Minh bạch : Còn chờ lâu


Tất nhiên không chỉ ở thị trường chứng khoán mới cần sự minh bạch. Nhưng với một thị trường mà “thông tin nghĩa là tiền”, sự minh bạch thực sự phải là một bộ lọc mang tính quy chuẩn. Không minh bạch, thị trường chứng khoán sẽ không được kiểm soát và có thể sớm đổ vỡ. Nhưng ở Việt Nam, đây là một vấn đề thường nhìn nhận như là hy vọng của tương lai. Còn hiện tại, vẫn còn khá nhiều phức tạp xoay quanh chuyện minh bạch.

Kiên nhẫn, đó có lẽ là phẩm chất lớn nhất của những nhà đầu tư chứng khoán hiện vẫn ôm sàn chờ thời. Nhưng hầu hết đều chuẩn bị cho mình tâm lý không quá thất vọng, nếu thị trường vẫn kéo dài sự lình xình. “Tới tháng 3, là biết đá biết vàng”, một nhà đầu tư cho biết. Tuy vậy, không phải cứ đến tháng 3 – mùa báo cáo năm của công ty niêm yết – mọi chuyện mới bộc lộ.

Lý thuyết về thông tin không cân xứng

Lý thuyết về thông tin không cân xứng trong nghiên cứu kinh tế được thiết lập vào những năm 1970 bởi ba nhà kinh tế: George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz. Nhờ công trình này mà họ được nhận giải Nobel về kinh tế năm 2001 nhờ những phân tích về các thị trường với thông tin cân xứng
Những người đoạt giải Nobel kinh tế năm 2001 đã đưa ra một cách giải thích mang tính tổng quát và mở rộng lý thuyết nhằm lý giải về sự tồn tại trên thực tế thông tin không cân xứng, tức là tình huống một số người trên thị trường thường có nhiều thông tin tốt hơn so với những người khác.
Chẳng hạn, những người đi vay biết nhiều hơn về khả năng trả nợ của mình so với những người cho vay; người bán biết nhiều hơn người mua về chất lượng của chiếc xe mà anh ta định bán; những người mua hợp đồng bảo hiểm biết về rủi ro tai nạn đối với mình nhiều hơn công ty bảo hiểm và những người thuê đất biết nhiều hơn chủ đất về hiệu quả công việc và các điều kiện canh tác của mình (nguồn: Saga).
Thực tế trên thị trường chứng khoán cho thấy luôn có một nhóm người biết nhiều thông tin hơn các nhóm khác. Nhờ vậy, họ có khả năng ra quyết định (mua/bán) đi trước thị trường một bước và kiếm được nhiều lợi nhuận. Mức độ sở hữu thông tin khác nhau tạo nên vị thế và lợi ích khác hẳn nhau trong kinh doanh chứng khoán.

Lợi nhuận: “đếm cua trong lỗ”?

Câu chuyện Bông Bạch Tuyết không còn là thời sự, nhưng vẫn có tính “gợi ý” cho những trà dư tửu hậu trong cái Tết vừa rồi. Ông Nguyễn Bá, một nhà đầu tư tự nhận là “bị thương vong trên cả ba mặt trận” chứng khoán, địa ốc, vàng nói: “Bông Bạch Tuyết vay nợ tùm lum, nhưng lúc trước khi mọi thứ vỡ lở đâu mấy ai biết. Họ công bố dự án lớn, lãi không nhỏ, làm ai nấy mừng húm, đổ tiền vô mua cổ phiếu ào ào. Đến khi không giấu được, thiên hạ mới biết những chuyện tốt đẹp rùm beng toàn là hàng mã. Lợi nhuận chỉ nhẹ như bông, mà họ đem ngâm nước nên nhà đầu tư thấy nặng, tưởng lầm”.
Cho đến giờ, vẫn không ai dám chắc trên sàn còn bao nhiêu “Bông Bạch Tuyết” nữa chưa bị lộ. Dù có báo cáo kiểm toán, thật - giả trong các con số tài sản, doanh thu, lợi nhuận... của nhiều công ty vẫn có thể là một bí ẩn khó giải đáp bằng sự soi xét thông thường của nhà đầu tư.
Để “lòe” phần lớn cổ đông, hội đồng quản trị và ban điều hành có thể thông đồng để có những con số đẹp đẽ trong kết quả sản xuất kinh doanh. Lỗ có thể biến thành lời trong nháy mắt để nâng giá cổ phiếu. Giá cổ phiếu tăng, cổ đông lớn, người thân... của ban điều hành hoặc hội đồng quản trị nhanh chóng bán ra thu lời. Sau đó, khi thị trường có thời gian kiểm chứng thông tin thì họ đã thoát.
Chiêu thức “lời giả, lỗ thật” để nâng giá cổ phiếu khá phổ biến. Với nhà đầu tư nhỏ, họ không có điều kiện để biết đâu là sự thực nên thường phản ứng chậm. Và khi đã chậm chân, chỉ cần một tin đồn cũng tạo nên hội chứng bầy đàn mà dư luận đã tốn khá nhiều giấy mực để mổ xẻ thời gian trước.
Nhưng không chỉ có “lời giả”, một số công ty còn chơi trò “lỗ giả”. Ban điều hành liên tục báo lỗ, trong khi thực tế công ty làm ăn có lời. Số đông nhà đầu tư yếu bóng vía thấy báo lỗ là hè nhau bán tháo. Nhờ vậy, cổ phiếu xuống giá và cổ đông cá mập đớp gọn với khoản lợi lớn.
“Khi công ty mới cổ phần hóa, chiêu này đã áp dụng. Phần lớn cổ phần đã được vài người trong ban điều hành và gia đình họ thu gom. Khi lên sàn, thông tin lãi thật được tung ra, đẩy giá lên, họ bán. Được một thời gian, họ lại công bố lỗ để thu gom lần hai, rồi lại bán...”.
Một cổ đông đề nghị giấu tên tiết lộ mánh lới của nhóm cổ đông chi phối ở một công ty ngành may mặc. Nhờ các đòn “tay phải tay trái” này mà nhóm cổ đông lớn nói trên đã kiếm bộn tiền.

