Chủ đề: Phái trung lập
Hybrid View
-
06-02-2009 08:46 AM #1
Re: Cung tăng, cầu giảm do đâu?
[quote user="hoadoquyen"]
[quote user="stockpro"]Cũng giống như các đợt bán tháo trước đây, chúng ta cần tỉnh
tảo để tìm điểm cân bằng cung = cầu, lúc đó ta sẽ có mức giá trao đổi
cp chấp nhận từ thị trường.[/quote]
em cho là tìm ra được điểm cân bằng cung cầu cũng phụ thuộc khá nhiều vào độ nhạy cảm của mỗi bác
bọn em đang cầm xiền nhưng không dám giải ngân ở một vài cổ phiếu và không dám giải ngân ở một số mức giá
dường nhu mọi tự tin trước đây đã biến mất, tuy nhiên có 1 điểm sáng là chỉ sổ đo lực đang có thay đổi, bọn em chờ thêm tín hiệu PTKT nữa, về tâm lý nhà đẩu tư VST có vẻ đáng mừng hơn khi mới Tết ra đã sôi động
[/quote] Điều quan trọng hiện nay phải xem xét và đánh giá xem ai đang tham gia mua cp trên thị trường hiện nay? Đó là cốt yếu của mọi vấn đề, tỷ lệ đầu cơ/đầu tư đã thay đổi đáng kể, cần có những định lượng lại cho chính xác? Khi biết được điều này ta mới xây dựng được 1 chiến lược kinh doanh hiệu quả?
Chúc chị thành công mỹ mãn,
-
06-02-2009 09:08 AM #2
Phải đối đầu với hậu "Kích cầu của Thế Giới"?
Phải đối đầu với hậu "Kích cầu của Thế Giới"?
Hàng nghìn tỷ đô-la được rải khắp các quốc gia trên thế giới nhằm kích cầu tiêu dùng, giải quyết hàng tồn kho của các siêu tập đoàn sản xuất đa quốc gia. Tình cảnh ế ẩm, không tiêu thụ đường hàng đã làm cho các tập đoàn này không còn bình tĩnh được nữa, họ bắt đầu thu lỗ và cắt giảm chi phí, xa thải công nhân, ngừng sản xuất 1 thời gian ... Nhưng hình như những cách này vẫn chưa cho thấy sự hiệu quả đáng kể nào. Bước tiếp theo có thể hình dung ra rằng họ sẽ phải tiếp tục giảm giá mạnh sản phẩm của mình nhằm thu hồi vốn vì khi nhận gói hỗ trợ của chính phủ thì các tập đoàn cũng cam kết tạo ra những công việc mới nhiều hơn, do vậy những sản phẩm thay thế (giá rẻ) sẽ bắt đầu xuất hiện trên thị trường tiêu dùng, người ta sẽ làm cho nhiều sản phẩm rẻ đi, dùng nguyên vật liệu thay thế giá rẻ, tiết giảm chi phí... Như vậy, sắp tới sẽ có dòng sản phẩm tương tư nhưng giá sẽ rất rẻ ồ ạt trên khắp thị trường thế giới. Các Doanh Nghiệp VN đã bắt kịp xu hướng này của thế giới hay chưa?
Sự cạnh tranh các sản phẩm thay thế giá rẻ sẽ bắt đầu sôi động trong những tháng tới nhằm chiếm lĩnh thị phần, khách hàng tiêu dùng... Các DN sx không nên chủ quan và cũng nên có sách lược đối phó. Người tiêu dùng trên khắp thế giới sẽ được hưởng lợi khá nhiều từ những gói kích thích kinh tế ấy. Gói chống suy giảm kinh tế cũng cần phải tính đến yếu tố này vì thế giới đang vận động rất rất nhanh.
(còn tiếp)
stockpro
-
07-02-2009 07:11 PM #3
Re: Phải đối đầu với hậu "Kích cầu của Thế Giới"?
