Chủ đề: Ai xả hàng? Ai gom hàng?
-
12-09-2011 04:09 PM #3401
-
12-09-2011 04:13 PM #3402
Thứ 2, 12/09/2011
Vùng đỉnh chứng khoán đang hình thành?
Nếu quả thực nhà tạo lập thị trường sắp dừng bước và vùng đỉnh thị trường đang hình thành, động cơ thoát hàng của tổ chức lớn trong đợt đánh lên vừa qua sẽ được chứng minh.
Tóm tắt:
- Phép thử lãi suất đối với chỉ số chứng khoán vẫn đang tiếp diễn qua 3 tuần tăng điểm.
- Công ty chứng khoán ACB đưa ra dự báo về một đợt tăng mạnh của thị trường có thể hình thành từ đây đến cuối năm do dòng tiền tiết kiệm đổ sang TTCK.
- Đợt tăng vừa qua của thị trường xuất phát từ nguồn vốn nào? Đây là nguồn vốn của các tổ chức lớn, những người điều khiển thị trường, chứ không phải từ các NĐT nhỏ lẻ.
Phép thử lãi suất đối với chỉ số chứng khoán vẫn đang tiếp diễn. Đến cuối tuần qua, đợt tăng của thị trường đã kéo dài được hơn 3 tuần - khoảng thời gian dài hơn đợt tăng gần nhất từ cuối tháng 5 đến giữa tháng 6/2011 (khoảng 3 tuần). Trong khi nhiều công ty chứng khoán vẫn thận trọng trong nhận định, thì Công ty chứng khoán ACB đã khá tự tin đưa ra dự báo về một đợt tăng mạnh của thị trường có thể hình thành từ đây đến cuối năm do dòng tiền tiết kiệm đổ sang TTCK.
Hẳn nhiên nhận định trên, cùng với kỳ vọng của nhiều nhà đầu tư, sẽ có cơ sở nếu như xu hướng chuyển dịch tiền gửi ngân hàng sang chứng khoán được biểu hiện rõ nét hơn. Tuy vậy, cho đến nay xu hướng này vẫn hoàn toàn chưa rõ ràng. Chưa có những xác nhận cần thiết về dư luận, trên mặt công luận cũng như từ hoạt động điều tra thị trường về tỷ lệ nhà đầu tư vàng, người gửi tiết kiệm tự nguyện chuyển tiền sang kênh chứng khoán.
Vấn đề cần nêu ra là trong bối cảnh lãi suất đang được kéo giảm nhưng vẫn chưa có xác nhận về dòng tiền chuyển dịch từ ngân hàng sang chứng khoán, đợt tăng vừa qua của thị trường xuất phát từ nguồn vốn nào? Rõ ràng đây là nguồn vốn của các tổ chức lớn, những người điều khiển thị trường, chứ không phải từ các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Dòng vốn của tổ chức còn đi trước cả dấu hiệu đầu tiên về xu hướng giảm lãi suất, cho thấy sự khởi đầu của đợt tăng chứng khoán đã không được đóng góp bởi dòng vốn nhỏ lẻ.
Còn trong quá trình tăng điểm của thị trường, dòng vốn nhỏ lẻ tham gia chỉ xuất phát từ vốn nằm im trước đó trong tài khoản nhà đầu tư nhỏ lẻ (có thời điểm trước đây tỷ lệ vốn "chết" lên đến gần 80%), chứ cũng chưa xuất hiện dòng vốn tiết kiệm từ ngân hàng chuyển qua.
Kỳ vọng của nhà đầu tư và Công ty chứng khoán ACB cũng sẽ có cơ sở hơn nếu như đợt tăng vừa qua của thị trường tuân theo quy luật vận động tự nhiên. Nhưng ngược lại, sóng tăng được tổ chức một cách hoàn toàn khiên cưỡng, giống hệt những đợt đánh lên gần đây nhất vào tháng 8/2010, tháng 11/2010 và tháng 5/2011.
Với nhiều nhà đầu tư, kinh nghiệm và cũng là bài học đắt giá mà họ tích lũy được là chỉ khi nào thị trường diễn biến theo lẽ tự nhiên của nó thì mới hy vọng bền vững, còn nếu thị trường vẫn bị thao túng bởi những bàn tay vô hình nào đó thì cho dù có tăng điểm mạnh chăng nữa, độ rủi ro vẫn rất cao.
Những phiên giao dịch của thị trường trong đợt tăng vừa qua là hoàn toàn khó đoán định. Cách tăng giật cục với dòng vốn đầu cơ chạy vòng vòng từ nhóm cổ phiếu này sang nhóm cổ phiếu khác, đặc biệt là sự tái hiện vai trò của một số cổ phiếu có vốn hóa siêu lớn như VIC, MSN, BVH và cả VPL làm cho chỉ số VNI tăng điểm khống, đã không thể khiến cho nhà đầu tư có được cảm giác an toàn.
Tính đến cuối tuần qua, trong khi chỉ số HNX đã tăng được khoảng 18,5% thì chỉ số VNI đã tăng vượt HNX. Trong lịch sử, mối tương quan giữa độ tăng của hai chỉ số này là một chỉ dấu quan trọng về đáy và đỉnh của các con sóng. Vào tháng 11/2010, VNI tăng 15% trong khi HNX tăng được 25%, cho thấy một sự hợp lý tương đối với cách tăng thực chất, mặt bằng giá cổ phiếu được nâng lên thực chất chứ không phải do đánh khống.
Nhưng trong đợt tăng này, mặc dù nhiều cổ phiếu cũng đã tăng giá khá mạnh đến 30-50%, nhưng vài phiên gần đây đã có dấu hiệu thị trường đuối sức, hay nói cách khác là dường như nhà điều khiển thị trường không còn quá nhiệt tình duy trì thế đánh lên nữa. Vì thế một số bluechip bắt đầu có dấu hiệu điều chỉnh.
Tình cảnh của thị trường hiện thời phụ thuộc hoàn toàn vào bàn tay của nhà tạo lập. Thị trường sẽ còn tăng cho tới khi nào nhà tạo lập tiếp tục giải ngân. Nhưng không ai biết thời điểm đó sẽ kết thúc vào lúc nào. Do vậy, đợt tăng này vẫn hoàn toàn không có cơ sở bền vững, trong khi lại hàm chứa độ rủi ro lớn đối với khá nhiều cổ phiếu đã tăng mạnh.
Tất nhiên, các tổ chức lớn vẫn có thể đổ tiền để nâng đỡ thị trường như một động tác hồi phục niềm tin vốn đã bị giảm sút quá nhiều của nhà đầu tư trong thời gian trước đây, tạo tiền đề cho một đợt hồi phục dài hơi hơn về sau này, khi nhà đầu tư nhỏ lẻ và cả những người gửi tiền tiết kiệm tự nguyện dồn tiền sang kênh chứng khoán.
Nhưng những dấu hiệu về đà tăng vượt trội của VNI so với HNX, kịch bản nhảy múa tái hiện của nhóm cổ phiếu siêu lớn cùng với mức thanh khoản tăng trung bình 1.000 tỷ đồng trong 8 phiên gần đây đã phát ra tín hiệu vùng đỉnh đang được hình thành của thị trường.
Nếu quả thực nhà tạo lập thị trường sắp dừng bước và vùng đỉnh thị trường đang hình thành, động cơ thoát hàng của tổ chức lớn trong đợt đánh lên vừa qua sẽ được chứng minh. Khi đó, lại một lần nữa nhà tạo lập thị trường thành công trong một chiến dịch đánh lên nhằm xả hàng, còn nhà đầu tư nhỏ lẻ lại một lần nữa mắc bẫy vì đánh giá quá sớm về đáy thị trường.
Trong tuần này, nhiều khả năng hai chỉ số chứng khoán VNI và HNX sẽ diễn ra sự chênh biệt lớn hơn với đà tăng tiếp của VNI cùng thế đi ngang của HNX. Tuy nhiên cần lưu ý là đợt tăng của thị trường sắp kéo dài tròn một tháng - một khoảng thời gian tương tự như con sóng tăng vào tháng 4/2010. Nếu thực sự chỉ số chứng khoán tạo đỉnh hay vùng đỉnh trong tuần này, sau đó thị trường sẽ bước vào giai đoạn suy giảm.