“Cáo mượn oai hùm” để làm giá

Giới đầu tư chưa thể quên những thông tin ồ ạt về việc ký kết đối tác chiến lược của nhiều công ty cuối năm 2006, đầu 2007. Đối tác toàn “hàng khủng”, cỡ Morgan Stanley hay Credit Suisse hay một tập đoàn tầm cỡ châu Âu, châu Á.
Thông tin “mật” bùng ra nhanh như điện, làm nhà đầu tư hồ hởi đi vay, thế chấp đổ tiền vào tranh cơ hội. Chỉ một thời gian ngắn, chính các con cá mập tài chính lên tiếng phản bác. Thế là giá cổ phiếu đang lên như diều bỗng rớt bịch.
Nhưng không chỉ công ty chưa mấy tên tuổi phải mượn oai hùm để thủ lợi. Ngay các doanh nghiệp lớn như Vietcombank cũng làm giới đầu tư lên ruột vì thông tin lựa chọn đối tác chiến lược. Đang lúc thị trường nóng, thông tin tốt càng làm giá cổ phiếu tăng vọt. Vì nhiều lý do, sau đó Vietcombank chẳng chọn được đối tác nào, làm cổ đông “hố hàng” chưng hửng”.
Theo ông Lê Thẩm Dương (Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM), việc mượn uy danh của một tổ chức hay doanh nghiệp lớn, nổi tiếng để thu lợi là chuyện không lạ trong kinh doanh. Ngay trên thế giới, cũng không ít người đã bị lừa vì những thông tin như vậy. Nhưng trong bối cảnh một thị trường mới và chưa chuyên nghiệp như Việt Nam, tác động của thông tin kiểu đó thường lớn, gây biến động giá theo hướng có lợi cho những người chủ động về thông tin.

Web.site và web... sai”!

Càng ngày càng có nhiều nhà đầu tư sử dụng máy tính cá nhân để đầu tư, kinh doanh chứng khoán. Để kiểm chứng thông tin, nhanh nhất sẽ là vào website công ty để xem, truy vấn nguồn tin? Điều này tỏ ra không đúng trên thực tế. Hầu hết các công ty niêm yết đã thiết lập wesite, nhưng đích nhắm lớn nhất là PR thương hiệu hơn là cung cấp thông tin. Vì vậy, không lạ khi phần lớn các website công ty không được cập nhật thông tin về sản xuất kinh doanh. Số liệu so sánh theo thời gian cũng không đầy đủ.
“Khi thông tin chậm trễ, website trở thành web... sai là đương nhiên, vì nhà đầu tư không thể sử dụng thông tin đã có để mua bán, ra quyết định”, anh Trần Đông Anh, nhà đầu tư sàn Đại Việt nói. Nhiều nhà đầu tư lại có nhận xét khác: “Nếu chính ban điều hành hay hội đồng quản trị cũng không khi nào xem website công ty thì chắc chắn ở đó không thể có thông tin mới, sát hợp”.
Để công bố thông tin mới quan trọng, có công ty hiện vẫn sử dụng cách gửi thư (bằng giấy, qua đường bưu điện) cho cổ đông tham khảo. Thời điểm tháng 2/2009, một website công ty vẫn có thông tin mới nhất là tháng 6/2008!