[table] [table] [img]http://quacauvang.com.vn/Portals/0/PortalImages/chinhsachtmthoikh.jpg" width="130">
[/table]Chính sách thương mại thời khủng hoảngVới
một số đặc điểm riêng, Việt Nam cần áp dụng một chính sách thương mại
đặc thù hơn so với trào lưu chung trong bối cảnh hiện nay. Nhưng khi
“cơn bĩ cực” đã qua đi, một chính sách thương mại tự do theo đúng tinh
thần trong các thỏa thuận thương mại luôn là một chính sách cần thực
hiện.
Trong
thời khủng hoảng và suy thoái, tổng cầu trên toàn thế giới và trong
từng quốc gia suy giảm mạnh. Để sống còn, phần lớn các quốc gia có xu
hướng coi việc thúc đẩy xuất khẩu và bảo vệ thị trường trong nước là
chiến lược ưu tiên hàng đầu để duy trì số lượng công ăn việc làm và
tránh những đổ vỡ lớn trong nền kinh tế. Với chiến lược này, sẽ có một
cuộc đua “làm nghèo hàng xóm” xảy ra, mà ở đó hàng hóa của một nước nào
đó được bán với giá thấp (đôi khi là phá giá, do được trợ cấp của Chính
phủ) sang các nước trong khu vực và trên thế giới, còn thị trường trong
nước của họ thì được bảo hộ bằng một loạt các biện pháp thuế quan và
phi thuế quan như hàng rào kỹ thuật và quota.
Mặc dù có những thỏa thuận thương mại song phương và đa phương có vai
trò như một công cụ kiểm soát nạn bán phá giá và bảo hộ mậu dịch thái
quá nhưng những thỏa thuận này bao giờ cũng có khe hở, có vùng xanh,
vùng vàng để các nước có thể “lách” khi cần. Bởi vậy mới có chuyện hàng
hóa Made in China lấn lướt cả thế giới và Việt Nam đang áp dụng hình
thức bù lãi suất như là một cách để hỗ trợ sản xuất và xuất khẩu mà
không sợ bị vi phạm một thỏa thuận nào. Những nước phát triển khác thì
lại áp dụng các hàng rào kỹ thuật cho hàng nhập khẩu để loại bỏ đối thủ
cạnh tranh đến từ những nước đang phát triển.
Về lý thuyết, cuộc chiến thương mại giữa các quốc gia trên phạm vi khu
vực và toàn cầu sẽ chỉ dẫn đến thiệt hại chung cho tất cả nếu xét đến
yếu tố tăng trưởng. Tuy nhiên, thực tế không hoàn toàn đơn giản theo
một chiều là tự do thương mại nhất định thắng, nhất định thay thế chủ
nghĩa bảo hộ. Mỗi một quốc gia, một nhóm nước lại có một mục tiêu ưu
tiên cụ thể cho từng thời kỳ, không hiếm khi là hậu quả của sự vận động
hành lang của các nhóm lợi ích. Trong thời khủng hoảng, nhiều nước ưu
tiên mục tiêu chống thất nghiệp trên diện rộng và chính sách bảo hộ mậu
dịch và/hoặc “làm nghèo hàng xóm” vì thế được coi là cần thiết và xác
đáng.