Cũng khi đó, phép thử về lãi suất đối với chứng khoán sẽ kết thúc mà chưa mang lại dấu hiệu khả quan nào. Quy luật "đỉnh lạm phát là đáy chứng khoán" có thể sẽ bị vô hiệu và thị trường lại tiếp tục một chu kỳ dò đáy mới.
-
12-09-2011 04:23 PM #3403
Ờhh, vài bữa nữa xả hàng như tháo cống vni đỏ rực thì các chú còn hận chính cả...bản thân...hố hố
Thứ 2, 12/09/2011, 15:33
Khối ngoại bán ròng mạnh nhất trong hơn 1 tháng qua
Trong phiên tăng điểm thứ 12 liên tiếp, khối ngoại trên HOSE bán ra nhiều hơn mua vào gần 58 tỷ đồng.
Trên toàn thị trường, xét theo giá trị giao dịch, khối ngoại thực hiện mua ròng tại 81 cổ phiếu, tương đương 47,2 tỷ đồng và bán ròng tại 63 cổ phiếu, tương đương 105,8 tỷ đồng.
Cổ phiếu bị bán ra mạnh nhất hôm nay là cổ phiếu Nhựa Tân Tiến (mã CK: TTP) với giá trị ròng đạt 16,5 tỷ. Trong đó lượng bán ra đạt 1,3 triệu đơn vị và mua vào đạt 1,85 triệu đơn vị, đều là những mức cao kỷ lục từ khi TTP niêm yết vào cuối năm 2006.
TTP cũng có chuỗi tăng giá ấn tượng với 5 phiên trần liên tiếp và đóng cửa hôm nay tại mức 30.400 đồng/cp.
Tại sàn HOSE, khối ngoại mua vào 5,47 triệu đơn vị và bán ra 8,4 triệu đơn vị. Chênh lệch giá trị bán ròng trong phiên đạt gần 58 tỷ đồng. Chỉ số VN-Index tại HOSE đã có phiên tăng điểm thứ 12 liên tiếp.
Diễn biến VN-Index và GTGD ròng của khối ngoại từ 1/7/2011Tại sàn Hà Nội, tình hình trầm lắng hơn khi khối ngoại chỉ mua vào 793 nghìn đơn vị đồng thời bán ra 602 nghìn đơn vị. Tuy vậy giá trị bán lại lớn hơn giá trị mua 786 triệu đồng.
Các cổ phiếu được mua ròng mạnh nhất hôm nay đều là các Bluechip hàng đầu, như MSN (8,1 tỷ), DPM (5,7 tỷ), BVH (5 tỷ) và SJS (3,7 tỷ).
Ở chiều ngược lại, sau TTP trong top bán ròng là 2 cổ phiếu có "tên tuổi", là FPT (13 tỷ) và VIC (11,2 tỷ).
Bảng thống kê top 15 cổ phiếu có giá trị mua/bán ròng lớn nhất trong phiên 12/9:
Thứ 2, 12/09/2011
Nhiều “DVD” dần lộ diện
Sự cố DVD chính là bài học nhãn tiền đối với NĐT đang nắm giữ những mã CP sống dở chết dở. Phần lớn những mã này đều giao dịch ở mức giá rất thấp, thậm chí dưới 2.000 đồng/CP.
Tóm tắt:
Thực tế, rất ít NĐT chú ý đến sự kiện CP bị đưa vào diện cảnh báo vì CP được gắn 2 ký tự này vẫn được giao dịch không khác gì những mã CP bình thường.
Ngập trong thua lỗ
Cách đây vài năm, việc CTCP Bông Bạch Tuyết (BBT) bị hủy niêm yết vì thua lỗ kéo dài là sự kiện khá hy hữu. Nhưng trong thời gian gần đây việc doanh nghiệp (DN) niêm yết rơi vào tình trạng thua lỗ kéo dài đang có chiều hướng gia tăng. Phần lớn DN bị đưa vào diện cảnh báo hay kiểm soát trên cả 2 sàn đều bắt nguồn từ chuyện hoạt động sản xuất kinh doanh thua lỗ.
So với BBT, CTCP Nước giải khát Sài Gòn (TRI) hẳn không thua kém về khoản lỗ trong thời gian khá dài (từ quý IV-2008). Tưởng sau khi được CTCP Kinh Đô (KDC) “cứu”, TRI sẽ hoạt động khởi sắc hơn, nhưng kết quả kinh doanh quý II vừa được công bố cho thấy DN này tiếp tục lỗ 9,1 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2011 TRI lỗ 18,07 tỷ đồng. Mã CP TRI bị đưa vào diện kiểm soát từ ngày 22-6-2010 đến nay và chỉ được giao dịch trong 15 phút cuối.
CTCP Chế biến và Xuất nhập khẩu thủy sản Cadovimex (CAD) công bố báo cáo tài chính (BCTC) cho thấy riêng quý II, CAD đạt 80 tỷ đồng doanh thu thuần và lỗ 6,1 tỷ đồng. So với cùng kỳ năm trước đạt 201,95 tỷ đồng doanh thu thuần và mức lãi 1,06 tỷ đồng, mức doanh thu và lợi nhuận sau thuế quý II-2011 giảm mạnh.
Lũy kế 6 tháng đầu năm 2011, CAD lỗ 15,6 tỷ đồng, cùng kỳ năm 2010 lỗ 4,77 tỷ đồng. Trước đó, do CAD thua lỗ trong 2 năm liên tiếp, căn cứ các BCTC năm 2009 và năm 2010 đã được kiểm toán, mã CP CAD bị tạm ngừng giao dịch từ ngày 2-6. Sau đó, HOSE chấp thuận cho CP CAD giao dịch trở lại từ ngày 24-6 dưới dạng bị kiểm soát.
Lập lờ BCTC
Thua lỗ kéo dài nên không ít DN cố tình lờ đi những chi tiết quan trọng nhằm che bớt con số thua lỗ trong BCTC. Chẳng hạn, CTCP Đầu tư và Xây dựng Bưu điện (PTC) thông báo kết quả kinh doanh 6 tháng của công ty mẹ đã qua soát xét đạt 73,64 tỷ đồng doanh thu thuần và lỗ 6,02 tỷ đồng sau thuế.
So với mức lỗ 5,01 tỷ đồng 6 tháng đầu năm 2010, mức lỗ 6 tháng đầu năm 2011 tăng thêm 1,01 tỷ đồng. Tổng lỗ sau thuế chưa phân phối tại thời điểm 30-6 của công ty mẹ PTC là 13,34 tỷ đồng.
Điều đáng nói, trong bối cảnh hoạt động kinh doanh không hiệu quả, DN này lại có vấn đề trong việc thực hiện BCTC. Đơn vị kiểm toán cho PTC là Công ty Kiểm toán A&C cho biết một phần chi phí lãi vay và chi phí quản lý DN phát sinh trong kỳ là 5,22 tỷ đồng được phản ánh vào chỉ tiêu chi phí trả trước ngắn hạn, thay vì phản ánh vào báo cáo kết quả kinh doanh.
Nếu thực hiện kết chuyển khoản chi phí này vào kết quả kinh doanh trong kỳ, lợi nhuận sau thuế và lỗ lũy kế giảm thêm tương ứng với con số này. Ngoài ra, PTC cũng chưa trích lập dự phòng tổn thất khoản đầu tư vào công ty con với số tiền 1,03 tỷ đồng.
Đặc biệt, A&C cũng lưu ý việc Nhà máy Vật liệu viễn thông 1 (đơn vị trực thuộc) đã ngừng hoạt động từ ngày 9-11-2009, nhưng số liệu BCTC của nhà máy đang được phản ánh theo nguyên tắc hoạt động liên tục, trong đó toàn bộ tài sản cố định hữu hình là dây chuyền sản xuất tại nhà máy có nguyên giá và giá trị còn lại lần lượt là 59,75 tỷ đồng và 24,57 tỷ đồng, chi phí đầu tư xây dựng cơ bản mở rộng giá trị 9,04 tỷ đồng không còn phát huy hiệu quả. Nhiều khả năng mã PTC sẽ bị dưa vào diện cảnh báo sau khi kết thúc năm tài chính 2011.
