉ là
recession nữa. Nghĩa là sản lượng cả nước sẽ xuống nặng nề hơn. Khi
viết về chuyện này trên nhật báo Người Việt chúng tôi gọi recession là
“suy thoái” và depression là “khủng hoảng kinh tế.” Nhưng viết xong rồi
nghĩ đi nghĩ lại, thấy những chữ “khủng hoảng kinh tế” không ổn. Vì
người Việt Nam thường dùng chữ “khủng hoảng” khi diễn tả tình trạng mà
tiếng Anh gọi là “crisis;” thí dụ cơn “credit crisis” bây giờ ta gọi là
“khủng hoảng tín dụng.” Cần phải giữ quy tắc nhất quán khi chuyển từ
ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác. Nếu người ta không nói đến “economic
crisis” thì mình cũng không nên dùng những chữ “khủng hoảng kinh tế.”

Khi phân vân trước các thuật ngữ khoa học và kinh tế học nói riêng,
một cách gỡ rối là thử tìm xem những nhà chuyên môn ở những nước dùng
chữ Hán họ dịch thế nào. Khi soạn các danh từ khoa học cho nước ta hồi
1940, cụ Hoàng Xuân Hãn đã nhiều lần tham khảo theo cách đó. Những từ
“kinh tế,” “tài chánh,” “thị trường,” đều gốc chữ Hán Việt cả.

Đối với chữ “recession” thì dễ, người Trung Hoa ở lục địa, Đài Loan hay
Hồng Kông đều dùng những chữ “suy thoái” (chúng tôi đã dùng theo thói
quen trước khi tham khảo thuật ngữ của họ). Còn khi dịch chữ
“depression” thì họ dùng những chữ mà chuyển sang tiếng Việt thấy rất
khó nghe. Người Trung Hoa ở cả ba nơi trên đều dùng những chữ “bất cảnh
khí” để dịch depression; ngoài ra họ còn dùng những chữ “kinh tế tiêu
điều.” Nói đến “bất cảnh khí” thì chắc các độc giả người Việt mình
chẳng hình dung được nó là cái gì. Còn những chữ “kinh tế tiêu điều”
thì nghe tiêu điều thật, nhưng trong cảm quan ngôn ngữ của người Việt
mình, “tiêu điều” là những tiếng nghe rất văn chương, để các thi sĩ tả
cảnh lá rụng cuối mùa thu hay hơn là để tả một tình trạng kinh tế! Vả
lại, người Việt nghe hai từ “suy thoái” và “tiêu điều” nghe thấy tiếng
nào có vẻ nặng nề hơn, tức là “tiêu điều” hơn? Rất khó quả quyết!

Cho nên trong việc dịch chữ “depression” tôi thấy không thể theo lối
người Trung Hoa được. Xin tạm dùng từ “kinh tế suy sụp,” hy vọng rằng
nghe thấy nó nặng nề hơn là suy thoái, và không quá nặng như khủng
hoảng mặc dù nó cũng làm khối người bị khủng hoảng!

Tháng Giêng năm 2009 nước Mỹ đã chính thức bước vào một giai đoạn suy
thoái, theo định nghĩa trường ốc. Các nhà nghiên cứu thường coi kinh tế
bước vào suy thoái (recession), khi tổng sản lượng nội địa (GDP) giảm
xuống hai quý liên tiếp. Sau khi đã giảm bớt 0.5% một năm trong quý thứ
ba năm 2008, GDP còn giảm khoảng 5% trong quý thứ tư (các tỷ lệ đều
tính với con số thay đổi cho một năm). Tuy nhiên, định nghĩa trên chỉ
có tính chất hình thức. Có những cơ quan nghiên cứu tư nhân (như NBER ở
New York) dùng một định nghĩa rộng rãi hơn là chỉ ghi nhận GDP đi
xuống. Họ nhìn chung cả những chỉ số khác như số người mất việc, số đơn
đặt hàng, vân vân; cho nên họ đã coi cuộc suy thoái kinh tế lần này bắt
đầu từ tháng 12 năm 2007. Nếu như vậy, thì kinh tế Mỹ đã suy thoái được
hơn một năm rồi. Với đà này, nó có thể sẽ bị coi là lâm vào một cuộc
suy sụp (depression) chứ không phải chỉ là suy thoái mà thôi.

Không có một định nghĩa chung, được nhiều người chấp nhận, về tình
trạng kinh tế suy sụp (depression). Có hai khuynh hướng. Một số chú ý
đến cường độ suy thoái; họ coi là kinh tế suy sụp nếu Tổng Sản lượng
Nội địa có lúc giảm trên 10% một năm. Một số khác chú ý tới thời gian,
khi nào cơn suy thoái kéo dài từ 3 năm trở lên thì coi là kinh tế suy
sụp. Giai đoạn 1930 nước Mỹ lâm vào “đại khủng hoảng,” kinh tế suy sụp
theo cả hai lối định nghĩa trên. Vì cơn thoái trào đã kéo dài 43 tháng
và có lúc GDP giảm mất 13% trong một năm.