Đối với Việt Nam, chiến lược nào là cần thiết? Đương nhiên, vấn đề ở
Việt Nam cũng là vấn đề chung của cả thế giới nên việc áp dụng chiến
lược trên dường như là điều hiển nhiên. Tuy nhiên, ta cần lưu ý một số
đặc thù của Việt Nam so với các nền kinh tế đang phát triển khác (trong
khu vực). Thứ nhất, chính sách kích thích xuất khẩu bằng các biện pháp
hỗ trợ thường diễn ra ở những nước mà Chính phủ của họ có một ngân quỹ
kha khá, đủ để tiến hành trợ cấp xuất khẩu mà không lo gây ra những bất
cân đối vĩ mô khác như lạm phát, thâm hụt ngân sách, phá giá quá mức
bản tệ và sự tháo chạy của các nhà đầu tư nước ngoài. Ở Việt Nam, chỉ
tiêu này là một trong những chỉ tiêu yếu so với tiêu chuẩn chung của
khu vực và trên thế giới. Do đó, tuy về nguyên tắc, Chính phủ cần phải
hỗ trợ xuất khẩu nhưng việc này sẽ gây ra những tổn thất về ngân sách
mà buộc phải bù đắp bằng vay mượn và in tiền, là mầm mống độc hại cho
nền kinh tế ngay kể cả trong ngắn hạn. Hơn nữa, tổn thất ngân sách chưa
chắc đã được bù đắp bởi nguồn lợi thu được từ việc tăng trưởng xuất
khẩu nhờ trợ cấp như thế này. Nếu đúng như vậy thì thay vì trợ cấp xuất
khẩu từ ngân sách, điều có thể làm một cách đơn giản và hiệu quả hơn là
đem phần ngân quỹ đó trực tiếp cấp phát cho các doanh nghiệp xuất khẩu
nếu họ cam kết giữ nguyên quy mô lao động.
Thứ hai, nền kinh tế Việt Nam chưa đạt đến tư cách là một nền kinh tế
thị trường. Mọi bảo hộ đối với thị trường trong nước nhìn chung chủ yếu
có lợi cho những doanh nghiệp độc quyền, mà điều đáng tiếc là do hạn
chế trong quản lý, lợi nhuận độc quyền không đến được ngân sách nhà
nước, và tức là đại chúng không được hưởng lợi gì từ sự bảo hộ này. Sự
độc quyền còn bóp méo và làm suy giảm hiệu quả kinh tế trong việc sử
dụng các nguồn lực khan hiếm của các doanh nghiệp đang hoạt động trong
nền kinh tế.
Chỉ xét riêng hai đặc thù này thôi cũng đã cho thấy Việt Nam cần phải
áp dụng một chính sách thương mại đặc thù hơn so với trào lưu chung.
Chính sách thương mại đó cần thiết phải hướng vào việc thúc đẩy xuất
khẩu nhưng không phải là dựa vào các biện pháp hỗ trợ vật chất như trợ
cấp, vay vốn với lãi suất thấp, miễn giảm thuế v.v... là những biện
pháp dùng ngân sách, mà phải dựa chủ yếu vào việc cải cách hành chính
và quản lý kinh tế sao cho chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất cho
xuất khẩu giảm thiểu (ví dụ, cải cách thủ tục hải quan để rút ngắn thời
gian hàng nằm tại cảng, giúp doanh nghiệp cắt giảm được chi phí kho bãi
và các loại phí khác có liên quan, cắt giảm được các khoản chi phí “lót
tay”...).
Chính sách thương mại đó cũng cần thiết phải hướng đến việc bảo hộ có
chọn lọc những ngành, những lĩnh vực nào đã có sự cạnh tranh mang tính
thị trường cao độ giữa các doanh nghiệp trong nước (ví dụ như ngành
thủy sản, dệt may, da giầy) và ít sự hiện diện và chi phối của các
doanh nghiệp nhà nước. Rất may là những ngành và lĩnh vực này thường là
những ngành có đặc tính thâm dụng lao động nên bảo hộ những ngành này
sẽ đạt được mục tiêu chống thất nghiệp. Những ngành có sự độc quyền, có
đặc tính chung là thâm dụng vốn, sử dụng ít lao động, nên nếu có được
bảo hộ thì vẫn không ngăn được tình trạng thất nghiệp trong khi càng
làm trầm trọng thêm tình trạng độc quyền, lũng đoạn thị trường của
những doanh nghiệp này.
