TTO - Vợ chồng tôi có một căn nhà nằm trên mảnh đất
mua lại của ông anh ruột tôi. Nhà mua sau khi hai người đã kết hôn
nhưng trên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đấtở đã
được cấp chỉ có một mình tôi đứng tên chủ sở hữu và sử dụng (không có
một giấy tờ gì nêu lý do hoặc thỏa thuận về việc này).


Vậy xin hỏi trong trường này, tôi có quyền một
mình làm hợp đồng bán hoặc tặng cho...mà không cần sự đồng ý của vợ
tôi hay không? Nếu hợp đồng bán, tặng cho do một mình tôi ký thì có hợp
pháp hay không?


Nếu cả vợ và chồng cùng đứng tên giấy chứng nhận
quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở (có nghĩa tài sản này là của
chung của cả hai vợ và chồng)thìtrong trường hợp này tôi có quyền bán
hoặc tặng cho một nửa phần giá trị tài sản của tôi không? Nếu hợp đồng
bán, tặng cho một nửa phần giá trị tài sản của tôi do một mình tôi ký
thì có hợp pháp hay không? Xincảm ơn.


Van Long (xuanlynn@..)


- Trả lời của luật sư Nguyễn Văn Hậu:


1. Vì căn nhà và đất trên do hai vợ chồng bạn
có được trong thời kỳ hôn nhân (do nhận chuyển nhượng lại từ
anh ruột bạn) nên nhà và đất trên thuộc quyền sở hữu và sử
dụng hợp pháp chung của cả hai vợ chồng bạn (mốc thời điểm
bạn nhận chuyển nhượng có sau thời điểm hai vợ chồng bạn đăng
ký kết hôn là một bằng chứng để chứng tỏ nhà và đất hai vợ
chồng bạn có được trong thời kỳ hôn nhân).


Do nhà, đất trên là tài sản chung hợp nhất của
cả hai vợ chồng bạn nên cả hai vợ chồng bạn đều có quyền
ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản
chung này (điều 219 Bộ luật Dân sự 2005). Vì vậy, bạn không
thể một mình tiến hành thủ tục chuyển nhượng, tặng cho… mà
không có sự đồng ý của vợ bạn được. Trường hợp bạn vẫn
tiến hành thủ tục chuyển nhượng, tặng cho mà không cần có sự
đồng ý của vợ bạn thì hợp đồng không có giá trị pháp lý.


2. Như đã trình bày ở trên, trong trường hợp căn
nhà và đất trên là tài chung của cả hai vợ chồng,nếu bạn
muốn chuyển nhượng, tặng cho một nửa phần giá trị nhà và
đất trong khối tài sản chung hợp nhất của cả hai vợ chồng
bạn thì bạn phải có văn bản thỏa thuận chia tài sản chung có
chữ ký của cả hai vợ chồng bạn, trong trường hợp không thỏa
thuận được với vợ bạn thì bạn có thể yêu cầu tòa án giải
quyết (điều 29 Luật hôn nhân & gia đình). Sau khi đã có văn
bản thỏa thuận với vợ bạn hoặc quyết định của tòa án về
việc chia tài sản chung của vợ chồng bạn thì bạn mới có thể
một mình bán, tặng cho một nửa phần giá trị tài sản thuộc
quyền sử dụng, sở hữu, định đoạt của bạn được.


Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU

http://muabannhadat.com.vn - Địa chỉ BĐS lớn nhất Việt Nam