Công ty TNHH Kiểm toán và Dịch vụ tin học TPHCM (AISC) cũng vừa lên tiếng với CTCP Vận tải và Bất động sản Việt Hải (VSP) về việc chưa lập dự phòng tổn thất đầu tư tài chính trong báo cáo kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2011. Như vậy, so với mức lỗ 230,58 tỷ đồng trước soát xét, mức lỗ sau soát xét tăng thêm 17,35 tỷ đồng.
Điều đáng nói, VSP hiện đang giao dịch dưới dạng bị kiểm soát kể từ ngày 18-4 do hoạt động thua lỗ liên tiếp trong 2 năm 2009 và 2010. Xem ra, khả năng mã này bị tạm ngưng giao dịch là rất lớn, nếu không có hướng khắc phục tình trạng thua lỗ trong năm nay.
Nổi cộm nhất là ý kiến của đơn vị kiểm toán về CTCP Nhựa Tân Hóa (VKP). Theo đánh giá của công ty kiểm toán, căn cứ các số liệu thống kê, dư nợ ngắn hạn của VKP hiện lớn hơn tài sản ngắn hạn sau khi trừ đi các khoản tài sản tồn đọng khó thu hồi, lỗ hoạt động kinh doanh trong kỳ và lỗ lũy kế đến ngày 30-6 khá lớn.
Điều này gây ra sự nghi ngờ về tính phù hợp của việc giả định về hoạt động liên tục của VKP. Được biết, BCTC cho kỳ kế toán từ ngày 1-1 đến 30-6 của VKP vẫn được lập trên cơ sở giả định hoạt động liên tục và chưa bao gồm bất cứ sự điều chỉnh cần thiết nào đến vấn đề này. VKP công bố BCTC quý II, cho biết lợi nhuận sau thuế của VKP âm 21,26 tỷ đồng (cùng kỳ năm ngoái lỗ 18,68 tỷ đồng).
Tổng lỗ lũy kế tại thời điểm 30-6 là 107,27 tỷ đồng. Trước đó, ĐHCĐ năm 2011 của VKP đặt kế hoạch lỗ 17,8 tỷ đồng nhưng chỉ 2 quý đầu năm 2011 DN này đã lỗ hơn mức ĐHCĐ thông qua. Được biết, 2 năm trước DN này đều bị lỗ khiến mã VKP đã từng bị ngừng giao dịch. Mới đây, HOSE cho giao dịch trở lại nhưng vẫn nằm trong diện diện kiểm soát kể từ 13-5.
Xem lại việc quản lý CP diện cảnh báo
Theo quy định của HOSE, CP chỉ bị kiểm soát khi tổ chức niêm yết không đáp ứng điều kiện niêm yết trên sàn, như: có kết quả kinh doanh lỗ, có nợ quá hạn trên 1 năm, đang tạm ngừng sản xuất kinh doanh, không đáp ứng được số lượng cổ đông công chúng, tổ chức niêm yết vi phạm về công bố thông tin, CK không có giao dịch trong vòng 90 ngày.
Nếu đối chiếu với các quy định này, DVD bị HOSE đưa vào diện kiểm soát là hoàn toàn hợp lý. Nay, việc HOSE đưa những mã CP trên vào diện kiểm soát vẫn tạo ra kẽ hở cho các DN này tiếp tục có những vi phạm nghiêm trọng hơn như đã xảy ra với DVD.
Quay lại với trường hợp DVD, dù bị đưa vào diện kiểm soát nhưng vẫn có một lượng lớn CP DVD được giao dịch bình thường ở 15 phút cuối cùng của phiên giao dịch.
Theo thống kê, trong khoảng thời gian từ ngày 10-5 (thời điểm ANZ chính thức đệ đơn) đến khi thông tin được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, DVD có tổng cộng 79 phiên giao dịch với khoảng 3,76 triệu CP được chuyển nhượng, đạt tổng giá trị lên đến 24,27 tỷ đồng. Bình quân có khoảng 48.000 CP DVD được chuyển nhượng mỗi phiên. Đây là con số rất lớn nếu so với những CP vẫn đang giao dịch bình thường hiện nay.
Do vậy biện pháp khác là thay đổi cách đưa CP vào diện cảnh báo. Thực tế, rất ít NĐT chú ý đến sự kiện CP bị đưa vào diện cảnh báo vì CP được gắn 2 ký tự này vẫn được giao dịch không khác gì những mã CP bình thường. Theo các chuyên gia, cơ quan chức năng nên xem xét lại vấn đề này.
Đã là cảnh báo thì nên có biện pháp riêng cho cảnh báo. Chẳng hạn, có thể nhóm các CP cùng bị cảnh báo sang bảng giao dịch riêng. Thậm chí, có thể quy định kỹ hơn về các trường hợp rút ngắn thời gian giao dịch đối với những mã cảnh báo.
Nếu cảnh báo do làm ăn thua lỗ, có thể vẫn cho giao dịch bình thường trong diện bị cảnh báo. Khi công ty niêm yết rơi vào tình trạng chờ công bố thông tin bất thường cũng nên rút ngắn thời gian giao dịch như CP nằm trong diện kiểm soát. Nghiêm trọng hơn thì tạm ngừng giao dịch lập tức.
Theo Hải Hồ - Kim GiangSài gòn đầu tư tài chính
-
13-09-2011 12:02 AM #3404
Titan Member
- Ngày tham gia
- Feb 2010
- Bài viết
- 1,471
- Được cám ơn 307 lần trong 243 bài gởi
Tây giảm ta mai tăng. Các bác ôm chắc cổ phiếu đừng có ai chốt lời. Thank very much.
Thứ Hai, 12/09/2011
Chứng khoán toàn cầu sẽ tiếp tục giảm mạnh do khủng hoảng nợ
(Vietstock) - Theo CNBC, một số nhà phân tích và nhà đầu tư dự báo đà bán tháo trên các thị trường chứng khoán toàn cầu sẽ còn tiếp tục do thiếu các giải pháp chính sách rõ ràng từ châu Âu.
* Thủ tướng Hy Lạp bác tin đồn vỡ nợ và rút khỏi Eurozone
-
13-09-2011 12:48 AM #3405
Titan Member
- Ngày tham gia
- Feb 2010
- Bài viết
- 1,471
- Được cám ơn 307 lần trong 243 bài gởi
Thứ Hai, 12/09/2011
Lạm phát do đâu?
Câu hỏi này được đặt ra chủ yếu cho thời kỳ gần đây, đặc biệt là một năm qua. Tuy nhiên, lạm phát có những nguyên nhân chung, có nguyên nhân sâu xa, tiềm ẩn từ thời gian trước và do có độ trễ của chính sách, nên cần xem xét diễn biến trong thời gian dài.
Diễn biến lạm phát
Trong 36 năm qua (tính từ năm 1976), lạm phát tại Việt Nam chỉ có 1 năm giảm (2000), 12 năm tăng 1 chữ số, 20 năm tăng 2 chữ số, 3 năm tăng 3 chữ số.
Thời kỳ 1976-1985, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng rất cao. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế tăng trưởng chậm, có năm bị giảm, làm mất cân đối cung cầu (thiếu cung), tiền nhiều hơn hàng.
Thời kỳ 1986-1991, lạm phát phi mã, trong đó 1986-1988 tăng tới 402,1%/năm. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế bị khủng hoảng, tăng trưởng thấp, làm cho thị trường bị thiếu cung, tiền nhiều hơn hàng. Có một nguyên nhân quan trọng là việc thực hiện lộ trình giá thị trường đối với hầu hết những mặt hàng bao cấp hiện vật bằng tem phiếu định lượng trong thời kỳ trước, tạo ra mặt bằng giá chung mới cao hơn nhiều.
Thời kỳ 1992-1995, lạm phát còn cao, nhưng đã thấp hơn nhiều so với các thời kỳ trước. Nguyên nhân chủ yếu do cung đã tăng (tăng trưởng kinh tế 1991-1995 đạt 8,2%/năm, đặc biệt lương thực vượt nhu cầu trong nước, đã có xuất khẩu với khối lượng lớn; Chính phủ đưa ra phương châm: đối với ngân sách thì thu lấy mà chi; đối với ngân hàng thì vay lấy mà cho vay-có nghĩa là Nhà nước không phát hành tiền cho bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt.