Trên hết, cần nhớ rằng chính sách thương mại nói trên chỉ là, chỉ nên
mang tính nhất thời nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng hiện nay. Khi
“cơn bĩ cực” đã qua đi, một chính sách thương mại tự do theo đúng tinh
thần trong các thỏa thuận thương mại luôn là một chính sách cần thực
hiện.
Theo Người Đại Biểu Nhân Dân
[/table]
-
11-02-2009 08:46 AM #4
Bao giờ cho tới ngày xưa?
Bao giờ cho tới ngày xưa?
Ngày xưa, nhà đầu tư được xem như là 1 nghề, 1 nghề mà nhiều người chấp nhận và vô cùng hấp dẫn. Ngày nay, thì hoàn toàn ngược lại, đã từ lâu rồi TTCK VN đã không còn những phiên giao dịch kỷ lục, khi đó mua được cổ phiếu gần như là may mắn. Vấn đề chứng khoán xuất hiện hầu hết trên các mặt báo giấy còn bây giờ thì chỉ còn những bài viết trên những trang báo điện tử. Ngày xưa, thành phần tham gia CK vô cùng rộng lớn hầu hết là các thành phần kinh tế: quĩ đầu tư, tổ chức tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp, cá nhân... trong và ngoài nước. Người tham gia vào CK đã tăng một cách đột biến khiến cho hệ thống giao dịch CK của HOSE đôi lúc có những trục trặc, nhiều CTCK không thể đáp ứng nhu cầu đặt lệnh của khách hàng, tiền chảy vào trong đầu tư CK như là dòng nước mùa lũ. Trong một thời gian khá ngắn TTCK VN đã phải chứng kiến việc nhiều cty trên và ngoài sàn lập các cty Ck (là những cty con hoặc liên doanh), để xoá bỏ đisự khó khăn trong giao dịch, tình trạng giao dịch khó khăn đã không còn xuất hiện, nhiều nhà đầu tư đã không còn 1 cái cảm giác là đặt lệnh như không biết mình có khớp được hay không?
Đã qua rồi cái ngày xưa đó nhưng cũng phải công nhận TTCK VN có nhiều nuối tiếc đáng buồn, việc TTCK xây dựng trên nền tảng công nghệ yếu đã lấyđi những cơ hội, phiện muộn cho không ít nhà đầu tư. Riêng về đối tượng sở hữu cổ phiếu cũng là vấn đề đáng bàn, nhiều DN trên sàn sở hữu ck chồng chéo lẫn nhau, như thế sự ảnh hưởng dây chuyền nếu có 1 DN lớn nào gặp khó khăn thì sự suy giảm sẽ kéo theo hàng loạt những DN khác cùng bị ảnh hưởng về mặt phải trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán, điều này làm suy giảm lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh... Chính vì lý do này mà hàng loạt các CTy Niên Yết đã rơi vào tình trạng khó khăn vì khoản đầu tư tài chính và trên thị trường giá cổ phiếu của chính bản thân cty đã rơi thảm hại làm ảnh hưởng đến việc tài trợ vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và duy trì sản xuất. Khi thị trường gặp khó khăn họ (các DN) đành bán đi những ck họ sở hữu, điều này làm cho TTCK liên tục lao dốc, trong năm qua đã có những cuộc đại thanh lý cp dạng như trên... Điều này có còn tiếp tục diễn ra nữa hay không? Chúng ta đang phải đối mặt với những vấn đề khó khăn này ngoài những khó về kinh tế nói chung.
Sự nuối tiếc thấy rõ trên gương mặt những nhà đầu tư tạm rời xa sàn chứng khoán, những người còn lại tiếp tục hy vọng "Bao giờ cho đến ngày xưa"
(còn tiếp)
stockpro
-
11-02-2009 10:48 AM #5
Re: Bao giờ cho tới ngày xưa?
[quote user="stockpro"]
Bao giờ cho tới ngày xưa?