Kinh tế ổn định hơn trước

Đời sống của các thuật ngữ kinh tế cho chúng ta thấy các người nghiên
cứu kinh tế học đã thay đổi mà bản chất của đời sống kinh tế cũng thay
đổi. Từ cuộc “đại khủng hoảng” 1930 đến nay, có thể nói việc nghiên cứu
và quản trị kinh tế đã tiến bộ rất nhiều và các chu kỳ kinh tế lên
xuống cũng nhẹ nhàng hơn, không còn dữ dội như thế kỷ trước. Có thể nói
nhờ loài người hiểu rõ hơn nên biết cách làm cho những cơn thịnh suy
kinh tế cũng ổn cố hơn xưa. Người ta chưa làm cho kinh tế hoàn toàn ổn
cố, mà chắc không bao giờ chấm dứt được cảnh lúc lên lúc xuống; nhưng
nói chung nó đã ổn định hơn nhiều.

Thực ra từ ngữ “recession” trong kinh tế học cũng là một từ “mới.”
Trước năm 1930, hầu hết khi nào kinh tế thoái trào người ta đều gọi là
depression, kinh tế suy sụp. Khi đó các cơn suy thoái thường kéo dài
hơn hoặc nặng nề hơn bây giờ. Nhưng kể từ thập niên 1950 đến nay, các
cơn suy thoái nhẹ bớt và ngày càng ngắn dần. Lần cuối cùng vào năm 2001
thì GDP nước Mỹ giảm chưa tới 2% (theo tỷ lệ một năm) và chỉ kéo dài
khoảng 8 tháng. Chính vì sự thay đổi đó nên các nhà nghiên cứu thấy cần
dùng một từ mới, recession, suy thoái kinh tế, để phân biệt với hiện
tượng depression trong quá khứ.

Lý do khiến kinh tế xuống nhẹ và ngắn hơn chính vì những người điều
hành kinh tế quốc gia đã khôn ngoan học được kinh nghiệm cũ để tìm ra
phương pháp mới đối trị với suy thoái kinh tế. Tất nhiên, cứ mỗi khi
chúng ta học được phương thuốc đìêu trị một chứng bịnh cũ thì thế nào
cũng khám phá ra những chứng bệnh mới!

Trước cuộc khủng hoảng 1930 thế giới còn dùng vàng làm vật bảo đảm cho
đồng tiền, khi kinh tế xuống thì số lượng tiền lưu hành tự động giảm
bớt. Lúc đó khối lượng tiền trong kinh tế Mỹ giảm bớt một phần ba. Cộng
với các chính sách sai lầm bảo hộ mậu dịch, lưu lượng tiền giảm bớt
khiến cho kinh tế Mỹ càng lún xuống nặng nề. Bây giờ khi biết kinh tế
đang xuống, các ngân hàng trung ương và chính phủ đều tung thêm tiền
vào trong xã hội để mọi người tiêu tiền và kích thích tạo thêm công
việc làm mới. Đồng thời chính phủ cũng tăng hoặc kéo dài thời gian lãnh
trợ cấp thất nghiệp, giảm thuế cho mọi người, là những cách đưa tiền
cho dân chúng tiêu thụ thêm. Những chính sách đó có tác dụng giảm bớt
cường độ suy thoái và cắt ngắn thời gian kinh tế đi xuống.
Phải kích cầu mạnh mẽ

Năm 2009 kinh tế Mỹ có hy vọng chỉ bị suy thoái mà không rơi vào suy
sụp hay không? Hiện nay chúng ta chưa biết chắc. Vì cuộc suy thoái lần
này có nguyên nhân khác mấy lần trước đây.

Bình thường thì cảnh suy thoái diễn ra khi kinh tế tăng trưởng quá đà,
ngân hàng trung ương bèn thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất để
ngăn ngừa lạm phát; hành động đó khiến cho các hoạt động kinh tế giảm
đi. Lần này, kinh tế Mỹ xuống vì những lý do khác nữa, trọng tâm là
cuộc khủng hoảng tín dụng.

Trong những cơn suy thoái bình thường, ngân hàng trung ương sẽ thay đổi
chính sách tiền tệ, bằng cách giảm lãi suất và bơm thêm tiền vào xã
hội. Các ngân hàng, các xí nghiệp và người tiêu thụ sẽ vay tiền và chi
ra, giúp giảm bớt tốc độ suy thoái rồi phục hồi dần dần. Nhưng trong
trường hợp như hiện nay, các biện pháp tiền tệ trên không hiệu quả như
cũ. Vì khủng hoảng tín dụng nên cả hệ thống ngân hàng không còn đóng
được vai trò “chuyển” các chính sách của ngân hàng trung ương vào xã
hội một cách bình thường nữa.

Khi các ngân hàng thương mại giữ trong tay hàng ngàn tỷ mỹ kim mà họ
vẫn không đem cho vay; còn các người tiêu thụ và các xí nghiệp cũng dè
dặt không dám đi vay như trước nữa, hệ thống ngân hàng hầu như đang bị
“tê liệt”. Khi đó, các chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương
không tạo được tác động như thường lệ nữa.

Cho nên cả nước Mỹ đồng ý với nhau, người bảo thủ cũng như người cấp
tiến, **** CH cũng như **** Dân Chủ, là phải Kích Cầu! Phải dùng guồng
mấy nhà nước chi tiền trực tiếp, đẩy tiền thẳng vào tay người tiêu thụ
và các xí nghiệp, không cần đi qua hệ thống các ngân hàng! Ngày 20
tháng Giêng này tổng thống tân cử Barack Obama sẽ đứng ra lãnh nhiệm vụ
thi hành chính sách đó.

Đỗ Quý Toàn