Thời kỳ 1996-2003 được coi là thiểu phát, khi CPI tăng rất thấp (mặc dù năm 1998 tăng cao 9,2% do tác động của khủng hoảng khu vực, với tỷ giá năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6% và giá lương thực tăng 23,1%, giá thực phẩm tăng 8,6%. Nhưng nhìn chung cả thời kỳ này đã có 3 năm, trong đó có 1 năm giảm, 2 năm tăng thấp; giá lương thực, thực phẩm giảm hoặc tăng thấp.
Thời kỳ từ 2004 đến nay là thời kỳ lạm phát cao trở lại, gần như lặp đi lặp lại, cứ 2 năm tăng cao mới có 1 năm tăng thấp hơn.
Năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005 tăng 8,4%, thì năm 2006 tăng 6,6%. Năm 2007 tăng 12,63%, năm 2008 tăng 19,89%, thì năm 2009 tăng 6,52%.
Năm 2010 tăng 11,75%, năm 2011 sau 8 tháng đã tăng 15,68% (nếu tính theo năm thì tháng 8/2011 so với cùng kỳ năm trước đã tăng tới 23,02%). Dự báo cả năm phải phấn đấu tích cực mới ở mức 18% (nếu theo “quy luật” trong mấy năm qua thì khả năng năm 2012 sẽ tăng thấp hơn và từ đó có thể nhận thấy việc Chính phủ đưa ra chỉ tiêu dưới 10% của năm 2012 là có tính khả thi).
Nguyên nhân
Lạm phát về thực chất là sự mất giá của đồng tiền so với hàng hóa, dịch vụ, với nguyên nhân tổng quát là mất cân đối giữa tổng cung và tổng cầu, mà biểu hiện của nó là mất cân đối tiền-hàng: tổng cung cao hơn tổng cầu, tiền nhiều hơn hàng thì lạm phát (còn tổng cung ít hơn tổng cầu, tiền ít hơn hàng thì thiểu phát).
Nguyên nhân chủ yếu của lạm phát bao gồm những yếu tố tác động đến hai vế của quan hệ cân đối này, tức là các yếu tố tác động đến tổng cung, đến hàng và các yếu tố tác động đến tổng cầu, đến tiền.
Xét theo các mặt này, thì các nguyên nhân của lạm phát thời gian qua bao gồm các yếu tố sau.
1. Xét tổng quát là sản xuất trong nước chưa đủ cho đầu tư và tiêu dùng cuối cùng, hay đầu tư và tiêu dùng vượt qua sản xuất lên đến trên dưới 10% hàng năm, phải nhập siêu, phải vay nợ từ nước ngoài để bù đắp.
Khi tổng cầu vượt quá tổng cung thì Việt Nam không chỉ ở vị thế nhập siêu, mà còn rất dễ rơi vào lạm phát cao, nếu có sự bất ổn ở bên ngoài (khủng hoảng, lạm phát...) và có trục trặc ở bên trong (thiên tai, dịch bệnh, bất ổn vĩ mô...).
Vốn đầu tư/GDP gia tăng từ 34,9% trong thời kỳ 1996-2000 lên 39,1% trong thời kỳ 2001-2005 và lên 43,5% trong thời kỳ 2006-2010. Tiêu dùng cuối cùng/GDP của Việt Nam đã tăng tương ứng từ 71,1% thời kỳ 2001-2005 lên 72,2% thời kỳ 2006-2010.
Đây là tỷ lệ cao so với một số nước (năm 2009 của Việt Nam là 72,8%, trong khi của Brunei là 47%, Trung Quốc 48,7%, Singapore 52,4%, Malaysia 64%, Indonesia 68,2%, Thái Lan 68,3%, Ấn Độ 69,6%, Hàn Quốc 70,3%...).
Tiêu dùng cuối cùng/GDP của Việt Nam cao và tăng lên, có một phần do quy mô GDP bình quân đầu người thấp, có một phần do tiêu dùng có xu hướng tăng lên; nhưng có một phần do đã xuất hiện tình trạng “ăn chơi sớm” và chuộng hàng ngoại của một bộ phận dân cư.
Do đầu tư và tiêu dùng cuối cùng vượt xa so với GDP, nên nhập siêu tăng lên qua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 mới gần 9,4 tỷ USD, đã tăng lên trên 19,1 tỷ USD thời kỳ 2001-2005 và tăng lên gần 62,8 tỷ USD thời kỳ 2006-2010).
Trong tình trạng thiếu hụt nguồn cung, phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó đáng lưu ý có các mặt hàng mà một nước đi lên từ nông nghiệp phải nhập khẩu lớn như thủy sản, sữa và sản phẩm sữa, rau quả, ngô, dầu mỡ động thực vật, thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu, cao su, gỗ và nguyên phụ liệu, đường, thịt; mà một nước có bờ biển dài nhưng phải nhập muối; một nước có tỷ lệ xuất khẩu/GDP cao, nhưng do tính gia công, lắp ráp cao mà nhập khẩu nguyên phụ liệu lớn, như nguyên phụ liệu dệt may, giày dép, chất dẻo nguyên liệu, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; một số loại hàng tiêu dùng có kim ngạch lớn, như điện thoại các loại và linh kiện, ô tô nguyên chiếc, xe máy nguyên chiếc, hóa mỹ phẩm... lên đến mấy tỷ USD.
2. Nguyên nhân tiềm ẩn, sâu xa của lạm phát là hiệu quả đầu tư và năng suất lao động thấp. Hiệu quả đầu tư thấp thể hiện ở hệ số ICOR cao và tăng lên qua các thời kỳ (thời kỳ 1996-2000 là 5 lần, thời kỳ 2001-2005 lên 5,2 lần, thời kỳ 2006-2010 lên 6,2 lần, cao gấp đôi nhiều nước trong khu vực).
Tỷ trọng đầu tư công trong tổng đầu tư của Việt Nam từ năm 2003 trở về trước ở mức trên dưới 57%, từ 2004 đã giảm xuống nhưng vẫn ở mức trên dưới 40%, trong khi ICOR của khu vực này cao gấp rưỡi hệ số chung của cả nước.
Năng suất lao động xã hội của Việt Nam năm 2010 đạt 40,3 triệu đồng/người, chỉ tương đương với 2.067 USD, thấp xa so với các con số tương ứng của một số nước (năm 2008 của Nhật Bản 73.824 USD, Brunei 72.500 USD, Singapore 62.724 USD, Hàn Quốc 38.235 USD, Malaysia 17.718 USD, Thái Lan 6.915 USD, Trung Quốc 5.460 USD, Indonesia 4.597 USD, Philippines 4.535 USD, Ấn Độ 2.706 USD...).
3. Tổng thu ngân sách/GDP của Việt Nam thuộc loại khá cao (mấy năm nay đạt trên dưới 28%), nhưng thu từ dầu thô, từ hải quan, thu từ đất đai là những khoản không trực tiếp phản ánh hiệu quả kinh tế và có xu hướng giảm (thu từ dầu thô năm 2005 chiếm 29,2%, 6 tháng đầu năm 2011 chiếm 13,9%; thu từ hải quan, tương ứng chiếm 16,7% và 22,5%; thu từ đất đai chiếm khoảng 6-7%).
Bội chi ngân sách/GDP từ năm 2006 trở về trước ở mức thấp, nhưng từ năm 2007 đến nay ở mức cao, tuy đã có xu hướng giảm xuống trong vài năm nay, nhưng vẫn thuộc loại cao. Trong tổng chi ngân sách, tỷ trọng chi cho đầu tư, chi cho lĩnh vực xã hội là cần thiết, nhưng thuộc loại cao, nhất là chi cho đầu tư công-thể hiện Nhà nước còn “ôm” nhiều quá mà cần khuyến khích các nguồn lực xã hội.
4. Tiền tệ là nguyên nhân trực tiếp và bộc lộ ra cuối cùng của lạm phát. Tốc độ tăng dư nợ tín dụng cao gấp nhiều lần tốc độ tăng GDP.