Ngày xưa, nhà đầu tư được xem như là 1 nghề, 1 nghề mà nhiều người chấp nhận và vô cùng hấp dẫn. Ngày nay, thì hoàn toàn ngược lại, đã từ lâu rồi TTCK VN đã không còn những phiên giao dịch kỷ lục, khi đó mua được cổ phiếu gần như là may mắn. Vấn đề chứng khoán xuất hiện hầu hết trên các mặt báo giấy còn bây giờ thì chỉ còn những bài viết trên những trang báo điện tử. Ngày xưa, thành phần tham gia CK vô cùng rộng lớn hầu hết là các thành phần kinh tế: quĩ đầu tư, tổ chức tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp, cá nhân... trong và ngoài nước. Người tham gia vào CK đã tăng một cách đột biến khiến cho hệ thống giao dịch CK của HOSE đôi lúc có những trục trặc, nhiều CTCK không thể đáp ứng nhu cầu đặt lệnh của khách hàng, tiền chảy vào trong đầu tư CK như là dòng nước mùa lũ. Trong một thời gian khá ngắn TTCK VN đã phải chứng kiến việc nhiều cty trên và ngoài sàn lập các cty Ck (là những cty con hoặc liên doanh), để xoá bỏ đisự khó khăn trong giao dịch, tình trạng giao dịch khó khăn đã không còn xuất hiện, nhiều nhà đầu tư đã không còn 1 cái cảm giác là đặt lệnh như không biết mình có khớp được hay không?
Đã qua rồi cái ngày xưa đó nhưng cũng phải công nhận TTCK VN có nhiều nuối tiếc đáng buồn, việc TTCK xây dựng trên nền tảng công nghệ yếu đã lấyđi những cơ hội, phiện muộn cho không ít nhà đầu tư. Riêng về đối tượng sở hữu cổ phiếu cũng là vấn đề đáng bàn, nhiều DN trên sàn sở hữu ck chồng chéo lẫn nhau, như thế sự ảnh hưởng dây chuyền nếu có 1 DN lớn nào gặp khó khăn thì sự suy giảm sẽ kéo theo hàng loạt những DN khác cùng bị ảnh hưởng về mặt phải trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán, điều này làm suy giảm lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh... Chính vì lý do này mà hàng loạt các CTy Niên Yết đã rơi vào tình trạng khó khăn vì khoản đầu tư tài chính và trên thị trường giá cổ phiếu của chính bản thân cty đã rơi thảm hại làm ảnh hưởng đến việc tài trợ vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và duy trì sản xuất. Khi thị trường gặp khó khăn họ (các DN) đành bán đi những ck họ sở hữu, điều này làm cho TTCK liên tục lao dốc, trong năm qua đã có những cuộc đại thanh lý cp dạng như trên... Điều này có còn tiếp tục diễn ra nữa hay không? Chúng ta đang phải đối mặt với những vấn đề khó khăn này ngoài những khó về kinh tế nói chung.
Sự nuối tiếc thấy rõ trên gương mặt những nhà đầu tư tạm rời xa sàn chứng khoán, những người còn lại tiếp tục hy vọng "Bao giờ cho đến ngày xưa"
(còn tiếp)
stockpro
[/quote] Lanh quanh SG 1 vòng trong mấy ngày qua, nhiều mặt bằng rộng ở vị trí đẹp, nhiều băng rôn quả cáo "Cho thuê văn phòng", "cho thuê mặt bằng", "Cửa hàng (cty) xyz chuyển về abc"... Xuất hiện ngày càng nhiều... Bao giờ cho tới ngày xưa nhỉ?
-
12-02-2009 08:30 AM #6
Re: Bao giờ cho tới ngày xưa?