Quy định có, không làm cũng không sao

Theo quy định tại điều 101, Luật Chứng khoán và thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, công ty đại chúng phải thực hiện nghĩa vụ:
- Công bố báo cáo tài chính năm trên ba số báo liên tiếp của một tờ báo trung ương và một tờ báo địa phương nơi công ty đóng trụ sở chính hoặc thông qua phương tiện công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
- Công bố thông tin bất thường trên các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của công ty và trên trang thông tin điện tử của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước và phải nêu rõ sự kiện xảy ra, nguyên nhân, kế hoạch và giải pháp khắc phục (nếu có).
- Công bố thông tin theo quy định trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thông qua các ấn phẩm, trang thông tin điện tử của công ty, qua phương tiện thông tin đại chúng hoặc phương tiện công bố thông tin của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.
Đó là quy định, còn trên thực tế số công ty niêm yết làm đúng như vậy không nhiều lắm. Một báo cáo quan trọng là báo cáo hoạt động thường niên cũng có khoảng 50% số công ty không nộp đúng hạn lên Sở Giao dịch Chứng khoán.
Việc xin gia hạn nộp báo cáo khiến thị trường không có thông tin chính thức, chỉ là các đồn đoán. Cũng có thể trong thời gian đó, những thông tin quan trọng nhất của báo cáo chính thức đã được nhóm cổ đông lớn âm thầm tụ họp ”nghiên cứu và chia sẻ” ở hậu trường.
Điều đáng nói là khi vi phạm quy định về công bố thông tin, doanh nghiệp cứ đủng đỉnh xin gia hạn, còn cơ quan quản lý cũng chẳng có động tác đốc thúc nào. Các quy định chế tài đối với việc trễ hạn công bố thông tin hầu như không đáng kể, ít tác dụng.

Sự đòi hỏi từ nhà đầu tư

Ông Trần Minh Tạo (sàn ACBS) cho rằng chính các cổ đông, nhất là cổ đông nhỏ cũng nên chịu trách nhiệm một phần trong việc thiếu minh bạch thông tin. Tại sao? “Cổ đông nhỏ, chơi cổ phiếu ngắn hạn trên sàn ít quan tâm đến các thông tin cơ bản. Họ chỉ đồn thổi nhau về các khoản lợi nhuận hay dự án đầu tư. Và nói thật là cổ đông nhỏ cũng ít người đủ khả năng phân tích, chỉ ra các điểm chưa phát lộ trong báo cáo sản xuất kinh doanh của công ty”.
Theo ông Tạo, việc không hiểu rõ thông tin khiến cổ đông nhỏ có tâm lý an phận, không mạnh miệng đòi quyền được thông tin của mình và bị cổ đông lớn ép.
Mặt khác, do tỉ lệ sở hữu cổ phiếu thấp và bị phân tán, phần đông nhà đầu tư nhỏ không có tiếng nói chung trong các quyết định quan trọng của công ty trong đại hội cổ đông. Đến khi các nội dung này đã trở thành nghị quyết thì dẫu có biết, họ cũng đã “há miệng mắc quai”.
Chuyên gia kinh tế - ngân hàng Trần Sỹ Chương cho biết trình độ chung của công chúng đầu tư chứng khoán ở thị trường Việt Nam là không hề thấp so với thị trường Mỹ.
Tuy nhiên, chừng nào mà số đông nhà đầu tư cá nhân chưa ý thức rõ về quyền lợi của mình cũng như nghĩa vụ phải minh bạch của doanh nghiệp, chừng đó vẫn có tình trạng bất cân xứng thông tin mà lợi ích nghiêng về phía các nhà đầu tư lớn.

Đạo đức và lợi ích

Thị trường, công ty niêm yết, nhà đầu tư và Nhà nước là mối quan hệ đa chiều trên thị trường chứng khoán. Minh bạch thông tin là một nghĩa vụ đạo đức để ràng buộc và bảo vệ lợi ích của các bên liên quan trong sự vận hành và phát triển của thị trường. Và khái niệm đạo đức không phải chỉ hình thành trên cơ sở tự nguyện. Nền tảng quan trọng nhất của đạo đức trong hoạt động kinh tế là hệ thống quy định của pháp luật. Chỉ như vậy, đạo đức mới trở thành nghĩa vụ bắt buộc.
Tuy vậy, minh bạch hóa không chỉ là vấn đề đạo đức. Như trên đã nói, nhiều công ty khi tham gia sàn chứng khoán mới nhìn ra khía cạnh quảng bá cho thương hiệu trên bề mặt (ví dụ website của công ty). Phần đông công ty chưa nhìn thấy lợi ích lớn có được do minh bạch thông tin.
Ông Lâm Minh Chánh, một chuyên gia về đầu tư chứng khoán cho rằng khi minh bạch thông tin, độ tin cậy của công chúng đầu tư sẽ tăng lên, tác động đến giá cổ phiếu theo hướng tích cực, nghĩa là giá trị thị trường của công ty niêm yết cũng tăng. Đối với các nhà đầu tư lớn có ý định tham gia vốn, công nghệ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, minh bạch thông tin là điều kiện tiên quyết để họ hiện thực hóa ý định.
Một “rào cản lợi ích” trong chính doanh nghiệp là tuy đã trở thành công ty niêm yết, nhưng tính “đại chúng” không đảm bảo. Công ty lên sàn nhưng tài sản công ty chủ yếu vẫn chỉ thuộc vào một nhóm cổ đông có quyền lực. Việc không minh bạch cho thấy tuy là công ty cổ phần đại chúng, nhưng thực chất đó vẫn là công ty gia đình. Với dạng công ty này, thông tin chỉ minh bạch với những người cùng gia đình hoặc chung lợi ích. Ngay cả việc mở rộng, phát triển doanh nghiệp, mời gọi đầu tư cũng chỉ được chú ý nếu nó đảm bảo lợi ích của “gia đình”.

NGUYỄN ĐÌNH TÚ