Năm 2010 so với năm 2000, tín dụng cao gấp trên 13,7 lần, trong khi GDP chỉ gấp trên 2 lần; hệ số giữa tốc độ tăng của tín dụng và của GDP lên đến trên 6,2 lần-một hệ số rất cao. Do vậy, dư nợ tín dụng/GDP đã ở mức khoảng 125%, cao gấp đôi con số tương ứng của nhiều nước. Cùng với tăng trưởng tín dụng là tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán, mà tổng phương tiện thanh toán của Việt Nam không chỉ là tiền đồng mà còn có vàng, có ngoại tệ.
5. Tình trạng vàng hóa và Đô la hóa khá cao, tác động tiêu cực đối với lạm phát trên 4 mặt.
- Hút vào đây một lượng vốn lớn của xã hội mà không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm để cân đối với tiền.
- Vàng và USD trở thành phương tiện thanh toán, làm cho tổng phương tiện thanh toán tăng lên.
- Giá vàng trong nước biến động, nhiều lần cao hơn giá vàng thế giới, tác động tới nhập lậu, kéo tỷ giá biến động theo. Khi giá vàng và tỷ giá tăng cao lại tác động đến tâm lý, đến lòng tin vào đồng nội tệ...
- Tỷ giá tăng tuy khuyến khích xuất khẩu, nhưng lại làm khuyếch đại lạm phát ở trong nước và đây là yếu tố lạm cho lạm phát của Việt Nam cao hơn lạm phát của thế giới; làm tăng nợ quốc gia khi tính bằng VND.
6. Việc thực hiện lộ trình giá thị trường khi chuyển sang kinh tế thị trường là tất yếu, đúng hướng, là một nội dung quan trọng của đường lối đổi mới. Tuy nhiên, kết quả của việc thực hiện lộ trình này nếu thực hiện dồn dập cùng một lúc sẽ tạo ra mặt bằng giá mới cao hơn, như đã từng xảy ra trong thời kỳ lạm phát phi mã, hay vào tháng 2-3 vừa qua.
7. Giá cả thế giới tăng là một trong những yếu tố quan trọng tác động đối với lạm phát ở trong nước xét trên các góc độ khác nhau.
- Tỷ lệ xuất, nhập khẩu/GDP của Việt Nam đã tăng nhanh và hiện ở mức khá cao (năm 1992 đạt 51,6%, năm 1995 đạt 65,4%, năm 2000 đạt 96,5%, năm 2005 đạt 130,8%, năm 2010 đạt 154,4%, khả năng năm 2011 sẽ còn cao hơn)-tức là có độ mở khá cao, đứng thứ 5 thế giới-nên biến động giá cả trên thế giới sẽ tác động nhiều đến biến động giá ở Việt Nam hơn các nước khác.
- Giá thế giới tăng sẽ làm cho chi phí đẩy ở trong nước tính bằng VND tăng kép: vừa tăng do đơn giá tính bằng USD tăng, vừa tăng do tính bằng VND tăng.
8. Ngoài ra, cũng cần tính đến sự chuyển động của dòng tiền giữa các kênh đầu tư. Từ quý II/2007, thị trường chứng khoán sau khi lên đỉnh đã đao xuống mạnh, làm cho một lượng tiền lớn từ kênh này chuyển sang làm cho giá bất động sản bốc lên và giá tiêu dùng tăng cao vào cuối năm 2007, đạt đỉnh điểm vào năm 2008.
Giá vàng, giá bất động sản tăng cao vào năm 2009, đầu năm 2010 cũng đã hút một lượng tiền lớn vào đây, nên CPI cũng tăng chậm lại. Từ cuối 2010, chứng khoán và bất động sản đều giảm, góp phần làm cho sức ép tăng giá tiêu dùng cao lên. Sự chuyển động của dòng tiền giữa các kênh cũng góp phần tạo lên sự cộng hưởng và chia sẻ dòng tiền với thị trường tiêu dùng.
Như vậy, lạm phát ở Việt Nam do nhiều yếu tố. Các giải pháp kiềm chế lạm phát cần tác động vào các yếu tố đó.
Đại gia bất động sản “oằn mình” chịu đựng nợ vay – Bài 2
(Vietstock) – Đánh giá áp lực trả nợ vay của các công ty xây dựng, bất động sản MCG, VCG, KDH, QCG và HQC.
* Đại gia bất động sản “oằn mình” chịu đựng nợ vay – Bài 1
CTCP Cơ điện và Xây dựng Việt Nam (HOSE: MCG): Tổng nợ vay của MCG tính đến cuối tháng 6 năm 2011 là 829 tỷ đồng, trong đó gồm 597 tỷ đồng vay ngắn hạn và 232 tỷ đồng vay dài hạn.
Áp lực trả lãi vay của MCG không phải là ít khi trong 6 tháng đầu năm EBIT chỉ đạt hơn 53 tỷ đồng, trong khi chi phí lãi vay trong kỳ là hơn 38 tỷ đồng, khiến hệ số trả lãi vay đang ở mức 1.39 lần.
Áp lực trả nợ gốc đối với các khoản vay ngắn hạn của MCG trong năm nay đã giảm bớt ít nhiều, khi 594 tỷ đồng vay đầu năm đã được “thay máu” bằng hơn 552 tỷ đồng vay mới trong kỳ. Tuy vậy, gánh nặng lãi vay của MCG tiếp tục không hề nhỏ trong thời gian tới.
Đang chú ý là trong khoản vay dài hạn 232 tỷ đồng có 50.9 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi. 50.9 tỷ đồng trái phiếu này sẽ được chuyển đổi dần sang cổ phiếu với tỷ lệ 1 trái phiếu mệnh giá 100,000 đồng được chuyển đổi thành 10 cổ phiếu phổ thông như cam kết khi phát hành 80 tỷ đồng trái phiếu vào cuối năm 2009. Lãi suất trái phiếu là 12%/năm, thời gian chuyển đổi: 20% sau 12 tháng, 30% sau 24 tháng và 50% sau 36 tháng.
Tổng CTCP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (HNX: VCG): Kết thúc 6 tháng đầu năm 2011, tổng nợ vay của VCG là 12,876 tỷ đồng, trong đó nợ vay ngắn hạn là 7,571 tỷ đồng và dài hạn là 5,304 tỷ đồng. Tổng số nợ của VCG đã giảm bớt 605 tỷ đồng so với đầu kỳ.
Khoản vay ngắn hạn của VCG gồm 3,439 tỷ đồng vay ngân hàng, cá nhân, vay ngắn hạn khác và 4,132 tỷ đồng vay dài hạn đến hạn phải trả.
Khoản vay dài hạn gồm 3,304 tỷ đồng vay ngân hàng bằng VND, USD, EUR, JPY và 2,000 tỷ đồng trái phiếu.
Đối với các khoản vay dài hạn của ngân hàng bằng đồng nội tệ, tài sản thế chấp của VCG là quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất, bên cạnh đó còn có bất động sản của Nhà máy Xi măng Cẩm Phả và Trạm nghiền Xi măng Cẩm Phả. Cần chú ý là VCG đang tiến hành chuyển nhượng 51% cổ phần tại Nhà máy Xi măng Cẩm Phả cho Tổng Công ty Xi măng Việt Nam (Vicem).
Các khoản vay bằng ngoại tệ đều được Chính phủ thông qua Bộ Tài chính bảo lãnh.
Cơ cấu nguồn vốn của VCG hiện khá rủi ro khi các tỷ lệ nợ phải trả/ vốn chủ sở hữu (4.81 lần) và nợ vay trên vốn chủ sở hữu (2.55 lần), cao nhất trong ngành.
Bên cạnh đó, khoản nợ vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nợ vay sẽ tạo áp lực lớn cho VCG về dòng tiền khi các khoản nợ vay này đáo hạn.
VCG cũng đang có một số khoản nợ tiềm tàng do phải nộp tiền cho giá trị quyền sử dụng đất của một số mảnh đất hiện có.
Sẽ không có gì ngạc nhiên khi VCG đang “khao khát” muốn tăng vốn điều lệ thành công từ 3,000 tỷ đồng lên 5,000 tỷ đồng (được VCG lên kế hoạch thực hiện trong suốt mấy năm nay), hay VCG thông báo bán bớt tài sản, cổ phiếu và trì hoãn một số dự án đầu tư…
CTCP Đầu tư và Kinh doanh Nhà Khang Điền (HOSE: KDH): Cuối tháng 6/2011, tổng số nợ của KDH là 848 tỷ đồng, tăng gần 102 tỷ đồng so với đầu kỳ; trong đó bao gồm 195 tỷ đồng vay ngắn hạn và 653 tỷ đồng vay dài hạn.