[table] [table] [img]http://quacauvang.com.vn/Portals/0/PortalImages/chuyenhuongfdi.jpeg" width="130">
[/table]Chuyển hướng FDITrước thực tế FDI giảm mạnh, Bộ KH&ĐT quyết định “mở kho” tiềm năng nhằm hút nguồn vốn quan trọng này.
Theo
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT): Sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã bổ sung nguồn vốn quan trọng
cho đầu tư phát triển ở Việt Nam. Trong 3 năm 2007- 2008- 2009, vốn FDI
thực hiện đã đạt 23,6 tỷ USD và ngày càng gia tăng tỷ trọng trong tổng
vốn đầu tư toàn xã hội: năm 2006 chiếm tỷ lệ 16,2%, năm 2007 lên tới
24,8% và năm 2008, với mức giải ngân tăng 44% so với năm 2007, tỷ lệ
này còn cao hơn nữa.
Trong
các lĩnh vực đầu tư, vốn FDI tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp
và xây dựng, gồm 572 dự án với tổng vốn đăng ký 32,62 tỷ USD, chiếm
48,85% về số dự án và 54,12% về vốn đầu tư đăng ký. Lĩnh vực dịch vụ
có 554 dự án, tổng vốn đăng ký 27,4 tỷ USD, chiếm 47,3% về số dự án và
45,4% về vốn đầu tư đăng ký. Số còn lại thuộc lĩnh vực nông-lâm-ngư
nghiệp.
Sau
hơn một tháng “hoan hỷ” khóa sổ năm 2008 với con số ấn tượng trên 64 tỷ
USD vốn đăng ký, thì tháng 1/2009 những người làm thống kê FDI vào Việt
Nam đã "sốc" bằng kỷ lục ngược, với con số công bố vốn đăng ký chỉ đạt
185 triệu USD. Tính chung cả cấp mới và tăng thêm, bằng 12,5% con số
tương ứng của tháng 12/2008 là 1,47 tỷ USD.
Hầu
hết các dự án được cấp chứng nhận đầu tư trong tháng qua đều có quy mô
nhỏ, chỉ từ 3 đến 3,5 triệu USD/dự án. Dự án lớn nhất mới đạt 20 triệu
USD. Trung bình chỉ đạt gần 3 triệu USD/dự án.
Trong
báo cáo mới đây, Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển
(UNCTAD) cho biết: Năm 2008, do chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài
chính toàn cầu nên tổng vốn FDI xuyên quốc gia trên toàn thế giới có
khả năng sẽ giảm khoảng 10% so với mức FDI 1.883 tỷ USD năm 2007. Dự
báo, nguồn vốn này sẽ giảm khoảng 15% vào năm 2009.
Cũng
theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ KH&ĐT), vốn đầu tư thực
hiện trong tháng 1/2009 cũng giảm khá lớn, chỉ đạt 300 triệu USD, bằng
78,9% so với con số tương ứng của tháng 1/2008, và kém rất xa con số
1,45 tỷ USD của tháng 12/2008.
Trước
tình hình trên, trong phiên họp thường kỳ tháng 1 của Chính phủ, Bộ
KH&ĐT đã đệ trình những giải pháp nhằm thu hút FDI trong hai năm
2009 và 2010.
Theo
đó, Việt Nam sẽ mở cửa sớm hơn mức độ cam kết với Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO) đối với một số lĩnh vực dịch vụ mà Việt Nam có nhu cầu
như: văn hóa - y tế - giáo dục, bưu chính - viễn thông, hàng hải, hàng
không.
Theo
lý giải của lãnh đạo Bộ KH&ĐT, việc ban hành một số giải pháp này
sẽ góp phần thúc đẩy đầu tư nhanh chóng hơn nữa vào cơ sở hạ tầng,
trong bối cảnh suy giảm kinh tế cũng như suy giảm về nguồn FDI trên
toàn cầu.
Các
chuyên gia của Bộ KH&ĐT chỉ rõ: Sự yếu kém của hệ thống cơ sở hạ
tầng ngoài hàng rào đã và đang là nhân tố quan trọng gây tâm lý lo ngại
cho các nhà đầu tư, nhất là hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông,
cảng biển phục vụ nhu cầu sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa.
[table]
“Tôi
tin rằng chính phủ Việt Nam sẽ luôn luôn hỗ trợ các doanh nghiệp đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam và chính vì lẽ đó, các nhà đầu tư nước ngoài
vẫn nhìn đến Việt Nam như là một điểm đến đầu tư an toàn và nhiều tiềm
năng”.
(Tổng Giám đốc Zamil Steel Việt Nam, ông George E. Kobrossy)
|
[/table]
Bên cạnh đó, hệ thống kết cấu hạ tầng ở
các khu kinh tế mới được thành lập gần đây như Chân Mây, Nhơn Hội, Nam
Phú Yên... và hệ thống giao thông ở khu vực vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam phát triển quá chậm so với nhu cầu đầu tư phát triển các dự án
FDI và đang cản trở việc giải ngân triển khai các dự án FDI trong các
khu kinh tế này.
Nhằm
cải thiện những bất cập về cơ sở hạ tầng, Bộ KH&ĐT sẽ tiến hành
tổng rà soát, điều chỉnh, phê duyệt và công bố các quy hoạch về kết cấu
hạ tầng đến năm 2020 làm cơ sở thu hút đầu tư phát triển kết cấu hạ
tầng.
Lãnh đạo Bộ KH&ĐT khẳng định sẽ tranh thủ tối đa các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực này.
Việc
chuyển hướng kêu gọi FDI được các chuyên gia kinh tế đánh giá là giải
pháp tốt nhất trong điều kiện hiện nay; đặc biệt, khi Việt Nam vẫn là
điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
Theo Tổ Quốc
[/table]
-
13-02-2009 09:06 AM #7
Có quân mật phục tại cứ điểm 270?
Giao dịch khá lớn giá sàn ở 1 số bluechips, đây là dấu hiệu có 1 đoàn quân du kích mật phục tại cứ điểm 270. Các hạ nên chú ý!
-
13-02-2009 01:36 PM #8
Junior Member
- Ngày tham gia
- Nov 2008
- Bài viết
- 135
- Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi
Re: Có quân mật phục tại cứ điểm 270?
[quote user="stockpro"]
Giao dịch khá lớn giá sàn ở 1 số bluechips, đây là dấu hiệu có 1 đoàn quân du kích mật phục tại cứ điểm 270. Các hạ nên chú ý!
[/quote]đánh xuống mà,ai đang bán giá sàn,sao ko bán lúc 300,có lẽ là động tác giả,ai sợ thì sẽ bán theo
-
13-02-2009 04:30 PM #9
Member
- Ngày tham gia
- Jul 2007
- Bài viết
- 335
- Được cám ơn 0 lần trong 0 bài gởi
Re: Có quân mật phục tại cứ điểm 270?
Chào bác sờ to cờ khờ pờ rồ, bác định bao giờ thả đội cảm tử ôm bom ba càng ra đấy? lâu ko xem khủng bố buồn quá....[:chocque]
-
12-02-2009 11:25 AM #10
Re: Bao giờ cho tới ngày xưa?
[quote user="stockpro"]
[quote user="stockpro"]
Bao giờ cho tới ngày xưa?