Trong 195 tỷ đồng vay ngắn hạn có gần 20 tỷ đồng sẽ đáo hạn vào ngày 31/08/2011 và 90 tỷ đồng trái phiếu đáo hạn vào ngày 13/09/2011. Ngoài ra còn 70 tỷ đồng vay dài hạn đến hạn phải trả và 15 tỷ đồng vay trong quý 2/2011 với lãi suất khá cao 24.8 - 25%/năm.
Các khoản vay dài hạn của KDH được thế chấp bằng quyền sử dụng đất, cổ phần tại một số công ty đang sở hữu.
Khả năng trả lãi vay hiện tại của KDH là khá tốt 2.24 lần; tuy nhiên cần chú ý KDH vẫn còn khoản “chi phí lãi vay vốn hóa” với giá trị 51 tỷ đồng.
CTCP Quốc Cường Gia Lai (HOSE: QCG): Tổng nợ của QCG vào cuối tháng 6/2011 là 1,083.8 tỷ đồng, tăng thêm hơn 135 tỷ đồng so với đầu năm.
Tổng nợ vay ngắn hạn của QCG là hơn 132 tỷ đồng. Lãi suất các khoản nợ vay này khoảng 12% - 17%, tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất của công ty, và một số tài sản của bà Nguyễn Thị Như Loan. Sẽ có khoảng 51 tỷ đồng nợ vay đáo hạn từ trong 6 tháng cuối năm. Đáng chú ý là khoản vay 50 tỷ đồng với thời gian đáo hạn là tháng 4/2011, nhưng tới thời điểm cuối tháng 6/2011 vẫn còn tồn tại trên bảng cân đối kế toán.
Cơ cấu nợ của QCG có sự dịch chuyển từ nợ vay ngắn hạng sang dài hạn. Khoản vay dài hạn 986 tỷ đồng gồm 756 tỷ đồng vay ngân hàng, 195 tỷ đồng trái phiếu chuyển đổi và nợ khác 35 tỷ đồng.
Lãi suất các khoản vay ngân hàng dao động khá lớn từ 6.9% - 25.5%/ năm. 195 tỷ đồng trái phiếu gồm 136.5 tỷ đồng phát hành trong năm 2010 và 58.5 tỷ đồng trong năm 2011, kỳ hạn trái phiếu là 2 năm. Cần chú ý đó là 195 tỷ đồng trái phiếu mà trái chủ có quyền lựa chọn chuyển đổi hay không chuyển đổi. Nếu chuyển đổi thì lãi suất trái phiếu sẽ bằng 0% và giá chuyển đổi sẽ là 31,500/cp, còn ngược lại lãi suất sẽ là 15% và được thanh toán 1 lần khi đáo hạn. Giá cổ phiếu QCG ngày 09/09/2011 là 23,000 đồng/cp; vì vậy khả năng trái chủ không chuyển đổi là rất cao.
Tổng nợ vay phải trả trong kỳ của QCG là 78.5 tỷ đồng, trong đó chi phí lãi vay là 38.6 tỷ và “chi phí vay vốn hóa” là 39.9 tỷ đồng. Cũng cần để ý là số lãi vay này chưa bao gồm lãi vay trái phiếu nếu trái chủ không thực hiện chuyển đổi.
Trong kỳ, QCG đã phát sinh khoản lợi nhuận khác lên tới 72 tỷ đồng chủ yếu do việc đánh giá lại giá trị đất góp vốn. Như vậy, nếu loại bỏ bớt 72 tỷ lợi nhuận bất thường này ra khỏi EBIT thì hệ số nợ vay của QCG chỉ còn 1.27 lần và như vậy trên thực tế, QCG cũng đang “trầy trật” với gánh nặng lãi vay.
CTCP Tư Vấn Thương mại Dịch vụ Địa ốc Hoàng Quân (HOSE: HQC): Tính đến cuối tháng 6/2011, tổng nợ vay của HQC là 650 tỷ đồng gồm 237 tỷ đồng vay ngắn hạn và 413 tỷ đồng vay dài hạn.
Khoản vay ngắn hạn tại thời điểm 30/06 tiếp tục tăng mạnh so với mức 180 tỷ đồng vào cuối năm 2010. Khoản vay ngắn hạn gồm vay ngân hàng 152 tỷ đồng, vay cá nhân 25 tỷ đồng và nợ dài hạn đến hạn phải trả 60 tỷ đồng.
Nợ vay dài hạn đến cuối tháng 6/2011 chủ yếu gồm 89 tỷ đồng từ ngân hàng SeABank TPHCM và 323.5 tỷ đồng từ BIDV Vĩnh Long. Số dư các khoản vay dài hạn cuối năm 2010 chỉ là 90 tỷ đồng.
BCTC hợp nhất 6 tháng đầu năm (chưa soát xét) không cung cấp chi tiết về các khoản vay này.
Dựa vào báo cáo kiểm toán năm 2010 thì các khoản vay ngắn hạn của HQC được thế chấp bằng quyền sử dụng đất ở một số dự án và các hợp đồng mua nhà và chung cư.
Các khoản vay dài hạn được thế chấp bằng quyền sử dụng đất ở dự án và khu công nghiệp; ngoài ra còn có quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của các cá nhân là thành viên trong Hội đồng Quản trị.
Hệ số trả lãi vay của HQC trong 6 tháng đầu năm 2011 khá cao, ở mức 3.25 lần. Tuy nhiên, BCTC quý 2 cho thấy hoạt động kinh doanh chính của HSC đang gặp nhiều khó khăn khi lợi nhuận chủ yếu dựa vào doanh thu tài chính 47.6 tỷ đồng (lãi vay, đầu tư chứng khoán…) và dòng tiền được tài trợ chủ yếu từ các khoản vay tăng thêm trong kỳ.
Dòng tiền 6 tháng đầu năm từ hoạt động kinh doanh và đầu tư tiếp tục âm, trong khi dòng tiền tài chính dương 6.6 tỷ đồng chủ yếu nhờ dòng tiền từ khoản đi vay mới tăng thêm gần 10 tỷ đồng.
Tổng cộng Tiền mặt và Đầu tư ngắn hạn tại cuối quý 2/2011 vào khoảng 26 tỷ đồng, là rất thấp so với quy mô các khoản nợ của HQC. Trong khi đó, các khoản phải thu của HQC là rất lớn (trên 2,000 tỷ đồng), đặc biệt là khoản phải thu khác lên tới 1,172 tỷ đồng (chủ yếu là cho cá nhân và các tổ chức mượn, theo thuyết minh BCTC năm 2010) và mục đích sử dụng, khả năng thu hồi là dấu hỏi lớn. Tài sản của HQC cũng bị ứ đọng rất lớn tại khoản Hàng tồn kho lên đến 742 tỷ đồng vào cuối quý 2.
Có thể thấy khả năng thanh toán của HQC đã có dấu hiệu khó khăn trong thời gian gần đây. Nếu tình trạng này tiếp tục thì khả năng trả nợ lãi vay và nợ gốc ngân hàng của HQC là vấn đề cần được quan tâm.
Cần để ý rằng tổng nợ phải trả hiện nay của HQC đã gấp 2.57 lần so với vốn chủ sở hữu.
-
13-09-2011 12:50 AM #3406
Titan Member
- Ngày tham gia
- Feb 2010
- Bài viết
- 1,471
- Được cám ơn 307 lần trong 243 bài gởi
Các bác cảnh giác kẻo lại vừa mất tiền vừa mất cổ phiếu khi cty CK phá sản:
CTCK SME mất thanh khoản?
12/09/2011 16:16:14
[IMG]http://******************.vn/images/tintuc/20110912161800CK_SME_2.jpg[/IMG]
Mới đây, một số NĐT VIP đã tiết lộ về tình trạng mất thanh khoản tại chi nhánh TP. HCM của CTCK SME (SME).
Cuối năm 2009, hàng loạt CTCK đã vi phạm quy định về thanh toán bù trừ. Xu hướng này đang có dấu hiệu lặp lại và trở nên nghiêm trọng hơn trong thời gian gần đây.