Ngày xưa, nhà đầu tư được xem như là 1 nghề, 1 nghề mà nhiều người chấp nhận và vô cùng hấp dẫn. Ngày nay, thì hoàn toàn ngược lại, đã từ lâu rồi TTCK VN đã không còn những phiên giao dịch kỷ lục, khi đó mua được cổ phiếu gần như là may mắn. Vấn đề chứng khoán xuất hiện hầu hết trên các mặt báo giấy còn bây giờ thì chỉ còn những bài viết trên những trang báo điện tử. Ngày xưa, thành phần tham gia CK vô cùng rộng lớn hầu hết là các thành phần kinh tế: quĩ đầu tư, tổ chức tài chính, ngân hàng, doanh nghiệp, cá nhân... trong và ngoài nước. Người tham gia vào CK đã tăng một cách đột biến khiến cho hệ thống giao dịch CK của HOSE đôi lúc có những trục trặc, nhiều CTCK không thể đáp ứng nhu cầu đặt lệnh của khách hàng, tiền chảy vào trong đầu tư CK như là dòng nước mùa lũ. Trong một thời gian khá ngắn TTCK VN đã phải chứng kiến việc nhiều cty trên và ngoài sàn lập các cty Ck (là những cty con hoặc liên doanh), để xoá bỏ đisự khó khăn trong giao dịch, tình trạng giao dịch khó khăn đã không còn xuất hiện, nhiều nhà đầu tư đã không còn 1 cái cảm giác là đặt lệnh như không biết mình có khớp được hay không?
Đã qua rồi cái ngày xưa đó nhưng cũng phải công nhận TTCK VN có nhiều nuối tiếc đáng buồn, việc TTCK xây dựng trên nền tảng công nghệ yếu đã lấyđi những cơ hội, phiện muộn cho không ít nhà đầu tư. Riêng về đối tượng sở hữu cổ phiếu cũng là vấn đề đáng bàn, nhiều DN trên sàn sở hữu ck chồng chéo lẫn nhau, như thế sự ảnh hưởng dây chuyền nếu có 1 DN lớn nào gặp khó khăn thì sự suy giảm sẽ kéo theo hàng loạt những DN khác cùng bị ảnh hưởng về mặt phải trích lập dự phòng giảm giá chứng khoán, điều này làm suy giảm lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh... Chính vì lý do này mà hàng loạt các CTy Niên Yết đã rơi vào tình trạng khó khăn vì khoản đầu tư tài chính và trên thị trường giá cổ phiếu của chính bản thân cty đã rơi thảm hại làm ảnh hưởng đến việc tài trợ vốn cho hoạt động đầu tư phát triển và duy trì sản xuất. Khi thị trường gặp khó khăn họ (các DN) đành bán đi những ck họ sở hữu, điều này làm cho TTCK liên tục lao dốc, trong năm qua đã có những cuộc đại thanh lý cp dạng như trên... Điều này có còn tiếp tục diễn ra nữa hay không? Chúng ta đang phải đối mặt với những vấn đề khó khăn này ngoài những khó về kinh tế nói chung.
Sự nuối tiếc thấy rõ trên gương mặt những nhà đầu tư tạm rời xa sàn chứng khoán, những người còn lại tiếp tục hy vọng "Bao giờ cho đến ngày xưa"
(còn tiếp)
stockpro
[/quote] Lanh quanh SG 1 vòng trong mấy ngày qua, nhiều mặt bằng rộng ở vị trí đẹp, nhiều băng rôn quả cáo "Cho thuê văn phòng", "cho thuê mặt bằng", "Cửa hàng (cty) xyz chuyển về abc"... Xuất hiện ngày càng nhiều... Bao giờ cho tới ngày xưa nhỉ?
[/quote] Trái ngược hẳn với "Mặt bằng kinh doanh, văn phòng" thì việc thuê mướn kho bãi cực kỳ khó khăn, giá cả đã lần lượt nhích lên do nhu cầu thuê mướn tăng lên khá nhanh chóng...
Thông tin của chủ đề
Users Browsing this Thread
Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)
Similar Threads
-
Dệt May Đông Á..!Cơ hội với quỹ đất 22.000m2 tại trung tâm Q11 dùng phát triển căn hộ & trung tâm thương mại..
By kimberlynguyen in forum Thị trường OTCTrả lời: 0Bài viết cuối: 10-05-2007, 03:04 PM



Trích dẫn
Bookmarks