Hồi tháng 5/2011, TTCK đã một phen rúng động khi cựu Chủ tịch HĐQT CTCK Hà Thành (HASC) bỏ trốn và để lại khoản thâm hụt gần 100 tỷ đồng cho công ty.
Mới đây, một số NĐT VIP đã tiết lộ cho ĐTTC về tình trạng mất thanh khoản tại chi nhánh TP. HCM của CTCK SME (SME). Cách đây 2 tuần, 2 tài khoản số 109xx9 và 109xx0 có tổng số dư tiền mặt 1,3 tỷ đồng và giá trị CP vào khoảng 3,7 tỷ đồng. Khi chủ của 2 tài khoản yêu cầu SME cho rút 300 triệu đồng nhưng không được CTCK đáp ứng vì… không có tiền.
Còn vì sao không có tiền thì lại có rất nhiều lý do khác nhau. CTCK hẹn hôm sau lại rút tiền, nhưng khi các NĐT quay trở lại thì tình hình cũng không có gì cải thiện: nhân viên môi giới không có mặt, liên lạc với các cấp cao hơn như kế toán trưởng, giám đốc chi nhánh cũng không được.
Cuối cùng, các NĐT VIP này phải sử dụng phương án mua vào CP cho hết 1,3 tỷ đồng và chờ đến ngày T+3 khi CP về tài khoản để chuyển sang CTCK khác. Các NĐT này cho biết, một số CP sau khi mua vào đã thiệt hại đáng kể do giảm giá, nhưng dù sao vẫn còn may vì còn rút được tiền về.
Đến đây, nhiều người sẽ thắc mắc, nếu CTCK không có tiền để NĐT rút thì tại sao CTCK lại có tiền để thanh toán khi NĐT mua CP? Có rất nhiều lý do: Thứ nhất, CTCK có tiền xoay vòng, có NĐT mua, cũng sẽ có NĐT bán khi thanh toán bù trừ, lấy tổng bán trừ đi tổng mua, nếu thiếu mới bù thêm tiền.
Bên cạnh đó, khi NĐT mua CP sau 2 ngày CTCK mới phải thanh toán nên trong thời gian này CTCK có thể chạy vạy khắp nơi để vay mượn, thậm chí vay nóng bên ngoài. Đó cũng chính là nguyên nhân NĐT chỉ rút có vài trăm triệu vào buổi sáng, nhưng CTCK phải hẹn đến buổi chiều đến lấy để tìm ngân hàng cho vay.
Việc khách hàng không thể rút tiền đặt ra giả thiết về việc CTCK đã lạm dụng tiền của NĐT. Cụ thể là tự doanh thua lỗ, thậm chí lãnh đạo CTCK cũng có thể trục lợi bằng cách rút tiền ra bên ngoài. Một trong những cách “kinh điển” nhất là sử dụng một tài khoản nào đó, sau đó làm hợp đồng ghi khống tài khoản này bán ra một lượng CP nhất định, rồi đề nghị ngân hàng cho vay để ứng trước tiền bán.
Vì NĐT khi không giao dịch thường xuyên tại CTCK, cũng không đóng tài khoản, nên những tài khoản này có nguy cơ trở thành mục tiêu để CTCK thực hiện việc bán ảo, vay tiền ứng trước.
Trở lại câu chuyện SME, đến cuối năm 2010, các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác của công ty có giá trị hơn 310 tỷ đồng, nhưng trong thuyết minh lại không ghi cụ thể. Sang cuối quý II/2011, khoản mục này lại tăng thêm 300 tỷ đồng thành 610 tỷ đồng và cũng không thấy nói rõ.
Điều đáng nói là khoản phải trả, phải nộp khác của SME đều lớn hơn đáng kể so với vốn điều lệ của SME là 225 tỷ đồng. Cũng trong BCTC quý II/2011 của SME, khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền đạt hơn 100 tỷ đồng.
Khó khăn nhưng từ cuối tháng 8 đến nay giá CP của SME lại liên tục tăng mạnh, từ khoảng 3.300 đồng/CP đã tăng lên 4.700 đồng/CP, đồng thời KLGD cũng tăng lên. Liệu những NĐT giao dịch CP này có biết mình đang phải ôm “bom nổ chậm”, hay SME đã tìm ra những giải pháp cho riêng mình?
SME hụt vốn tạm thời!
Trao đổi với ĐTTC xung quanh việc SME có mất thanh khoản hay không, bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng, , Phó giám đốc Chi nhánh SME tại TPHCM, cho biết:
Đúng là trong thời gian 1-2 tháng vừa qua SME có gặp khó khăn về tài chính, dẫn đến việc không có ngay tiền mặt để đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng. Nhưng chúng tôi đã thỏa thuận với khách hàng và mọi người đã rút được tiền.
Không chỉ riêng SME, thời gian qua cũng có những CTCK rơi vào tình trạng giống chúng tôi. Nguyên nhân là trước tháng 6/2011, để cạnh tranh với các CTCK khác, SME có huy động vốn từ các ngân hàng để cấp margin cho khách hàng nhưng hơi quá đà. Nhiều lúc SME cho khách hàng vay với tỷ lệ nhiều hơn 50:50, tức có khi 3:7 hoặc 2:8, do cảm thấy độ tin cậy của khách nên cho vay nhiều.
Khi ngân hàng đồng loạt thu tiền cộng với việc thanh khoản của TTCK tiếp tục giảm vào các tháng 7, 8 nên NĐT không thể bán ra được, SME không thu hồi được tiền cho vay. Trong khi đó ngân hàng tài trợ vốn phải thu về lập tức, dẫn đến sự mất cân đối. Chính vì vậy, có một thời gian SME hụt vốn tạm thời.
Cũng xin nói rõ khoản tiền chậm trả cho khách hàng, chúng tôi có thỏa thuận trả lãi suất từ 14-17%/năm bằng các hợp đồng vay cá nhân. Một số khách hàng không muốn vậy đã gửi đơn khiếu nại.
Một ngân hàng thương mại cỡ lớn mà tất cả khách hàng rút tiền cùng một lúc còn chịu không nổi, huống chi một CTCK có vốn điều lệ dưới 300 tỷ đồng như SME lại không có ngân hàng mẹ đứng sau. Hơn nữa, sự việc vỡ lở, nhưng chúng tôi dự đoán không chuẩn, số lượng rút nhiều hơn dự kiến.
Vậy tại sao có NĐT nói rằng họ rút không được tiền nhưng mua chứng khoán sau đó chuyển sang CTCK khác để bán lại được?
Bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng: Đó là sự lựa chọn của NĐT. Thực ra chúng tôi đã nói sẽ không để mất tiền của ai, cho dù khó khăn đến mấy.
Họ mua chứng khoán, chúng tôi vẫn có tiền trả trên trung tâm thanh toán bù trừ. Khách hàng của SME mua rồi chuyển chứng khoán sang CTCK khác thì chúng tôi mất khách hàng, có ai muốn mất khách hàng đâu.
Bà giải thích thế nào khi trên BCTC của SME khoản phải trả rất lớn, đến hơn 600 tỷ đồng?
Nói phải trả thì phải xem đến khoản phải thu nữa, thực ra đây là cách hạch toán thôi. Thời gian qua không riêng SME mà có rất nhiều CTCK thực hiện việc ký quỹ không hợp pháp, vì vậy phương pháp hạch toán cũng không thể đúng quy định.
Thực sự BCTC vẫn chưa kiểm toán, đến một lúc nào đó, các cơ quan chức năng sẽ phải yêu cầu chúng tôi thuyết minh chi tiết.
Hiện nay bà là người chịu trách nhiệm tại SME?
Không phải. Hiện SME đang bổ nhiệm mới, một người khác sẽ làm giám đốc chi nhánh. Do một số công việc không được trôi chảy, Công ty có đề nghị tôi giúp thêm một thời gian cho ổn định. Hiện nay, tôi được ủy quyền để ký một số giấy tờ.
Chúng tôi đã gửi lên các cơ quan quản lý những thông báo về giám đốc chi nhánh nhưng chưa thực hiện bàn giao.
Vậy còn ông Nguyễn Thanh Nam, Giám đốc Chi nhánh SME tại TP. HCM?
Anh Nam có thông báo cho tôi biết từ ngày 31/8 sẽ không đến Công ty, nhưng tôi chưa nhận được quyết định nên cũng không trả lời được.
Nghe nói một số cá nhân trong SME đã có những hành động trục lợi bất chính và các cơ quan đã vào cuộc?
Đúng là cơ quan điều tra đã vào cuộc, nhưng là xác minh từ một vụ kiện khác. Trong kinh doanh, bất cứ ai cũng gặp rủi ro về pháp lý.
Theo ĐTTC
-
13-09-2011 04:13 AM #3407
Silver Member
- Ngày tham gia
- Jan 2009
- Bài viết
- 935
- Được cám ơn 182 lần trong 132 bài gởi
Nửa đêm tỉnh giấc thấy lo
Ôm đầy bụng cổ giàu to chuyến này?Rứa là hết chiều ni em phi mãi
Còn mong chi ngày vùng đáy VNI ơi?
-
13-09-2011 09:19 AM #3408
Tháo cống toàn tập....hố hố
-
13-09-2011 10:18 AM #3409
-
13-09-2011 10:25 AM #3410
-
13-09-2011 10:25 AM #3411
Titan Member
- Ngày tham gia
- Feb 2010
- Bài viết
- 1,471
- Được cám ơn 307 lần trong 243 bài gởi
Hoan hô cổ phiếu Sông Đà
Sóng to gió lớn nhà nhà ấm no
.....khà khà.....
-
13-09-2011 10:54 AM #3412
Titan Member
- Ngày tham gia
- Feb 2010
- Bài viết
- 1,471
- Được cám ơn 307 lần trong 243 bài gởi
-
13-09-2011 11:05 AM #3413VN_BUFFET
Guest
-
13-09-2011 01:30 PM #3414
Junior Member
- Ngày tham gia
- Jan 2011
- Bài viết
- 59
- Được cám ơn 52 lần trong 16 bài gởi
TTCK VN từ bây h cho tới 2020 thì cứ gọi là họ cứng văn cửng , nhanh nhanh mà múc, xúc, húc đầu vào đi nào
vietstock thật lắm nhân tài môi giới CK
, người tung kẻ hứng kết hợp hài hòa
-
13-09-2011 03:33 PM #3415
-
13-09-2011 03:59 PM #3416
Silver Member
- Ngày tham gia
- Feb 2011
- Bài viết
- 913
- Được cám ơn 198 lần trong 123 bài gởi
-
13-09-2011 04:08 PM #3417
Silver Member
- Ngày tham gia
- May 2010
- Bài viết
- 843
- Được cám ơn 261 lần trong 202 bài gởi
Mấy cụ LĐ cỡ bự nhà ta cũng chịu khó PR tên tuổi gớm nhẩy:
http://nguyentandung.org/
http://nguyenphutrong.org/
http://truongtansang.org/
http://nguyensinhhung.com/
http://phungquangthanh.net/
-
13-09-2011 04:16 PM #3418
Silver Member
- Ngày tham gia
- May 2010
- Bài viết
- 843
- Được cám ơn 261 lần trong 202 bài gởi
Tập đoàn, tổng công ty: Chuyện lỗ, nợ xấu và chiếm dụng vốn
Những con số lỗ lớn tính từ đầu năm của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước có lẽ là đáng giật mình...
-
13-09-2011 04:41 PM #3419
Cash is King chưa biết hử. Lại thêm chú hít đất xúc phải đỉnh cứ ôm cổ mà .... khấn cho nó tăng...hố hố.
Dow Jones có thể rơi xuống 3.000 điểm vào năm 2013?
9/13/2011 4:09:04 PM
ATPvietnam-Trong cuốn sách "Sự sụp đổ phía trước" của Harry Dent, ông cho rằng, sự biến động gần đây trên thị trường chứng khoán toàn cầu mới chỉ là sự khởi đầu và chỉ số Dow Jones có thể xuống dưới 10.000 điểm trong thời gian tới trước khi rơi xuống mức 3.000 điểm trong năm 2013.

Harry Dent còn là người sáng lập và giám đốc điều hành của công ty nghiên cứu kinh tế HS Dent. Ông viết "Tôi nghĩ rằng sự sụp đổ của thị trường chứng khoán bắt đầu vào cuối tháng 4/2011 chỉ là làn sóng đầu tiên….điều kinh khủng sẽ thực sự bắt đầu vào đầu năm 2012".
Ông đã nhấn mạnh đến làn sóng bán tháo trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu trước đó, khi chỉ số Dow Jones đã mất 8.000 điểm trong khoảng thời gian từ tháng 10/2007 đến đầu năm 2009.
Nhận định xu hướng giảm của ông dựa trên dự đoán sẽ có những thay đổi trong thói quen chi tiêu của người tiêu dùng toàn cầu.
Ông cho biết "Sự bùng nổ dân số trên khắp thế giới và tất cả các quốc gia phát triển tại Châu Âu, Mỹ , Úc đã đạt đến đỉnh điểm của chu kỳ chi tiêu…những người này đã đẩy giá bất động sản, cổ phiếu và nền kinh tế trong nhiều thập kỷ. Vì vậy, bây giờ họ sẽ tiết kiệm và không vay thêm tiền nữa".
Vấn đề nghiêm trọng ở đây là việc sử dụng đòn bẩy tài chính quá lớn trong những khoản nợ cá nhân của Mỹ. Theo ông Dent, trong vòng 8 năm qua, các khoản nợ này đã tăng gấp 2 lần từ 20.000 tỷ USD lên 42.000 tỷ USD, tương đương gấp 3 lần so với tổng nợ công của chính phủ Mỹ.
Ông nói "Những khoản nợ đó sử dụng đòn bẩy quá lớn và nó đã thực sự gây ra xu hướng giảm phát. Lúc này, kích thước những gói kích cầu của chính phủ ném vào hệ thống kinh tế sẽ không còn ý nghĩa, vì thế hệ trẻ với gánh nợ quá lớn trên vai sẽ không muốn vay và tăng chi tiêu hơn nữa".
Trong cuộc đại khủng hoảng, giảm phát đã xảy ra trong bối cảnh suy thoái sâu vì tỷ lệ nợ dùng đòn bẩy quá lớn.
Theo ông Dent, chi tiêu bùng nổ trong nhiều năm đã dẫn tới những bong bóng bất động sản và tín dụng lớn chưa từng có trong lịch sử. Ông tin rằng những nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất sẽ là những nơi mà quả bóng này chưa vỡ như Canada, Trung Quốc hay Úc.
Ông nói thêm "Bong bóng sẽ quay trở lại nơi nó đã bắt đầu. Những nỗi đau sẽ đến nhiều hơn, đặc biệt đối với bất động sản". Giải pháp duy nhất cho cuộc khủng hoảng mà ông cung cấp là các nhà hoạch định chính sách phải can thiệp và xóa nợ một phần.
Tránh xa vàng, bạc và hãy mua USD
Trong bối cảnh khủng hoảng đó, trái ngược hẳn với các chuyên gia phân tích khuyến cáo, ông lại khuyên nhà đầu tư cần đặc biệt thận trọng với vàng, bạc.
Ông cho rằng, giá vàng cũng đang hình thành bong bóng và là nơi nguy hiểm nhất. Giá vàng đang có xu hướng biến động theo đồ thị hình parabol với đỉnh là khoảng 2.000 USD/oz.
Theo ông Dent, nơi trú ẩn tài sản an toàn trong thời khủng hoảng là đồng USD vì những chính sách để giải quyết khủng hoảng sẽ làm đồng USD khan hiếm hơn và khôi phục lại giá trị của mình.
Minh Anh (Theo CNBC)
Tin liên quan
- Khả năng vỡ nợ của Hy Lạp đã lên tới 98%(9/13/2011 4:40:26 AM)
- Nhìn lại nền kinh tế Mỹ sau 10 năm xảy ra vụ khủng bố 11/9(9/12/2011 5:02:03 AM)
-
13-09-2011 05:46 PM #3420
Silver Member
- Ngày tham gia
- Feb 2011
- Bài viết
- 913
- Được cám ơn 198 lần trong 123 bài gởi
Thông tin của chủ đề
Users Browsing this Thread
Có 1 thành viên đang xem chủ đề này. (0 thành viên và 1 khách vãng lai)










Bookmarks